Thượng Khả Hỷ
| Thượng Khả Hỷ | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Bình Nam vương | |||||
Chân dung Thượng Khả Hỷ do Johan Nieuhof vẽ vào năm 1655 | |||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 25 tháng 8, 1604 Liêu Đông, thời Minh | ||||
| Mất | 12 tháng 11, 1676 (72 tuổi) | ||||
| Hậu duệ | Thượng Chi Tín | ||||
| |||||
| Thân phụ | Thượng Học Lễ | ||||
Thượng Khả Hỷ (chữ Hán: 尚可喜; Shang Ko-hsi; 25 tháng 8 năm 1604 – 12 tháng 11 năm 1676), tự Nguyên Cát (元吉), hiệu Chấn Dương (震阳), là tướng lĩnh thời Minh mạt Thanh sơ và là một trong ba vị phiên vương người Hán đầu thời Thanh.[1]
Tiểu sử
Thân thế và binh nghiệp
Quê gốc của Thượng Khả Hỷ ở huyện Hồng Động, phủ Bình Dương, tỉnh Sơn Tây. Sau đó, gia đình ông chuyển đến huyện Hành Thủy, phủ Chân Định, tỉnh Trực Lệ. Năm Vạn Lịch thứ 4 (1576), ông nội Thượng Kế Quan đã đưa cả nhà đến sinh sống tại vệ Hải Châu, đô ty Liêu Đông.[a] Kể từ khi Liêu Dương thất thủ, gia đình ông gặp nạn. Ông đã tìm đến nương nhờ Tuần phủ Liêu Đông là Vương Hóa Trinh, được phong chức Thiên tổng, rồi theo tướng nhà Minh là Mao Văn Long thâm nhập hậu phương địch. Ông tham gia tập kích Trấn Giang và giành được Đại thắng Trấn Giang.
Sau khi Mao Văn Long trấn giữ Trấn Giang, Thượng Học Lễ đã nhiều lần theo ông tham chiến và lập công, được thăng tới chức Đô ty. Ngày 24 tháng 3 năm Thiên Khải thứ 4 (1624), trong lúc tuần tra ở Toàn Thành[b], Thượng Học Lễ đã chạm trán quân Hậu Kim, anh dũng chiến đấu và hy sinh. Anh cả của Thượng Khả Hỷ là Thượng Khả Tiến, sinh năm Vạn Lịch thứ 23 (1596), cũng là một danh tướng ở Liêu Đông, tử trận khi giao chiến với quân Hậu Kim vào năm Sùng Trinh thứ 6 (1633). Thượng Khả Hỷ vốn không ham học vấn nhưng lại giỏi cung kiếm, có trí dũng và am tường việc quân sự. Sau khi tòng quân, ông phục vụ dưới trướng Tổng binh Đông Giang Mao Văn Long, thăng đến chức Phó tướng ở đảo Quảng Lộc. Năm 1629, sau khi Viên Sùng Hoán chém Mao Văn Long, Tổng binh đảo Bì Thẩm Thế Khuê lên thay và tìm cách loại trừ những thuộc hạ cũ dưới quyền Mao Văn Long.
Đầu hàng nhà Hậu Kim
Năm Sùng Trinh thứ 7 (1634), Thẩm Thế Khuê lừa Thượng Khả Hỷ đến đảo Bì, âm mưu vu khống và hãm hại ông. Việc này bị thuộc hạ của Thượng Khả Hỷ là Hứa Nhĩ Hiển phát giác, khiến Thượng Khả Hỷ nảy sinh ý định quy hàng. Ông liền phái Hứa Nhĩ Hiển và Ban Chí Phú đến Thẩm Dương liên hệ với triều đình Hậu Kim. Khi nghe tin này, Hoàng Thái Cực vô cùng phấn khởi, hô lớn "Trời giúp ta!", và ban cho đội quân của Thượng Khả Hỷ danh hiệu Thiên Trợ Binh. Thượng Khả Hỷ cùng các tướng dưới quyền và binh lính, khí tài trên 5 hòn đảo đã đi thuyền về quy hàng. Hoàng Thái Cực đã ra khỏi thành 30 dặm để nghênh đón, ban thưởng vô số trân bảo, và trả lại 27 thành viên trong gia đình của Thượng Khả Hỷ còn sống sót.[c] Ngay sau đó, ông được phong chức quan Tổng binh.
Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), Hoàng Thái Cực đổi quốc hiệu thành Đại Thanh, phong Khổng Hữu Đức là Cung Thuận vương, Cảnh Trọng Minh là Hoài Thuận vương, và Thượng Khả Hỷ là Trí Thuận vương. Họ được biết đến là "Tam Thuận vương" vào đầu thời Thanh. Hải Châu được ban làm đất phong cho Thượng Khả Hỷ, nơi an trí gia quyến và thuộc hạ cũ của ông. Ông nhận được sự đối đãi vô cùng cao quý từ Hoàng Thái Cực. Trong trận Tùng Cẩm, Thượng Khả Hỷ đã lập công lớn khi tấn công Tùng Sơn, Hạnh Sơn và các nơi khác. Sau đó, ông cùng Đa Nhĩ Cổn chinh phạt Triều Tiên, buộc Quốc vương Triều Tiên là Lý Tông phải ký hòa ước đầu hàng.
Nhập quan diệt Nam Minh
Năm Thuận Trị nguyên niên (1644), Thượng Khả Hỷ theo Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn nhập quan. Năm Thuận Trị thứ 2 (1645), ông đi theo Dự thân vương Đa Đạc tiến xuống phía nam, dẫn quân đến Hồ Bắc, sau đó quay về Hải Châu. Năm Thuận Trị thứ 4 (1647), quân Thanh chiếm được Quảng Đông. Năm sau, Kim Thanh Hoàn và Vương Đắc Nhân ở Nam Xương nổi dậy chống Thanh. Lý Thành Đống, Đề đốc Quảng Đông của nhà Thanh, cũng hưởng ứng tại Quảng Châu, ba lần tiến đánh Cám Châu về phía bắc.
Năm Thuận Trị thứ 6 (1649), quân Thanh tái chiếm Nam Xương. Lý Thành Đống thua trận tại huyện Tín Phong, Cám Châu và ngã ngựa tử vong. Quảng Đông vẫn do Đỗ Vĩnh Hòa, Tổng đốc Nam Minh trấn giữ. Cùng năm đó ông được triều đình phong làm Bình Nam vương, ban kim ấn và kim sách. Ông cùng Tĩnh Nam vương Cảnh Trọng Minh đưa gia quyến và thuộc hạ cũ tiến vào Quảng Đông. Họ đi qua Hải Châu, Sơn Hải Quan, Thiên Tân, Đăng Châu, Vũ Xương, Nhạc Dương, Nam Thiều, Triệu Khánh, cuối cùng đến Quảng Châu. Khi đến Vũ Xương, do thuộc hạ vi phạm quân pháp, Cảnh Trọng Minh đã tự sát vì sợ tội. Con trai ông là Cảnh Kế Mậu lên thay, và hai đạo quân này đều chịu sự chỉ huy của Bình Nam vương.
