Bước tới nội dung

Climax Series

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Logo của Climax Series

Climax Series (クライマックスシリーズ Kuraimakkusu Shirīzu?) là hệ thống vòng play-off hàng năm hiện hành tại Hệ thống bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản (NPB). Hệ thống vòng đấu này xác định đội đại diện Central League (CL) và đại diện kiêm nhà vô địch Pacific League (PL) tiến vào tranh chức vô địch tại Nippon Series. Sau khi hệ thống hai giải đấu của NPB được thiết lập vào năm 1950, PL đã trải qua ba lần thử nghiệm hệ thống vòng loại trực tiếp khác nhau. Năm 2004, họ đã triển khai cấu trúc vòng loại trực tiếp mà Climax Series áp dụng. Sau ba mùa giải, CL đã áp dụng hệ thống tương tự vào năm 2007, tạo ra thể thức vòng loại trực tiếp thống nhất hiện nay.

Ứng với kết quả mùa giải chính, ba đội đứng đầu tại mỗi giải đấu sẽ thi đấu với nhau trong hai vòng playoff. Ở vòng đầu tiên, đội đứng thứ hai và thứ ba ở mùa giải chính sẽ đối đầu trong loạt đấu ba ván. Đội chiến thắng trong vòng này sẽ tiến vào vòng 2 để đối đầu với đội quán quân mùa giải chính trong loạt trận sáu ván, do lợi thế chấp một ván thắng cho đội quán quân. Những đội chiến thắng trong loạt đấu vòng 2 của mỗi giải đấu sẽ thi đấu với nhau tại kì Nippon Series năm đó.

Lịch sử

Kể từ khi hệ thống hai giải đấu của Nippon Professional Baseball (NPB) được thành lập, đội vô địch dựa trên thành tích mùa giải chính của Central League (CL) đã luôn giành quyền vào tới Nippon Series đối đầu với nhà vô địch Pacific League (PL). PL cũng áp dụng thể thức trên cho đến năm 1973, khi giải đấu tạo ra vòng đấu play-off duy nhất (ngoài Nippon Series) tại NPB trước năm 2004. Hệ thống mới này đã ghép đội có thành tích tốt nhất trong nửa đầu mùa giải với đội có thành tích tốt nhất nửa cuối. Đội chiến thắng trong loạt đấu năm ván thắng ba này giành quyền vào tới Nippon Series, đối đầu nhà vô địch CL.[1][2] Hệ thống này đã tỏ ra có vấn đề khi Hankyu Braves giành chiến thắng trong cả nửa đầu và nửa cuối của mùa giải 1976 và 1978, khiến loạt đấu playoff không còn cần thiết. Thể thức trên đã bị loại bỏ sau mùa giải 1982,[2] và thay vào đó, PL đã công bố vào mùa giải tiếp theo rằng các đội đứng nhất và nhì sẽ thi đấu trong loạt trận play-off hay nhất trong năm sau mùa giải chính thức gồm 130 trận nếu giữa hai đội cách biệt năm trận trở xuống. Ý tưởng này không được lòng hầu hết truyền thông và người hâm mộ, và đã bị loại bỏ sau ba mùa giải mà kết quả không cần áp dụng thể thức trên.[2] Hai chi giải đã quay lại việc cử đội có thành tích mùa giải chính tốt nhất của mình để đối đầu trong loạt trận chung kết.[3]

Pacific League

Tháng 2 năm 2003, ban điều hành Pacific League (PL) đã đồng ý thiết lập thể thức playoff nội bộ cho mùa giải NPB 2004.[4][5] Quyết định nhằm nỗ lực cải thiện sức hấp dẫn vào giai đoạn cuối mùa giải vốn sẽ chùng xuống nếu có một đội bỏ xa trong cuộc đua vô địch từ sớm nói riêng và sức hấp dẫn của chi giải nói chung.[4] Thể thức được đề xuất gồm hai vòng gồm ba đội có thứ hạng mùa giải cao nhất tại PL. Trong đó, các đội đứng thứ hai và thứ ba sẽ đối đầu với nhau trong loạt đấu vòng một ba ván thắng hai, và đội thắng sẽ đi tiếp gặp đội vô địch mùa tại vòng hai cuối cùng. Đội thắng vòng này sẽ giành quyền đại diện PL tham dự Nippon Series, đối đầu với đại diện Central League (CL).

Cái việc để chi giải kia vận hành một mình một kiểu nó ngu ngốc thật sự. Nếu vô địch C.L. năm này, Giants chúng tôi sẽ tẩy chay [Nippon] Series.

