Bước tới nội dung

Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Osaka Kintetsu Buffaloes
Đã giải thể và sáp nhập với Orix BlueWave vào năm 2004 thành Orix Buffaloes
Tập tin:Osaka Kintetsu Buffaloes Buffie Logo Vector.svgTập tin:Kintetsu Buffaloes Insignia Vector.svg
LogoPhù hiệu mũ
Thông tin
GiảiNippon Professional Baseball
Pacific League (1950–2004)
Vị tríNishi-ku, Osaka, Nhật Bản
Sân nhàOsaka Dome
Năm thành lập26 tháng 11 năm 1949; 76 năm trước (1949-11-26)
Năm giải thể1 tháng 12 năm 2004; 21 năm trước (2004-12-01)
Biệt danhMogyu (猛牛, mãnh ngưu)
Vô địch Nippon Series0
Vô địch Pacific League4 (1979, 1980, 1989, 2001)
Tên cũ
  • Osaka Kintetsu Buffaloes (1999-2004)
  • Kintetsu Buffaloes (1962–1998)
  • Kintetsu Buffalo (1959–1961)
  • Kintetsu Pearls (1949–1958)
Sân đấu cũ
  • Osaka Dome (1997–2004)
  • Sân vận động Fujiidera (1984–1996)
  • Sân vận động Nippon Life (1958–1983)
  • Sân vận động Osaka (1951–1957)
  • Sân vận động Fujiidera (1950)
MàuĐỏ, Đen, Trắng
              
Linh vậtBuffie và Falulu
Suất playoff3 (1975, 1979, 1980)
Số áo lưu niệm
  • 1
Ban quản lýCông ty đường sắt Kintetsu

Osaka Kintetsu Buffaloes (大阪近鉄バファローズ Ōsaka Kintetsu Bafarōzu?) là một câu lạc bộ bóng chày từng hoạt động tại Osaka, Nhật Bản và là thành viên của Pacific League thuộc Hệ thống chuyên nghiệp Nhật Bản (NPB). Năm 2005, Buffaloes bị sáp nhập với Orix BlueWave để trở thành CLB ngày nay được biết đến với cái tên Orix Buffaloes. CLB trong thời kì tồn tại đã thi đấu trên sân nhà tại Sân vận động Fujiidera và sau đó là Osaka Dome.

Mặc dù đã giành được bốn chức vô địch Pacific League, nhưng Buffaloes đã thất bại trong cả bốn lần góp mặt tại Nippon Series kể trên. Hàng công của đội còn được biết đến với tên gọi Itemae Dasen (いてまえ打線).

Logo CLB là hình đầu trâu cách điệu với đôi mắt đỏ giận dữ (do Okamoto Tarō thiết kế), hoặc logo chữ "Buffaloes" màu đỏ, viền trắng. Một logo khác cũng có chữ "Buffaloes" màu đỏ, đồng thời có hình Buffie, linh vật của CLB.

Lịch sử tồn tại Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

CLB được thành lập năm 1949 và ra mắt năm 1950 trong mùa giải đầu tiên của hệ thống NPB. Thuộc sở hữu của Công ty Đường sắt Kinki Nippon (sau này được biết đến với tên Công ty đường sắt Kintetsu), đội bóng mang tên Kintetsu Pearls từ năm 1950 đến 1958, Kintetsu Buffalo từ năm 1959 đến 1961, Kintetsu Buffaloes từ năm 1962 đến 1998, và Osaka Kintetsu Buffaloes từ năm 1999 đến 2004. Năm 1961, đội Buffaloes trải qua 103 trận thua, là mùa giải duy nhất trong lịch sử NPB một CLB thua 100 trận trở lên cho tới nay.

Kintetsu Buffalo là một trong những đội bóng Nhật Bản đầu tiên ký hợp đồng với các cầu thủ người Mỹ. Họ đã ký hợp đồng với cựu tay ném MLB Glenn Mickens và bắt bóng Ron Bottler cho mùa giải 1959. Mickens đã có thời gian ra sân cho Brooklyn Dodgers vào năm 1953 và Bottler là cầu thủ bắt bóng chuyên nghiệp ở giải hạng dưới tại Hoa Kỳ. Mickens có 5 năm thi đấu ở Nhật Bản trong màu áo Kintetsu, đạt thành tích 45 thắng – 53 bại với ERA 2,54. Bottler thi đấu trong 3 màu giải cho Kintetsu, dần dần chuyển dịch từ vị trí bắt bóng sang ném bóng mở màn với nhiều thành tích hơn.