Mùa xuân năm Thuận Trị thứ 7 (1650), quân Bình Nam và Tĩnh Nam tiến đến vây hãm thành Quảng Châu, cuộc vây thành kéo dài suốt 10 tháng. Từ cuối tháng 10 năm 1650, quân Thanh đã hoàn tất mọi công tác chuẩn bị. Thượng Khả Hỷ và Cảnh Kế Mậu ra lệnh tấn công tổng lực vào Quảng Châu. Các quan Tổng binh Liên Đắc Thành, Ban Chí Phú, Quách Hổ và Cao Tiến Khố dẫn đầu, chiếm được Tây Quan Quảng Châu. Đầu tháng 11, quân Thanh tập trung hỏa lực pháo kích vào bức tường thành phía tây bắc. Ngày hôm sau, đoạn tường thành này bị bắn sập dài 30 trượng. Thượng Khả Hỷ và Cảnh Kế Mậu đích thân ra mặt trận đốc chiến, chỉ huy quân Thanh tràn vào thành qua cửa khẩu. Trong trận đánh giáp lá cà, hơn 6.000 binh sĩ nhà Minh bị giết, và Tổng binh Phạm Thừa Ân bị bắt. Đỗ Vĩnh Hòa thấy đại thế đã mất, vội vàng cùng với đám thủ hạ bỏ trốn ra biển bằng đường thủy.
Sau khi chiếm được toàn bộ thành Quảng Châu, quân Thanh tiến hành một cuộc thảm sát, cướp bóc và hãm hiếp điên cuồng đến mức gần như không còn ai sống sót, mà sau này được sử sách gọi là Đại thảm sát Quảng Châu.[2] Vào thời điểm đó, dân số thành Quảng Châu khoảng 40 vạn người, số người chết chiếm khoảng một phần năm. Cuốn Quảng Châu thị chí ghi chép tổn thất nhân mạng là 70 vạn người, trong khi các học giả phương Tây lại cho rằng con số là 10 vạn. Sau đó, ông và Cảnh Kế Mậu cùng nhau xây dựng vương phủ tại Quảng Châu, bắt đầu lạm dụng quyền hành như cưỡng bức lao dịch, thu thuế bất hợp pháp, dung túng thuộc hạ làm hại dân chúng địa phương khiến quan lại nơi đây phải dâng sớ thỉnh cầu triều đình can thiệp. Năm Thuận Trị thứ 17 (1660), Cảnh Kế Mậu bị điều chuyển đến trấn giữ Phúc Kiến nhưng riêng Thượng Khả Hỷ vẫn ở lại nắm quyền cai trị Quảng Đông.
Thời kỳ cai trị Quảng Đông
Năm Thuận Trị thứ 12 (1655), Thượng Khả Hỷ lần đầu tiên dâng sớ xin về hưu ở Liêu Đông, nhưng được Thuận Trị giữ lại vì tình hình trị an tại Quảng Đông vẫn chưa yên ổn. Ông còn tham gia đánh dẹp hải tặc ở vùng duyên hải đông nam, và can gián thành công Thuận Trị về chính sách thiên giới cấm hải[d], nhờ đó mà được dân chúng địa phương ủng hộ. Năm Khang Hi thứ 2 (1663), Thượng Khả Hỷ quyên góp tài sản để xây dựng lại chùa Đại Phật và hoàn thành vào năm sau đó.[3] Trong thời gian làm phiên vương tại Quảng Đông.[4] ông nhân cơ hội uy quyền triều đình nhà Thanh chưa được vững chắc mà từ từ khuếch trương thế lực,[5] nắm quyền cai trị tỉnh này hệt như lãnh địa của riêng mình, lại còn tự ý bổ nhiệm quan lại địa phương, ngầm giao thương, tích lũy của cải và sở hữu cả một đạo quân tinh nhuệ.