— Watanabe Tsuneo, chủ sở hữu Yomiuri Giants[1]

Ban đầu, đội vô địch mùa giải sẽ chỉ được lợi thế sân nhà tại vòng hai, nhưng vào tháng 8 năm 2003, các quan chức PL nếu đội vô địch mùa giải cách đội xếp sau từ năm trận thắng trở lên, đội đó sẽ nhận lợi thế một ván thắng tại vòng hai thể thức năm ván thắng ba.[6] Tại vòng playoff Pacific League 2006, ban tổ chức PL loại bỏ yêu cầu cách biệt, và đội vô địch mùa tự động có lợi thế một ván thắng tại vòng hai. Đổi lại, đội vô địch mùa sẽ không còn lợi thế sân nhà xuyên suốt vòng hai, và bốn ván sẽ được chia đều tổ chức tại sân nhà của hai đội.[7] Quy định lập tức trở nên thừa thãi khi đội vô địch mùa Hokkaido Nippon-Ham Fighters giành chiến thắng chung cuộc chỉ sau hai ván.

Trong ba năm PL đơn phương áp dụng thể thức playoff, Central League (CL) vẫn tiếp tục trao suất tham dự Nippon Series cho nhà vô địch mùa.[8] Sự không đồng đều về thể thức này đã nhận về những chỉ trích từ giới chuyên môn và báo chí. Trong kì Nippon Series 2005, nhà báo Stephen Ellsesser của tờ The Japan Times đã gọi hệ thống playoff cọc cạch của NPB là "một hệ thống tồi" và khẳng định quyết định không tổ chức vòng playoff nội bộ của CL là "ngu ngốc".[9] Đề cập tới thất bại ê chề của Hanshin Tigers năm đó, ông cho rằng việc không tổ chức playoff, tạo ra 17 ngày trống không thi đấu giữa thời điểm kết thúc mùa giải và Nippon Series, là một trong những nguyên nhân dẫn tới kết quả thảm hại của Tigers trước Chiba Lotte Marines.[9] Tương tự như Ellsesser, sau khi chứng kiến "sự hứng khởi" mà vòng playoff PL năm 2004 PL mang lại, nguyên HLV trưởng Marines Bobby Valentine cảm thấy "khó hiểu trước việc Central League không hưởng ứng" việc tổ chức vòng playoff nội bộ.[10]

Climax Series được thiết lập

A large circular, white building; a slanted, glass overhang protects people walking around the plaza in front of the building's entrance below. A large banner above the entrance reads "ROAD TO THE NIPPON CHAMPIONS".
Sân Tokyo Dome, sân nhà của đội Yomiuri Giants, là nơi tổ chức vòng hai Central League Climax Series đầu tiên.

Central League đã từng có các thể thức play-off theo tình huống cụ thể, như hai đội bằng thành tích trên bảng xếp hạng hay đội có nhiều trận thắng hơn kết thúc với tỷ lệ trận thắng kém hơn đội đứng đầu, nhưng chưa từng có một thể thức play-off cố định. [11] Vào tháng 3 năm 2006, dưới tác động từ thành công của các vòng play-off tại PL, các quan chức CL đã công bố ý định áp dụng hệ thống play-off sau mùa giải cho mùa giải 2007 để giúp cải thiện lượng khán giả đang đi xuống. [1] Trong các cuộc họp tổ chức vào cuối năm đó, các quan chức PL và CL đã bất đồng về các kế hoạch được đề xuất về hệ thống vòng play-off mới. Kể từ khi vòng loại trực tiếp PL được tạo ra vào năm 2004, chi giải này trao chức vô địch cho đội chiến thắng tại vòng loại trực tiếp thay vì đội kết thúc mùa giải chính với thành tích tốt nhất. [12] PL không chấp thuận ý định của CL tiếp tục trao danh hiệu giải của họ cho đội đứng nhất trong mùa giải chính trong khi sử dụng vòng play-off để xác định đội sẽ dự Nippon Series. [13]

Vào tháng 9 năm 2006, cả hai giải đấu đã đồng ý về một hệ thống vòng chung kết hậu mùa thống nhất. [14] CL đã triển khai một hệ thống vòng loại trực tiếp giống hệt với PL và toàn bộ các vòng đấu loại trực tiếp được gọi là "Climax Series". [15] Khác ba mùa giải trước, PL đã đồng ý trao chức vô địch giải cho đội đứng nhất trong mùa giải thay vì đội giành chiến thắng trong vòng play-off tương ứng. [14] Hai giải đấu trực thuộc ngoài ra cũng thống nhất mùa giải chính sẽ chơi 144 trận đấu, lần đầu tiên cả hai giải chơi cùng số trận kể từ khi PL giới thiệu hệ thống vòng play-off vào năm 2004. [16] Hai giải đấu cũng đồng ý rằng không nhà vô địch mùa giải thường xuyên nào sẽ nhận được lợi thế một trận thắng trong vòng cuối của Climax Series, với lý do là điều đó không cần thiết về mặt kinh doanh. [17] Có ý kiến cho rằng Yomiuri Giants đã bỏ phiếu chấp thuận ý tưởng vòng play-off vào năm 2006 do họ đã không về nhất tại Central League trong mùa giải chính kể từ năm 2002 và việc có vòng loại trực tiếp sẽ làm tăng cơ hội cho Giants góp mặt và chiến thắng Nippon Series. Tuy nhiên, nếu đúng với giả thuyết trên thì kế hoạch đã ngay lập tức phản tác dụng. Trong mùa giải khai mạc của Climax Series, Giants cuối cùng đã giành được cờ hiệu CL nhưng lại mất tham dự Japan Series khi họ bị Chunichi Dragons xếp thứ hai đánh bại ba ván không gỡ tại vòng cuối CL Climax Series năm 2007. [15] Mùa giải tiếp theo, các giải đấu đã lật lại quyết định của họ về lợi thế vòng hai và đồng ý trao cho nhà vô địch mùa giải thường lợi thế được chấp một ván thắng ở vòng cuối Climax Series bắt đầu từ năm 2008. Đồng thời, vòng cuối đã mở rộng thể thức từ loạt đấu 5-ván thắng-3 thành 7-ván thắng-4 (chưa tính một ván thắng chấp cho đội vô địch) để định đoạt đội sẽ tiến vào Nippon Series. [18]