CLB phải mất 30 năm mới giành được chức vô địch Pacific League đầu tiên vào năm 1979, nhưng sau đó đã thua Hiroshima Toyo Carp với tỷ số ván 4-3 tại Nippon Series. Buffaloes trở lại Nippon Series ngay mùa giải sau đó, nhưng lại một lần nữa để thua Hiroshima với cùng tỷ số.

Trong giai đoạn từ năm 1966 tới 1988, Kintetsu đã chứng kiến cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử CLB là tay ném Suzuki Keishi, người trong khoảng thời gian này đã đạt thành tích thắng thua 317–238, ERA 3.11 và 3.061 lần strikeout. Ông được bầu vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Nhật Bản năm 2002, và số áo 1 của ông được Kintetsu treo vĩnh viễn.

Năm 1988, đội Buffaloes đã lỡ hẹn đáng tiếc với Nippon Series sau khi hòa trận thứ hai trong loạt trận kép với Lotte Orions, trong khi phải thắng cả hai trận mới có thể giành chức vô địch Pacific League. [1]

Năm sau, họ giành quyền tham dự Nippon Series với cách biệt tỷ lệ thắng suýt soát 0,001% trước đội xếp thứ hai là Orix Braves, nhưng lại để thua ngược toàn tập trước Giants trong lần đầu tiên một đội thua ngược từ lợi thế ván 3-0 kể từ Nippon Series năm 1958.

Giai đoạn từ năm 1988 đến 1995, nổi bật nhất trong màu áo Kintetsu là cầu thủ sân ngoài Ralph Bryant, một trong những tay đánh bóng thuận tay trái xuất sắc nhất trong lịch sử bóng chày Nhật Bản. Ở mùa giải đỉnh cao của mình vào năm 1989, Bryant ghi được 49 home run và dẫn dắt Buffaloes tới chức vô địch Pacific League lần thứ ba, cũng như giành được giải Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải năm đó. Ngoài ra, anh cũng san bằng kỷ lục của Ō Sadaharu về số lần ghi ba cú home run trong một trận đấu (năm lần). Bryant cũng bị strikeout vô số lần, và đứng thứ tư trong số những cầu thủ chịu nhiều strikeout nhất một mùa giải của Hệ thống bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản.

Cầu thủ ném bóng xuất sắc khác là Nomo Hideo đã tỏa sang trong màu áo Kintetsu từ năm 1990 đến 1994 trước khi anh lợi dụng một kẽ hở trong hợp đồng và "giải nghệ" tại NPB, qua đó có thể ký hợp đồng với Los Angeles Dodgers của MLB. Sự kiện đã mở đầu cho làn sóng nhiều cầu thủ hang đầu tại NPB chuyển sang thi đấu tại Major League Baseball (MLB), dẫn tới việc MLB và NPB thiết lập hệ thống "đăng tuyển", cho phép các CLB ở NPB rao bán cầu thủ của mình sang MLB. Sau khi Nomo ra đi, Buffaloes đã gặp khó khăn ở khâu ném bóng, với ERA của toàn bộ dàn ném là 4.16 và FIP là 4.70.

Năm 2000, Buffaloes đã ký hợp đồng với cầu thủ ném bóng người México Narciso Elvira. Mặc dù có thành tích ném bóng không tốt, nhưng anh ta được ghi nhận là cầu thủ người México duy nhất trong lịch sử NPB tính đến năm 2022 ném được trận no-hit no-run (không mất hit hay mất điểm) với chỉ 4 lần đối phương đi bộ lên chốt. [2] Elvira bị cắt hợp đồng sau 6 trận đấu trong mùa giải vô địch Pacific League năm 2001 của Buffaloes, và sau đó đã ký hợp đồng với Samsung Lions của KBO League và giành chức vô địch Korean Series 2002 cùng với họ.

