Bước tới nội dung

Nguyễn Khánh Toàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Giáo sư, viện sĩ, chính khách
Nguyễn Khánh Toàn
Chức vụ
Nhiệm kỳ1965  1982
Tiền nhiệmTrần Huy Liệu
Kế nhiệmĐào Văn Tập

Phó Trưởng ban
Ban Khoa giáo Trung ương
Nhiệm kỳ1964  1965

Đại biểu Quốc hội khóa II, III
Nhiệm kỳ1960  1971

Ủy viên dự khuyết
Trung ương Đảng khóa III
Nhiệm kỳ1960  1976
Phó chủ nhiệm
Ủy ban Khoa học Nhà nước
Nhiệm kỳ1960  1965
Thứ trưởng Bộ Giáo dục
Nhiệm kỳ3 tháng 11 năm 1946  
Bộ trưởngNguyễn Văn Huyên
Thông tin cá nhân
Quốc tịchViệt Nam Việt Nam
Sinh(1905-08-01)1 tháng 8, 1905
Vinh, Nghệ An
Mất9 tháng 12, 1993(1993-12-09) (88 tuổi)
Hà Nội
Nghề nghiệpnghiên cứu, giảng dạy, chính khách
Đảng chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
Vợ
  • Ngũ Chân (kết hôn 1951, người Trung Quốc)
  • Đào Ngọc Bich
Học vấnGiáo sư
Quê quánHương Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên – Huế.
Tặng thưởngHuân chương Sao Vàng Huân chương Sao Vàng
Huân chương Hồ Chí Minh Huân chương Hồ Chí Minh
Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

Sự nghiệp khoa học
Ngànhsử học
Học vịTiến sĩ
Công trình nổi bật
  • Vài nhận xét về thời kỳ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia Long
  • Vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản

Giải thưởng
Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996
Khoa học Công nghệ

Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993) là nhà cách mạng, nhà giáo, nhà khoa học Việt Nam. Ông là Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng khóa III (1960 - 1976), đại biểu Quốc hội các khóa II và III (1960 - 1971). Ông được truy tặng Huân chương Sao VàngGiải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ. Ông có học hàm Giáo sư; là viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô và Viện Hàn lâm Khoa học CHDC Đức.

Tiểu sử

Nguyễn Khánh Toàn (bút danh: Hoàng Chính Quang, Mỉa Mai) sinh ngày 1 tháng 8 năm 1905 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong một gia đình công chức nghèo. Quê gốc làng Thanh Lương, phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế (nay là phường Kim Trà, thành phố Huế).

Năm 1926, Nguyễn Khánh Toàn tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương.

Năm 1929, ông học tại Trường Đảng Liên Xô. Sau đó được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ là Phó Ban Đông Dương.

Năm 1939, ông được cử sang hoạt động tại Trung Quốc rồi về Việt Nam vào tháng 10 năm 1945.

Năm 1946 đến 1959, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục.[1]

Năm 1959 đến 1960, ông được cử làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước.[1] Sau khi Ủy ban Khoa học Xã hội tách ra từ Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) vào năm 1965, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Ủy ban này này cho đến ngày nghỉ hưu (năm 1982). Chủ nhiệm Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài, Chủ nhiệm Ủy ban Thiếu niên, Nhi đồng Trung ương. Đại biểu Quốc hội khóa II (7/1960).[1]

Ông là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (1960 - 1976),[2] đại biểu Quốc hội các khóa II và III (1960 - 1971).

Năm 1962 đến 1964, ông tiếp tục được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục.[1] Ông cũng từng làm Phó Ban Khoa giáo Trung ương (1964-1965).

Ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Sử học (1969 - 1980); Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.[3]

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1965-1982), Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Xô. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước chỉ đạo việc biên soạn và xét duyệt Từ điển tiếng Việt phổ thông.[1]

Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1993, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.

Sự nghiệp

Hoạt động cách mạng

Năm 1924, khi còn là sinh viên văn khoa Trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương ở Hà Nội, Nguyễn Khánh Toàn đã tham gia phong trào của học sinh, sinh viên đòi trả tự do cho Phan Bội Châu.[3]

Năm 1926, ông vào Sài Gòn làm báo L’Annam do Luật sư Phan Văn Trường chủ trương. Sau đó, cùng với một số trí thức yêu nước ở Sài Gòn, ông sáng lập tờ báo tiếng Pháp Le Nha que. Trên báo này, ông cho đăng Bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Mác và Ănggen và Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Versailles tháng 6-1919. Vì thế ông đã bị thực dân Pháp bắt giam. Năm 1927, ông bị xử án treo.