Trong một thời gian dài chúng tôi đã giữ nguyên tắc không tổ chức vòng play-off, nhưng nay chúng ta phải công nhận là vòng playoff áp dụng tại Pacific League đã có những tác động tích cực. Vì vậy chúng tôi đã quyết định có những bổ sung nhằm nâng cao sức hấp dẫn của vòng chung kết hậu mùa giải.

— Toyokura Hajime, chủ tịch Central League[1]

Do đại dịch COVID-19, mùa giải chính 2020 được rút ngắn còn 120 trận, và bao gồm một thể thức Climax Series khác. Trong đó, Climax Series của PL chỉ bao gồm một vòng đấu 5-ván thắng-3 giữa hai đội nhất-nhì trong mùa giải chính, trong đó đội nhất được chấp một ván thắng. Trong khi đó, CL quay lại bỏ hoàn toàn vòng play-off, và đưa nhà vô địch mùa giải chính góp mặt tại Nippon Series. Quyết định loại bỏ Climax Series của CL một phần là do chỉ có hai trong số sáu đội của giải đấu thường xuyên thi đấu trên các sân có mái vòm, gây rủi ro về số trận đấu phải đấu bù vào cuối mùa giải vì bị hoãn do mưa. [19]

Thể thức hiện tại

Cả hai giải đấu đều áp dụng thể thức hậu mùa giống nhau, với ba đội đứng đầu mỗi giải trực thuộc tham gia hai vòng play-off của riêng họ. Các đội được xếp hạng vào cuối mùa giải chính dựa trên tỷ lệ trận thắng. Nếu các đội kết thúc với cùng tỷ lệ chiến thắng, các tiêu chí sau sẽ lần lượt được sử dụng để xếp hạng: [20]

Các nhà vô địch chi giải đã có bảy lần không thể vượt qua Climax Series. Trong số bảy trường hợp, bốn trường hợp xảy ra tại Central League và ba trường hợp đến tại Pacific League, và năm trường hợp trong số đó đã giành chiến thắng tại Nippon Series. [21]

1. Đội có số trận thắng cao hơn sẽ xếp trên
2. Đội có tỷ lệ chiến thắng cao hơn khi đối đầu trực tiếp sẽ sẽ xếp trên
3. Đội có thứ hạng cao hơn ở mùa giải trước sẽ xếp trên

Các nhà vô địch chi giải đã có bảy lần không thể vượt qua Climax Series. Trong số bảy trường hợp, bốn trường hợp xảy ra tại Central League và ba trường hợp đến tại Pacific League, và năm trường hợp trong số đó đã giành chiến thắng tại Nippon Series. [22]

1. Đội có tỷ lệ chiến thắng cao hơn khi đối đầu trực tiếp sẽ xếp trên
2. Đội có tỷ lệ chiến thắng cao hơn trong khuôn khổ mùa giải chính không bao gồm các trận đấu liên giải sẽ xếp trên
3. Đội có thứ hạng cao hơn ở mùa giải trước sẽ xếp trên

Giai đoạn đầu tiên thi đấu dưới thể thức loạt đấu 3-ván thắng 2 giữa hai đội đứng thứ nhì và thứ ba của mùa giải chính, với tất cả các ván đấu diễn ra trên sân nhà của đội đứng thứ nhì. Đội chiến thắng trong vòng này sẽ tiếp tục đối đầu với đội vô địch giải. [a] Loạt đấu này theo thể thức sáu ván. Nhà vô địch chi giải được lợi thế chấp một ván thắng cũng như lợi thế sân nhà cho toàn bộ loạt trận. Vì vậy, để chiến thắng chung cuộc, đội vô địch chỉ cần thắng ba ván trong khi đội đi từ vòng một phải thắng bốn. Các đội chiến thắng sẽ đối đầu nhau tại Nippon Series.