Thái độ trong Loạn Tam phiên
Năm Khang Hi thứ 12 (1673), Thượng Khả Hỷ bất hòa với con cả là Thượng Chi Tín, bèn dâng sớ lên triều đình xin về quê, để con thứ là Thượng Chi Hiếu kế thừa tước vị và trấn thủ Quảng Đông. Không lâu sau, Thượng Chi Hiếu chủ động từ chối vì tranh chấp anh em. Khang Hi Đế nhân cơ hội này tuyên bố bãi bỏ phiên trấn của gia tộc họ Thượng, khiến Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung phẫn nộ lần lượt khởi binh chống lại triều đình châm ngòi cho Loạn Tam phiên. Dù vậy Thượng Khả Hỷ vẫn trung thành với nhà Thanh và không tham gia vào cuộc nổi loạn này.[6] Tháng Giêng năm Khang Hi thứ 14 (1675), Thượng Khả Hỷ được tấn phong Bình Nam Thân vương, và trao chức Bình Nam Đại tướng quân cho con thứ là Thượng Chi Hiếu kế thừa tước vị.[7]
Tháng 2 năm Khang Hi thứ 15 (1676), Thượng Chi Tín điều binh vây phủ đệ của cha, đoạt quyền chỉ huy cao nhất ở Quảng Đông và hưởng ứng cuộc nổi loạn của Ngô Tam Quế. Ngày 29 tháng 10 năm Khang Hi thứ 15, Bình Nam Thân vương Thượng Khả Hỷ qua đời tại Quảng Châu, hưởng thọ 73 tuổi. Khang Hi Đế ban thụy hiệu Kính. Linh cữu của ông tạm thời được an táng tại chùa Đại Phật, Quảng Châu, sau đó được đưa về an táng tại núi Phượng Tường, Hải Thành vào năm 1681, và sau đó lại được dời đến núi Văn An, thôn Đại Tân, trấn Bát Lý, thành phố Hải Thành. Khang Hi Đế đã cử thân vương ba lần đến bái tế trên đường đưa tang, đích thân viết văn bia công đức, và đặt hai chức Tá lĩnh tứ phẩm để trông coi lăng mộ cho Bình Nam vương cho đến khi bị bãi bỏ vào năm Dân quốc thứ 15 (1926).
Thượng Chi Tín tuy hưởng ứng theo phe Ngô Tam Quế nhưng vẫn giữ thái độ do dự trong Loạn Tam phiên, chủ yếu nhằm bảo toàn lực lượng ở Quảng Đông mà thôi. Ít lâu sau, Thượng Chi Tín cũng khởi binh chống lại nhà Thanh nhưng bị Lục Doanh binh đánh bại, sau cùng đành ra hàng triều đình vào năm Khang Hi thứ 16 (1677). Sau khi quy hàng, ông được kế thừa tước vị Bình Nam vương và gia phong Thái tử Thái bảo. Năm Khang Hi thứ 19 (1680), Thượng Chi Tín bị Khang Hi Đế ban chết, hưởng dương 52 tuổi.
Gia quyến
- Thân phụ: Thượng Học Lễ (尚学礼, 1575 - 1624), làm quan đến Đô ty, tử trận khi giao chiến với Hậu Kim. Về sau, nhà Thanh truy tặng Bình Nam vương (平南王)[8].
- Thân mẫu: Lưu thị (刘氏), nguyên phối, tặng Bình Nam vương phi (平南王妃).
- Kế mẫu: Vương thị (王氏)
- Thứ mẫu: Mã thị (马氏)
- Thê thiếp:
- Đích phu nhân Hồ thị (胡氏)
- Trắc thất Thư thị (舒氏), Tăng thị (曾氏), Dương thị (楊氏)
- Con cái: Thượng Khả Hỉ có khoảng 60 người con, gồm 32 con gái và 28 con trai.
- Con trai:
- Thượng Chi Tín (尚之信; 1636 – 1680), mẹ là Hồ thị. Tước hiệu Bình Nam Thân vương (平南亲王), vợ là Vương phi Cảnh thị (耿氏), con gái của Tĩnh Nam Trung Mẫn vương Cảnh Kế Mậu[9].
- Đích Phu nhân của Đạt Lai (達祜), hậu duệ của Hòa Thạc Trang Thân vương Thư Nhĩ Cáp Tề[10].
- Thượng Chi Hiếu (尚之孝, 1639 - 1696), mẹ là Tăng thị, được phong Bình Nam Thân vương (平南亲王) nhưng do sau phạm tội nên bị phế truất.