Năm 1928, Nguyễn Khánh Toàn đệ đơn lên Thống đốc Trung Kỳ xin đi Pháp. Năm 1929, ông sang học tại Trường Đảng Liên Xô. Năm 1930, Quốc tế Cộng sản giới thiệu ông làm nghiên cứu sinh sử học. Sau đó, với bí danh Minin, ông trở thành giảng viên, phiên dịch viên của trường và cán bộ nghiên cứu trong Viện dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, đảm nhận chức vụ Phó ban Đông Dương.[4]

Năm 1939, ông được cử về Trung Quốc hoạt động với nhóm Cộng sản Việt Nam ở Diên An. Tại đây, với bí danh Hoàng Chính Quang, ông tham gia giảng dạy tại Khoa Lịch sử cách mạng thế giới và Khoa tiếng Nga.

Tháng 10 năm 1945, ông về Việt Nam tham gia vào nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam cho đến ngày nghỉ hưu.

Giáo dục

Nguyễn Khánh Toàn là linh hồn của hai cuộc cải cách giáo dục của Việt Nam: lần thứ nhất vào năm 1950 và lần thứ hai vào năm 1960. Ông là kiến trúc sư của những thắng lợi trong giai đoạn đầu của sự nghiệp giáo dục cách mạng ở Việt Nam.[5] Ông đề xuất hàng loạt vấn đề lý luận có ý nghĩa quan trọng hàng đầu với công tác giáo dục cho đến nay vẫn còn giá trị.[4]

Khoa học

Năm 1933, ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở Trường Đại học Phương Đông, Liên Xô.[6]

Ông nói và viết thành thạo 4 ngoại ngữ: Pháp, Nga, Hoa, Anh. Đây chính là tấm gương sáng cho mọi cán bộ khoa học trong việc học tập, sử dụng ngoại ngữ. Ông tinh thông cả văn hóa phương Đông lẫn văn hóa phương Tây, vừa bao quát, vừa chuyên sâu trong các lĩnh vực sử học, văn học, triết học, xã hội học, giáo dục học...[4]

Ông là người có công đầu trong việc thành lập một số bộ môn khoa học xã hội. Ông là cầu nối giữa nền khoa học Việt Nam với các nước. Ông đã tập hợp được nhiều nhà khoa học hàng đầu của cả nước về nghiên cứu và làm việc, cùng nhau xây dựng nên một nền khoa học xã hội Việt Nam.

Năm 1969, Nguyễn Khánh Toàn là một trong những người đầu tiên đề xuất nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.[3]

Về nghiên cứu khoa học, Nguyễn Khánh Toàn là nhà khoa học lớn với nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc. Tính từ năm 1926 cho đến khi qua đời, ông đã có trên 500 bài viết bằng nhiều thứ tiếng được đăng tải trên các báo trong và ngoài nước.[5] Hai công trình tiêu biểu nhất của ông: Vài nhận xét về thời kỳ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia LongVấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ đợt I vào năm 1996.[6]

Cho đến nay ông là người Việt Nam duy nhất có một tuyển tập tác phẩm được dịch, xuất bản ở Liên Xô trước đây. Đó là tập Tháng Mười vĩ đại và Việt Nam do Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô xuất bản năm 1979. Lời giới thiệu của nhà xuất bản đã khẳng định sự đánh giá rất cao của giới học giả Xô viết về ngòi bút lý luận của ông từ những năm 30 thế kỷ XX.

Ông từng là Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo nghiên cứu, phiên dịch và xuất bản Đại Việt sử ký toàn thư.

Ông được phong hàm Giáo sư và được bầu làm viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô và Viện Hàn lâm Khoa học CHDC Đức.

Công trình chính

  • Giáo dục dân chủ mới (1947);
  • Đại cương Văn học sử Việt Nam (1954);
  • Vài nhận xét về thời kỳ từ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia Long (1954);
  • Vấn đề dân tộc trong Cách mạng vô sản (1960-1962);
  • Chung quanh một số vấn đề văn học và giáo dục (1972);
  • Cách mạng và khoa học xã hội (1978);
  • Một số vấn đề của khoa học nhân văn (1992).[6]

Chỉ đạo biên soạn

  • Lịch sử Việt Nam, 1971-1989 (chủ biên)
  • Lịch sử văn học Việt Nam (tập I, 1970, 1971, 1976 và 2004)
  • Tổng tập văn học (trọn bộ 42 tập, 2000)
  • Từ điển tiếng Việt
  • Ngữ pháp tiếng Việt (1983)

Vinh danh

  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ (truy tặng năm 1996)
  • Tên ông được đặt cho một trường trung học cơ sở tại Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế và một đường phố ở quận Cầu Giấy, Hà Nội, một đường phố ở phường An Cựu - Huế.