Không giống như Major League Baseball (MLB), các trận đấu NPB có thể kết thúc với tỷ số hòa nếu không có đội chiến thắng sau 12 hiệp. Nếu một trận đấu Climax Series kết thúc với tỷ số hòa, chiến thắng sẽ không được tính cho bất kỳ đội nào. Nếu điều này khiến đội đi từ vòng một không còn đủ số ván để thắng 4, đội được xếp hạng cao hơn sẽ đi tiếp. [24]

Vòng mộtVòng haiNippon Series
1Nhất CL
2Nhì CL?Thắng vòng một CL
3Ba CL?Thắng vòng hai CL
?Thắng vòng hai PL
1Nhất PL
2Nhì PL?Thắng vòng một PL
3Ba PL

Kết quả

Đã có bảy lần một nhà vô địch mùa giải trong thể vượt qua Climax Series để tiến vào Nippon Series, trong đó có bốn trường hợp đến từ Central League (CL) và ba trường hợp đến từ Pacific League. Năm trường hợp trong số đó, đội hạ bệ nhà vô địch mùa đã giành chiến thắng tại Nippon Series.[25]

Central League

Kết quả Central League Climax Series
NămVòngĐội nhàTỷ số vánĐội kháchSân tổ chứcCầu thủ xuất sắc nhấtTham khảo
2007MộtChunichi Dragons*20Hanshin TigersNagoya DomeKhông trao giải[26]
HaiYomiuri Giants03[a]Chunichi Dragons*Tokyo DomeKhông trao giải[27]
2008MộtHanshin Tigers12Chunichi Dragons*Kyocera Dome Osaka[b]Không trao giải[28]
HaiYomiuri Giants*311Chunichi DragonsTokyo DomeAlex Ramírez[29]
2009MộtChunichi Dragons*21Tokyo Yakult SwallowsNagoya DomeKhông trao giải[30]
HaiYomiuri Giants*41Chunichi DragonsTokyo DomeWakiya Ryota[31]
2010MộtHanshin Tigers02Yomiuri Giants*SVĐ KōshienKhông trao giải
HaiChunichi Dragons*41Yomiuri GiantsNagoya DomeWada Kazuhiro
2011MộtTokyo Yakult Swallows*21Yomiuri GiantsSVĐ Minh Trị Thần CungKhông trao giải
HaiChunichi Dragons*42Tokyo Yakult SwallowsNagoya DomeYoshimi Kazuki
2012MộtChunichi Dragons*21Tokyo Yakult SwallowsNagoya DomeKhông trao giải
HaiYomiuri Giants*43Chunichi DragonsTokyo DomeIshii Yoshihito
2013MộtHanshin Tigers02Hiroshima Toyo Carp*SVĐ KōshienKhông trao giải
HaiYomiuri Giants*40Hiroshima Toyo CarpTokyo DomeSugano Tomoyuki
2014MộtHanshin Tigers*110Hiroshima Toyo CarpSVĐ KōshienKhông trao giải
HaiYomiuri Giants14Hanshin Tigers*Tokyo DomeOh Seung-hwan
2015MộtYomiuri Giants*21Hanshin TigersTokyo DomeKhông trao giải
HaiTokyo Yakult Swallows*41Yomiuri GiantsSVĐ Minh Trị Thần CungKawabata Shingo
2016MộtYomiuri Giants12Yokohama DeNA BayStars*Tokyo DomeKhông trao giải
HaiHiroshima Toyo Carp*41Yokohama DeNA BayStarsSVĐ MazdaTanaka Kōsuke
2017MộtHanshin Tigers12Yokohama DeNA BayStars*SVĐ KōshienKhông trao giải
HaiHiroshima Toyo Carp24Yokohama DeNA BayStars*SVĐ MazdaJosé López
2018MộtTokyo Yakult Swallows02Yomiuri Giants*SVĐ Minh Trị Thần CungKhông trao giải
HaiHiroshima Toyo Carp*40Yomiuri GiantsSVĐ MazdaRyosuke Kikuchi
2019MộtYokohama DeNA BayStars12Hanshin Tigers*SVĐ YokohamaKhông trao giải
HaiYomiuri Giants*41Hanshin TigersTokyo DomeOkamoto Kazuma
2020Central League Climax Series bị hủy do đại dịch COVID-19c
2021MộtHanshin Tigers02Yomiuri Giants*SVĐ KōshienKhông trao giải
HaiTokyo Yakult Swallows*310Yomiuri GiantsSVĐ Minh Trị Thần CungOkugawa Yasunobu
2022MộtYokohama DeNA BayStars12Hanshin Tigers*SVĐ YokohamaKhông trao giải
HaiTokyo Yakult Swallows*40Hanshin TigersSVĐ Minh Trị Thần CungJosé Osuna
2023MộtHiroshima Toyo Carp*20Yokohama DeNA BayStarsSVĐ MazdaKhông trao giải
HaiHanshin Tigers*40Hiroshima Toyo CarpSVĐ KōshienKinami Seiya
2024MộtHanshin Tigers02Yokohama DeNA BayStars*SVĐ KōshienKhông trao giải
HaiYomiuri Giants34Yokohama DeNA BayStars*Tokyo Dome
2025MộtYokohama DeNA BayStars*20Yomiuri GiantsSVĐ YokohamaKhông trao giải
HaiHanshin Tigers*40Yokohama DeNA BayStarsSVĐ KōshienMorishita Shōta
    *     Đội đã giành chiến thắng.
ĐẬM : Đội đã sau giành chiến thắng tại Nippon Series.[32]
  • Vòng hai tổ chức đầu tiên năm 2007 là loạt đấu năm ván thắng ba, trong đó nhà vô địch mùa không có lợi thế chấp ván thắng.[33]
  • Do lịch tiến hành cải tạo ngoài mùa giải chính tại Sân vận động Kōshien, sân nhà của Hanshin Tigers, các trận đấu vòng một năm 2008 đã được tổ chức tại Kyocera Dome Osaka.[34]
  • Do đại dịch COVID-19, nhà vô địch mùa giải đã tiến thẳng đến Nippon Series 2020. [35]