Một ngoại binh nổi bật khác là Tuffy Rhodes đã khoác áo Buffaloes trong tám mùa giải từ năm 1996 đến 2003, trong đó ghi được 288 cú home run. Vào mùa giải 2001, anh đã ghi cú home run thứ 55, san bằng kỷ lục home run trong một mùa giải tại NPB do Ō Sadaharu thiết lập năm 1964 Trong phần còn lại của mùa giải, các tay ném đối phương đã cố tình cho Rhodes đi bộ lên để ngăn anh phá kỷ lục của Ō. Ngoài Rhodes, hàng công Buffaloes cũng sở hữu một trọng pháo khác là Nakamura Norihiro, người cũng ghi được 46 home run trong mùa giải 2001. Cùng nhau, họ trở thành một bộ đôi nguy hiểm dẫn dắt một trong những hàng công mạnh nhất giải đấu.

Bất chấp những thành tích của Rhodes và Nakamura, Buffaloes vẫn không thể chạm tới danh hiệu vô đich Nhật Bản khi để thua Tokyo Yakult Swallows trong 5 ván tại Nippon Series 2001. Buffaloes là đội thứ hai lọt vào Nippon Series nhưng không bao giờ giành chiến thắng sau Shochiku Robins, đội chỉ một lần góp mặt tại kì Nippon Series đầu tiên của NPB và để thua Mainichi Orions (nay là Chiba Lotte Marines) trước khi giải thể vào cuối mùa giải 1952 và sáp nhập với Taiyo Whales (nay là Yokohama DeNA BayStars).

Rao bán và sáp nhập

Năm 2004, đội bóng được bán cho Tập đoàn Orix, chủ sở hữu của đội bóng kình địch Orix BlueWave. Chủ sở hữu mới sau đó tuyên bố rằng sẽ hợp nhất Buffaloes và BlueWave thành một đội có tên là Orix Buffaloes trước khi mùa giải NPB 2005 bắt đầu. Vào thời điểm đó, công ty đường sắt Kintetsu, chủ sở hữu của Buffaloes, đang nợ 1,3 nghìn tỷ yên (tương đương 11,2 tỷ đô la Mỹ ngày nay). Điều này khiến huyền thoại của Buffaloes, Tuffy Rhodes, ký hợp đồng với Yomiuri Giants vì Kintetsu không thể đưa ra đề nghị hợp đồng dài hạn như anh muốn. [3]

Đề xuất sáp nhập hai đội trên đã dẫn đến cuộc khủng hoảng lớn nhất đối với cấu trúc hai giải đấu của NPB và đã dẫn tới cuộc đình công đầu tiên của cầu thủ trong lịch sử bóng chày Nhật Bản. Tranh chấp chính thức kết thúc sau khi hai nhóm đạt được đồng thuận vào ngày 23 tháng 9 năm 2004. Theo thỏa thuận, Pacific League (PL) đã bổ sung CLB mới thành lập Rakuten Golden Eagles (với "phí gia nhập" đã được gia giảm) để duy trì cấu trúc sáu đội mỗi giải. Các thỏa thuận khác bao gồm việc các giải đấu áp dụng hình thức thi đấu liên giải để giúp PL được biết đến nhiều hơn thông qua việc cọ sát với các đội nổi tiếng hơn của Central League (CL), bắt đầu từ mùa giải 2005.

Với quyết định sáp nhập trên, CLB Osaka Kintetsu Buffaloes chính thức bị giải thể. Ngoài ra, các thống kê và hình thức vinh danh các cầu thủ của Kintetsu cũng không được công nhận bởi CLB hợp nhất là Orix Buffaloes ưu tiên thừa kế lịch sử của Hankyu Braves/Orix BlueWave. Số áo 1 của Suzuki Keishi được Kintetsu treo vĩnh viễn sau đó cũng được CLB Buffaloes mới đem sử dụng trở lại; một số báo cáo cho rằng Orix đã chủ động đề nghị tiếp tục treo số áo của Suzuki dù điều này xung khắc với chính sách không treo số của Hankyu/Orix, nhưng ông đã từ chối và cho phép số áo sử dụng tại Orix Buffaloes.