Danh hiệu vinh dự

Khen thưởng

Nguồn:[9]

Đời tư

Năm 1939, Nguyễn Khánh Toàn dạy học tại Trường Trung Quốc nữ tú đại học, ở thành phố Diên An và đã làm việc ở khoa Lịch sử cách mạng thế giới và khoa tiếng Nga. Tại đó, ông gặp một nữ sinh tên là Ngũ Chân. Ông và bà kết hôn vào năm 1951. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng tham dự đám cưới của hai người. Tháng 3 năm 1943, Ngũ Chân sinh Ngũ Anna; đến tháng 12 năm 1944, Bạch Lan ra đời. Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, Hồ Chí Minh đã gửi điện cho Nguyễn Khánh Toàn, mong muốn ông quay về Việt Nam công tác. Tháng 10 năm đó, ông trở về Việt Nam.[10] Ngũ Chân không hy vọng được gặp lại ông. Thông cảm với hoàn cảnh của Ngũ Chân, tổ chức đã cho phép bà đi bước nữa. Chồng bà cũng là một cán bộ công tác tại Diên An.[11]

Sau một thời gian Nguyễn Khánh Toàn trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh có điện sang hỏi các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc về tình hình mẹ con Ngũ Chân. Sau khi biết tin về bà, Hồ Chí Minh đã cho phép Nguyễn Khánh Toàn kết hôn với Đào Ngọc Bích ở Việt Bắc.[11] Ông và Đào Ngọc Bích có 3 người con: 2 gái, 1 trai.[5]

Năm 1954, Nguyễn Khánh Toàn trở lại Bắc Kinh để tìm mẹ con Ngũ Chân. Ông và Ngũ Chân gặp lại nhau sau 10 năm xa cách, khi đó mỗi người đều đã có gia đình riêng. Dù cả hai đều cảm thấy tiếc nuối, nhưng vẫn hạnh phúc khi mỗi người đều có 3-4 người con. Ông và Ngũ Chân vẫn giữ mối quan hệ thân thiết như những người bạn,[10] nhưng hai người không bao giờ gặp lại nhau kể từ cuối năm 1945 cho tới năm 1993 (khi chồng Ngũ Chân qua đời). Ngũ Chân qua đời vào năm 2004 tại Bắc Kinh.[11]

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 5 "Nguyễn Khánh Toàn". Nhân vật - Sự kiện (Thông tấn xã Việt Nam).
  2. "DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA III (1960 - 1976)". Tư liệu Đảng Cộng sản Việt Nam. ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  3. 1 2 3 Văn Chính. "Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn - nhà khoa học suốt đời gắn vó với cách mạng". Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Thừa Thiên – Huế. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  4. 1 2 3 Tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An. "Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn" (PDF). THCS Nguyễn Khánh Toàn. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  5. 1 2 3 Nguyễn Thanh Tú. "GS. Nguyễn Khánh Toàn – nhà kiến trúc sư trong giai đoạn đầu của nền giáo dục cách mạng". Đại học Quốc gia Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  6. 1 2 3 "30 năm Ngày mất Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn: 'Sống trọn lẽ sống, xứng đáng một cuộc đời'". Báo Thể thao Văn hóa. ngày 9 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
  7. Nguyễn Thị Loan. "Ký ức về GS.VS Nguyễn Khánh Toàn". Bảo tàng di sản các nhà khoa học Việt Nam. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  8. "Truy tặng Cố Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn Huân chương Sao Vàng". Báo Nhân Dân. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  9. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An. "Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn" (PDF). THCS Nguyễn Khánh Toàn. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2025.
  10. 1 2 Trần Thường - Tuấn Trần (ngày 24 tháng 9 năm 2025). "Cuộc sống của con gái GS Nguyễn Khánh Toàn tại Trung Quốc". VietNamNet. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
  11. 1 2 3 Phạm Thành Long (ngày 20 tháng 6 năm 2008). "Tình thương yêu của Bác Hồ dành cho 2 người con của GS-VS Nguyễn Khánh Toàn". Công an nhân dân. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.

Liên kết ngoài

Xem thêm