Pacific League

Kết quả Pacific League Climax Series
NămVòngĐội nhàTỷ số vánĐội kháchSân tổ chứcCầu thủ xuất sắc nhấtTham khảo
2007MộtChiba Lotte Marines*21Fukuoka SoftBank HawksSVĐ Chiba MarineSaburo Omura
HaiHokkaido Nippon-Ham Fighters*32[a]Chiba Lotte MarinesSapporo DomeDarvish Yū
2008MộtOrix Buffaloes02Hokkaido Nippon-Ham Fighters*Kyocera Dome OsakaKhông trao giải
HaiSaitama Seibu Lions*42Hokkaido Nippon-Ham FightersSeibu Dome[b]Wakui Hideaki
2009MộtTohoku Rakuten Golden Eagles*20Fukuoka SoftBank HawksSVĐ KleenexKhông trao giải
HaiHokkaido Nippon-Ham Fighters*41Tohoku Rakuten Golden EaglesSapporo DomeTerrmel Sledge
2010MộtSaitama Seibu Lions02Chiba Lotte Marines*Seibu DomeSatozaki Tomoya
HaiFukuoka SoftBank Hawks34Chiba Lotte Marines*Yahoo DomeNaruse Yoshihisa
2011MộtHokkaido Nippon-Ham Fighters02Saitama Seibu Lions*Sapporo DomeKhông trao giải
HaiFukuoka SoftBank Hawks*40Saitama Seibu LionsYahoo DomeUchikawa Seiichi
2012MộtSaitama Seibu Lions12Fukuoka SoftBank Hawks*Seibu DomeKhông trao giải
HaiHokkaido Nippon-Ham Fighters*40Fukuoka SoftBank HawksSapporo DomeItoi Yoshio
2013MộtSaitama Seibu Lions12Chiba Lotte Marines*Seibu DomeKhông trao giải
HaiTohoku Rakuten Golden Eagles*41Chiba Lotte MarinesSVĐ KleenexTanaka Masahiro
2014MộtOrix Buffaloes12Hokkaido Nippon-Ham Fighters*Kyocera Dome OsakaKhông trao giải
HaiFukuoka SoftBank Hawks*43Hokkaido Nippon-Ham FightersYafuoku DomeYoshimura Yūki
2015MộtHokkaido Nippon-Ham Fighters12Chiba Lotte Marines*Sapporo DomeKhông trao giải
HaiFukuoka SoftBank Hawks*40Chiba Lotte MarinesYafuoku DomeUchikawa Seiichi
2016MộtFukuoka SoftBank Hawks*20Chiba Lotte MarinesYafuoku DomeKhông trao giải
HaiHokkaido Nippon-Ham Fighters*42Fukuoka SoftBank HawksSapporo DomeNakata Shō
2017MộtSaitama Seibu Lions12Tohoku Rakuten Golden Eagles*MetLife DomeKhông trao giải
HaiFukuoka SoftBank Hawks*42Tohoku Rakuten Golden EaglesYafuoku DomeUchikawa Seiichi
2018MộtFukuoka SoftBank Hawks*21Hokkaido Nippon-Ham FightersYafuoku DomeKhông trao giải
HaiSaitama Seibu Lions24Fukuoka SoftBank Hawks*MetLife DomeYanagita Yūki
2019MộtFukuoka SoftBank Hawks*21Tohoku Rakuten Golden EaglesYafuoku DomeKhông trao giải
HaiSaitama Seibu Lions14Fukuoka SoftBank Hawks*MetLife DomeImamiya Kenta
2020MộtVòng một Pacific League Climax Series bị hủy do đại dịch COVID-19
HaiFukuoka SoftBank Hawks*30[c]Chiba Lotte MarinesPayPay DomeNakamura Akira
2021MộtChiba Lotte Marines111Tohoku Rakuten Golden EaglesSVĐ ZOZO MarineKhông trao giải
HaiOrix Buffaloes310Chiba Lotte MarinesKyocera Dome OsakaSugimoto Yutaro
2022MộtFukuoka SoftBank Hawks20Saitama Seibu LionsPayPay DomeKhông trao giải
HaiOrix Buffaloes*41Fukuoka SoftBank HawksKyocera Dome OsakaYoshida Masataka
2023MộtChiba Lotte Marines*21Fukuoka SoftBank HawksSVĐ ZOZO MarineKhông trao giải
HaiOrix Buffaloes*41Chiba Lotte MarinesKyocera Dome OsakaSugimoto Yutaro
2024MộtHokkaido Nippon-Ham Fighters*21Chiba Lotte MarinesEs Con Field HokkaidoKhông trao giải
HaiFukuoka SoftBank Hawks*40Hokkaido Nippon-Ham FightersMizuho PayPay DomeYamakawa Hotaka
2025MộtHokkaido Nippon-Ham Fighters*20Orix BuffaloesEs Con Field HokkaidoKhông trao giải
HaiFukuoka SoftBank Hawks*43Hokkaido Nippon-Ham FightersMizuho PayPay DomeLiván Moinelo
    *     Đội đã giành chiến thắng.
ĐẬM : Đội đã sau giành chiến thắng tại Nippon Series.[32]
  • Vòng hai tổ chức đầu tiên năm 2007 là loạt đấu năm ván thắng ba, trong đó nhà vô địch mùa không có lợi thế chấp ván thắng.[33]
  • Thay vì tổ chức trận đấu đầu tiên của vòng hai năm 2008 tại Seibu Dome, các ván đấu trên sân nhà của Saitama Seibu Lions đã được tổ chức tại Sân vận động bóng chày Omiya Park, một sân vận động nhỏ hơn ở Saitama.[36]
  • Do đại dịch COVID-19, Climax Series 2020 đã được rút gọn một vòng năm ván thắng ba, với nhà vô địch giải đấu nhận được lợi thế thắng không một trận. [19]