Những cầu thủ đáng chú ý Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

Cầu thủ đoạt giải

Cầu thủ xuất sắc nhất Pacific League

  • Charlie Manuel (1979)
  • Ralph Bryant (1989)
  • Nomo Hideo (1990)
  • Tuffy Rhodes (2001)

Giải thưởng Sawamura Eiji

  • Nomo Hideo (1990)

Tân binh xuất sắc nhất năm của Pacific League

  • Tokuhisa Toshiaki (1961)
  • Oishi Daijiro (1982)
  • Awano Hideyuki (1987)
  • Nomo Hideo (1990)
  • Takamura Hiroshi (1992)

Cầu thủ trở lại xuất sắc của năm

  • Ono Kazuyoshi (1991)
  • Morita Kōki (2001)

Số áo treo vĩnh viễn Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

  • 1 Nhật Bản Suzuki Keishi (鈴木 啓示)


Huấn luyện viên Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

  • Nhật Bản Fujita Shozo (1950-1952)
  • Nhật Bản Akuta Takeo (1953-1957)
  • Nhật Bản Kato Hisayuki (1958)
  • Nhật Bản Chiba Shigeru (1959-1961)
  • Nhật Bản Betto Kaoru (1962-1964)
  • Nhật Bản Iwamoto Yoshiyuki (1965-1966)
  • Nhật Bản Kodama Akitoshi (1967)
  • Nhật Bản Osamu Mihara (1968-1970)
  • Nhật Bản Iwamoto Takashi (1971-1973)
  • Nhật Bản Nishimoto Yukio (1974-1981)
  • Nhật Bản Sekiguchi Seiji (1982-1983)
  • Nhật Bản Okamoto Isami (1984-1987)
  • Nhật Bản Ōgi Akira (1988-1992)
  • Nhật Bản Suzuki Keishi (1993-1995)
  • Nhật Bản Sasaki Kyōsuke (1996-1999)
  • Nhật Bản Nashida Masataka (2000-2004)

Thành tích từng mùa giải Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

Linh vật Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

CLB Buffaloes có 2 linh vật tên là Buffie và Falulu (バフィリード và ファルルリーナ). Buffie là một con trâu đực và ra mắt vào năm 1997, cũng như xuất hiện trên logo của cái. Trong khi đó, Falulu là linh vật một con trâu cái. Số áo của Buffie là 100 trong khi của Falulu là 200. Hai nhân vật này bị ngừng sử dụng vào năm 2005 sau khi Buffaloes sáp nhập với đội lúc đó có tên là Orix BlueWave (nay là Orix Buffaloes). Buffie xuất hiện trở lại trong một trận đấu chủ đề tái hiện Kintetsu của Buffaloes vào năm 2013. Họ cũng có 2 linh vật khác cùng nhóm, tên là Capelot và Balbarock, với Capelot là một nhân vật trẻ con hơn nhiều, trong khi Balbarock được cho là giống với logo trên mũ của câu lạc bộ. Cả hai đều ngừng sử dụng vào năm 2000. Cả 4 đều được thiết kế bởi Hanna-Barbera Productions, và nguồn gốc của chúng được giải thích trên sổ tay người hâm mộ năm 1997 của câu lạc bộ là: chúng sống trong một thế giới tưởng tượng mơ mộng và đầy phiêu lưu có tên là "Buffalo Valley". Tuy nhiên, sau khi sáp nhập, chỉ có nhãn hiệu bản quyền của Buffie được chuyển giao cho Orix. [4]

Tham khảo Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

  1. "Ron Bottler Minor & Japanese Leagues Statistics". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2026.
  2. "Ron Bottler Minor & Japanese Leagues Statistics". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2026.
  3. "Ron Bottler Minor & Japanese Leagues Statistics". Baseball-Reference.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2026.
  4. "j-platpat". www.j-platpat.inpit.go.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2022.

Liên kết ngoài Thành viên:KKhuc92/Osaka Kintetsu Buffaloes

[[Thể loại:Thể loại:Khởi đầu năm 1949 ở Nhật Bản]][[Thể loại:Thể loại:Bài viết có văn bản tiếng Nhật]][[Thể loại:Đã giải thể tại Pacific League]][[Thể loại:Giải thể năm 2004 ở Nhật Bản]]