- Thượng Sùng Thản (尚崇坦), nhậm Phó Đô thống Hán quân Tương Hồng kỳ.
- Đích Phu nhân của Phụ quốc công Tố Lai (素嚴), chắt của A Tế Cách.
- Thượng Chi Côn (尚之琨), mẹ là Tăng thị.
- Thượng Chi Long (尚之隆, 1646 - 1718), mẹ là Dương thị. Nhậm Hòa thạc Ngạch phò rồi Nội Đại thần, lấy Hòa Thạc Hòa Thuận công chúa - dưỡng nữ Thuận Trị Đế, con gái Thạc Tắc.
- Thượng Sùng Dực (尚崇廙), nhậm Đầu đẳng Thị vệ, Thị vệ Nội Đại thần, quản lý Thịnh Kinh Tam lăng sự vụ.
- Đích Phúc tấn của Hòa Thạc Thuần Tĩnh Thân vương Long Hi[11]
- Chính thê của Ngô Nhĩ Chiêm (吳爾占), con trai An Quận vương Nhạc Lạc.
- Kế Phu nhân của Dĩ cách Phụ quốc Tướng quân Tát Tam (薩三), cháu trai Bối lặc A Mẫn.
- Chính thê của Ngoại Mộc Nhĩ Đồ (外木爾圖), con trai Binh bộ Thị lang Ngưu Nữu (牛鈕).
- Thượng Chi Tín (尚之信; 1636 – 1680), mẹ là Hồ thị. Tước hiệu Bình Nam Thân vương (平南亲王), vợ là Vương phi Cảnh thị (耿氏), con gái của Tĩnh Nam Trung Mẫn vương Cảnh Kế Mậu[9].
- Con gái:
- Chính thê của Phó Thông A (傅通阿), con gái Tứ Xuyên Tuần phủ Trương Đắc Đệ (張得第). Trương Đắc Đệ còn có một con gái sau là Kế Phúc tấn của Bác Ông Quả Nặc.
- Con trai:
Chú thích
Tham khảo
- ↑ "Nghiên cúư Đông Nam Á". Số 1. Viện Nghiên cứu Đông Nam Á. 2007. tr. 34.
{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp) - ↑ Cố Thành (1997). Nam Minh sử. Trung Quốc thanh niên xuất bản xã. tr. 608.
- ↑ "揭秘广州大佛寺的砖瓦为什么是绿色的" [Khám phá bí mật tại sao gạch ngói Chùa Đại Phật Quảng Châu lại có màu xanh lá cây]. Tencent. ngày 30 tháng 4 năm 2016.
- ↑ Nguyễn Quang Lê (2001). Từ lịch sử Việt Nam nhìn ra thế giới. Văn hóa Thông tin. tr. 153.
- ↑ "Việt-Nam khảo-cổ tập san". Số 1. Bộ Quốc gia Giáo dục. 1960. tr. 14.
{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp) - ↑ Spence, Jonathan (2002). The Cambridge History of China. Quyển 9. tr. 159.
- ↑ Triệu Nhĩ Tốn (1998). Thanh sử cảo. Trung Hoa thư cục. tr. 9415.
- ↑ 尚氏后人所编史料皆称其为游击,而毛文龙在尚学礼阵亡后为其请恤的奏折仍称其为都司。明朝时,任游击一职者方可称为将军,都司则只是营官,且游击在明朝时为差遣官,无品级,亦无追赠例。尚学礼可能并没有当过游击,后人为美化祖先,故抬身份。
- ↑ 李林. 《满族宗谱研究》. 辽宁民族出版社. 2006.
- ↑ ^ Ái Tân Giác La tông phả tập 15, quyển Đinh Tam, tr. 8025.
- ↑ 《愛新覺羅宗譜》3冊甲三第1509頁