Ý kiến

Sau khi được triển khai ở mùa giải 2007, thể thức Climax Series đã thu về nhiều ý kiến trái chiều. Trong khi việc triển khai một hệ thống playoff đồng nhất tại NPB được một số người hoan nghênh, một số khác lại cho rằng Climax Series hoàn toàn không cần thiết.

Robert Whiting đã nhận xét quyết định áp dụng thể thức trên là "muộn màng" và tin rằng thể thức đã nâng cao đáng kể sức hút của bóng chày Nhật Bản. [37] Nhà báo về đề tài bóng chày Asa Satoshi phân tích rằng mặc dù không hoàn hảo, nhưng Climax Series đã giúp giảm thiểu số trận đấu mang tính thủ tục và sức hút với người hâm mộ là bảo chứng cho sự cần thiết của nó. [38]

Tuy nhiên, Satoshi cũng có ý kiến bất đồng về việc trao cờ vô địch giải đấu cho đội quán quân mùa giải chính thay vì đội vô địch Climax Series, dẫn tới các trường hợp một đội có thể đồng thời giành ngôi vô địch Nhật Bản với chiến thắng tại Nippon Series,nhưng lại không được coi là nhà vô địch trong giải đấu trực thuộc của họ. [39] Cực đoan hơn nữa, về việc thể thức này để lọt các đội có tỷ lệ thắng dưới .500 đủ điều kiện tham gia Climax Series, Satoshi đã chất vấn, rằng trường hợp một đội thua nhiều hơn thắng trong mùa giải chính mà lại tiến tới giành được danh hiệu Nippon Series, liệu có xứng đáng với ngôi vị vô địch Nhật Bản hay không. [40]

Ở chiều ngược lại, cựu cầu thủ và huấn luyện viên NPB Hirosawa Katsumi cho rằng việc một đội có thành tích áp đảo ở mùa giải chính không thể tranh ngôi vô địch quốc gia do thất bại trong Climax Series là hoàn toàn vô lý, cho dù diễn biến bổ sung có làm tăng sức hút cho giải đấu đi nữa. Ông cũng lập luận rằng một thể thức trao cơ hội giành Nippon Series cho một nửa số đội của giải tại vòng playoff sẽ làm giảm tầm quan trọng của cả mùa giải chính trước đó. [41]

Qua nhiều năm, thể thức của Climax Series đã qua nhiều sửa đổi khác nhau. Để giải quyết vấn đề các đội yếu hoặc thành tích kém tiến sâu, đã có đề xuất trao cho nhà vô địch chi giải lợi thế sẵn một ván thắng ở vòng cuối nếu họ vô địch với cách biệt mười trận trở lên so với đội xếp sau; hoặc, thậm chí nghiêm ngặt hơn, một đội có tỉ lệ thắng trong mùa giải chính dưới .500 sẽ bị loại khỏi vòng playoff.[42] Tuy nhiên, có đề xuất khác cho rằng NPB có thể thay đổi cấu trúc căn bản giải đấu cùng với thể thức vòng loại trực tiếp. Nhà báo thể thao Ko Hirō đề xuất rằng mười hai đội của NPB nên được tái cấu trúc từ hai giải đấu thành ba bảng lấy cảm hứng từ Wild Card Series của MLB. Một vòng loại trực tiếp được tái cấu trúc mới sau đó sẽ có các đội vô địch giải đấu tự động tiến vào vòng hai cùng với đội thắng cuộc của vòng ngựa ô giữa hai đội kết thúc mùa giải với tỷ lệ thắng cao nhất nhưng không vô địch chi giải.[43] Bando Taro, một giảng viên tại Đại học Jumonji, cũng đề xuất tái cấu trúc NPB, tuy nhiên ông còn đi xa hơn bằng cách đề xuất bổ sung bốn đội mới để tạo ra bốn bảng đấu cho phép hai loạt trận vòng một giữa các đội vô địch bảng.[42]

Khi xem xét hai thể thức hậu mùa giải, một trước và một sau khi áp dụng thể thức Climax Series, Hirō kết luận rằng việc bổ sung vòng playoff đã có tác động tích cực đến NPB cả về khía cạnh chất lượng chuyên môn và kinh doanh. Năm 2003, với Nippon Series là loạt trận playoff duy nhất, chỉ có hai đội tham gia tối đa bảy ván đấu trong mười ngày với tổng số khán giả là 286.197 người. Trong khi đó, khi cả hai chi giải lần đầu tiên áp dụng hệ thống vòng loại trực tiếp vào năm 2007, có sáu đội tham gia tổng cộng 18 trận kéo dài 24 ngày, thu về 708.220 lượt khán giả, chứng tỏ rằng nhiều người hâm mộ đã gắn bó với giải đấu trong một khoảng thời gian dài hơn.[43]

Nhà phân tích bóng chày Okada Yusuke tin rằng quan điểm của người hâm mộ Nhật Bản và Mỹ về vòng loại trực tiếp khác nhau. Ông khẳng định rằng ở Mỹ, mùa giải thường được coi là một dạng "vòng loại" cho vòng playoff được coi là "sự kiện chính" của cả mùa giải. Ngược lại, người hâm mộ Nhật Bản có xu hướng coi trọng kết quả của một mùa giải dài, đầy cam go trước đó và cho rằng thật không công bằng nếu đội vô địch mùa giải thường bị loại ở một loạt đấu duy nhất trước Nippon Series. Okada tin rằng Climax Series là giải pháp cân bằng giữa hai quan điểm này đồng thời mang đến cho người hâm mộ nhiều trận đấu kịch tính hơn.[44]

Tài liệu tham khảo

  1. The final stage was known as the "second stage" from 2007 to 2009.[23]
  1. 1 2 3 4 "Central League to add playoffs". The Japan Times. ngày 8 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019.
  2. 1 2 3 Kuehnert, Marty (ngày 16 tháng 7 năm 2003). "Giants' owner should be more understanding of P.L." The Japan Times. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2009.
  3. Graczyk, Wayne (ngày 26 tháng 10 năm 2008). "Taking a look at the one-game advantage in the Climax Series". The Japan Times. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  4. 1 2 "PL plans to bring back playoffs". The Japan Times. Kyodo News. ngày 20 tháng 2 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  5. Graczyk, Wayne (ngày 26 tháng 10 năm 2008). "Taking a look at the one-game advantage in the Climax Series". The Japan Times. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  6. "PL announces format change". The Japan Times. ngày 8 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  7. Graczyk, Wayne (ngày 1 tháng 10 năm 2006). "Clearing up any confusion about the Pa League playoffs". The Japan Times. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  8. Ellsesser, Stephen (ngày 21 tháng 10 năm 2005). "Lotte Marines ready to tackle some unfinished business in Japan Series". The Japan Times. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  9. 1 2 Ellsesser, Stephen (ngày 25 tháng 10 năm 2005). "Tigers learning a tough postseason lesson". The Japan Times. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  10. "Agreeing to disagree". The Japan Times. ngày 25 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2017.
  11. Ellsesser, Stephen (ngày 25 tháng 10 năm 2005). "Tigers learning a tough postseason lesson". The Japan Times. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  12. "CL to follow PL playoff model". The Japan Times. ngày 5 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020.
  13. "PL officials frown at CL's playoff plan". The Japan Times. ngày 10 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  14. 1 2 "CL to follow PL playoff model". The Japan Times. ngày 5 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2020.
  15. 1 2 Graczyk, Wayne (ngày 26 tháng 10 năm 2008). "Taking a look at the one-game advantage in the Climax Series". The Japan Times. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  16. "Interleague, playoff plans agreed". The Japan Times. ngày 25 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009.
  17. "CL, PL scupper one-game edge". The Japan Times. Kyodo News. ngày 22 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009.
  18. "Climax Series schedules announced". The Japan Times. Kyodo News. ngày 19 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2009.
  19. 1 2 Nagatsuka, Kaz (ngày 15 tháng 6 năm 2020). "Central, Pacific Leagues announce schedules for remainder of season". The Japan Times. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2020. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Nagatsuka, Kaz" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  20. "順位表" [Ranking Table]. Sportsnavi (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  21. "【日本S記録室】DeNA桑原将志が66年長嶋茂雄&85年バースに並ぶ/日本一DeNAはレギュラーシーズン最低勝率" [[Japan Series Records] DeNA's Masayuki Kuwahara matches Shigeo Nagashima in 1966 and Bass in 1985 / Japan's best DeNA has the worst regular season winning percentage]. Sports Hochi (bằng tiếng Japanese). ngày 4 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2024.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  22. "【日本S記録室】DeNA桑原将志が66年長嶋茂雄&85年バースに並ぶ/日本一DeNAはレギュラーシーズン最低勝率" [[Japan Series Records] DeNA's Masayuki Kuwahara matches Shigeo Nagashima in 1966 and Bass in 1985 / Japan's best DeNA has the worst regular season winning percentage]. Sports Hochi (bằng tiếng Japanese). ngày 4 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2024.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  23. "プロ野球、開幕延期でCS中止へ…143試合維持を最優先「4月中目指す」" [Pro baseball postpones start of season, cancels CS...Maintaining 143 games is top priority: "We're aiming for the end of April."]. Sankei Sports (bằng tiếng Nhật). ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2021.
  24. "Giants, Dragons play to stalemate". The Japan Times. Kyodo News. ngày 25 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2009.
  25. "【日本S記録室】DeNA桑原将志が66年長嶋茂雄&85年バースに並ぶ/日本一DeNAはレギュラーシーズン最低勝率" [[Japan Series Records] DeNA's Masayuki Kuwahara matches Shigeo Nagashima in 1966 and Bass in 1985 / Japan's best DeNA has the worst regular season winning percentage]. Sports Hochi (bằng tiếng Japanese). ngày 4 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2024.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  26. Odeven, Ed (ngày 16 tháng 10 năm 2007). "Woods: Dragons fire at perfect time". The Japan Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  27. Coskrey, Jason (ngày 21 tháng 10 năm 2007). "Dragons earn return trip to Japan Series". The Japan Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  28. Coskrey, Jason (ngày 21 tháng 10 năm 2008). "Late Woods homer gives Dragons win". The Japan Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  29. Coskrey, Jason (ngày 26 tháng 10 năm 2008). "Giants advance to Japan Series". The Japan Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  30. "Dragons advance to second stage". Kyodo News. The Japan Times. ngày 20 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  31. Coskrey, Jason (ngày 25 tháng 10 năm 2009). "Giants crush Dragons in series finale". The Japan Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  32. 1 2 "年度別日本シリーズ結果" [Yearly Japan Series Results]. Nikkan Sports (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2020.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "JS winners" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  33. 1 2 Graczyk, Wayne (ngày 26 tháng 10 năm 2008). "Taking a look at the one-game advantage in the Climax Series". The Japan Times. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Graczyk, Wayne" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  34. Graczyk, Wayne (ngày 21 tháng 9 năm 2008). "Stairs still slugging away 15 years after Japan stint". The Japan Times. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2009.
  35. "2020年度セ・パ公式戦 全試合日程発表". Nippon Professional Baseball. ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
  36. Nagatsuka, Kaz (ngày 18 tháng 10 năm 2008). "Hot-hitting Lions crush Fighters in series opener". The Japan Times. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
  37. "CL, PL scupper one-game edge". The Japan Times. Kyodo News. ngày 22 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009.
  38. Satoshi, Asa (ngày 5 tháng 10 năm 2018). "プロ野球におけるプレーオフの歴史。パ・リーグには幻の制度があった" [History of playoffs in professional baseball. There was a strange system in the Pa League.]. Sportiva (bằng tiếng Nhật). Shueisha. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020.
  39. Satoshi, Asa (ngày 27 tháng 9 năm 2019). "プロ野球、ポストシーズンへ。毎年あり方が議論されるこの制度を考えるのに、他国事情を調べてみた (1)" [Professional baseball, to the postseason. To consider the yearly arguments about how things ought to be, I examine situations in other countries.] (bằng tiếng Nhật). Yahoo Japan. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2020.
  40. Satoshi, Asa (ngày 5 tháng 10 năm 2018). "プロ野球におけるプレーオフの歴史。パ・リーグには幻の制度があった" [History of playoffs in professional baseball. There was a strange system in the Pa League.]. Sportiva (bằng tiếng Nhật). Shueisha. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020.
  41. "Climax Series schedules announced". The Japan Times. Kyodo News. ngày 19 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2009.
  42. 1 2 Bando, Taro (ngày 10 tháng 10 năm 2023). "クライマックスシリーズでぶっちぎり優勝チームに漂う不公平感と興行面での面白さを両立させる手段とは" [What is the means to balance the sense of unfairness and entertainment value of a team that wins the Climax Series by a landslide?] (bằng tiếng Nhật). Yahoo Japan. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2024.
  43. 1 2 Hiroo, Ko (ngày 21 tháng 10 năm 2023). "「クライマックスシリーズ不要派」に欠けた視点" [“Climax-Series-is-unnecessary crowd" have lacked perspective]. Toyo Keizai Online (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Hiroo" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  44. Okada, Yusuke (ngày 21 tháng 10 năm 2023). "理不尽CS、巨人が負けたら変わるのか" [There's no evidence that "long gaps between games are a disadvantage" in baseball playoffs]. The Nikkei (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024.