Bước tới nội dung

Juan của Aragón và Castilla

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Juan của Aragón và Castilla
Thân vương xứ Asturias
Tại vị1478 – 1497
Tiền nhiệmIsabel của Castilla
Kế nhiệmIsabel của Castilla
Thân vương xứ Gerona
Tại vị1479 – 1497
Tiền nhiệmFerrando của Aragón
Kế nhiệmMiguel da Paz của Bồ Đào Nha
Thông tin chung
Sinh(1478-06-30)30 tháng 6 năm 1478
Sevilla, Vương quốc Castilla
Mất4 tháng 10, 1497(1497-10-04) (19 tuổi)
Salamanca, Vương quốc Castilla
Phối ngẫuMargarete của Áo
Vương tộcNhà Trastámara
Thân phụFerrando II của Aragón Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫuIsabel I của Castilla Vua hoặc hoàng đế
Tôn giáoCông giáo La Mã

Juan của Aragón và Castilla, Thân vương xứ Asturias và Gerona (tiếng Tây Ban Nha: Juan de Aragón; tiếng Đức: Johann von Aragón und Kastilien; Tiếng Bồ Đào Nha: João, Príncipe das Astúrias; tiếng Pháp: Jean d'Aragon; Tiếng Anh: John, Prince of Asturias; sinh ngày 30 tháng 6 năm 1478, mất ngày 4 tháng 10 năm 1497) là người thừa kế của Vương quốc CastillaAragón cho đến khi qua đời.

Thân thế

Là người con trai duy nhất của hai vị Quân chủ Công giáo (Isabela I của CastillaFerdinand II của Aragón), chào đời tại Sevilla vào ngày 30 tháng 6 năm 1478.[1] Vào thời điểm ấy, phụ mẫu đang lâm chiến trong Cuộc chiến Kế vị Castilla, đối đầu với Juana la Beltraneja, cháu gọi Nữ vương Isabela bằng cô, đồng thời là vợ của Quốc vương Afonso V của Bồ Đào Nha.[2]

Đoàn tùy tùng trong lễ rửa tội của Juan dọc theo các đường phố Seville,của Francisco Pradilla Ortiz.

Sự ra đời của Juan có ý nghĩa chính trị to lớn, góp phần củng cố vững chắc địa vị quân chủ của Nữ vương Isabela.[3] Khi Juan chào đời, hoàng gia đã có một trưởng nữ là Vương nữ Isabela;[4] các em gái của ông sau đó lần lượt là Juana, MariaCatherine.[5]

Hai vị Quân chủ Công giáo cuối cùng đã giành thắng lợi trong cuộc chiến chống lại Quốc vương và Vương hậu Bồ Đào Nha.[6] Để thương lượng hòa ước với Isabela, Afonso V đã phái Beatrice, Công tước phu nhân xứ Viseu, đến làm đặc sứ để đàm phán một thỏa thuận hòa bình. Hai người gặp nhau vào tháng 3 năm 1479.[7] Beatrice là em dâu của Afonso, đồng thời là dì ruột của Isabella. Theo các điều khoản của hòa ước mà hai bên cuối cùng đạt được, cựu Vương hậu Bồ Đào Nha (sau khi hôn phối của bà bị Giáo hoàng tuyên bố vô hiệu) được trao hai lựa chọn: hoặc kết hôn với Vương tử Juan, chờ đợi khoảng 13–14 năm cho đến khi ông đủ tuổi thành hôn (khi đó Juana bản thân cũng đã ngoài ba mươi tuổi), hoặc xuất gia, bước vào đời sống tu viện. Dù lựa chọn con đường nào, bà đều buộc phải từ bỏ hoàn toàn quyền kế vị ngai vàng.[8][9]

Thời thơ ấu

Juan lúc nhỏ, vẽ bởi họa sĩ vô danh, khoảng những năm 1490.

Dẫu gánh vác trọng trách của một Nữ vương trị vì,[10] Isabela I vẫn là một người mẹ vô cùng tận tâm. Juan, với tư cách là đích tử của bà lại thêm thể chất yếu ớt,[11][12] hết mực được yêu chiều. Nữ vương thường trìu mến gọi con trai là “thiên thần của trẫm”, ngay cả trong những lúc phải nghiêm khắc răn dạy.[13] Isabela và Ferdinand đã tìm mọi cách để bảo toàn sức khỏe mong manh của con trai: từ việc cầu nguyện, bố thí làm việc thiện, cho đến giám sát chặt chẽ sinh hoạt và thể trạng của ông.[14][15] Những người nhũ mẫu trực tiếp chăm sóc Juan gồm María de Guzmán, một thành viên của gia tộc Mendoza quyền thế tại Tây Ban Nha,[12] và Juana de Torres.[16] Trong đó, Juana de Torres đã ở bên cạnh suốt nhiều năm, thậm chí kéo dài đến tận thời niên thiếu, rất có thể do tình trạng sức khỏe luôn khiến hoàng gia lo lắng.[17]

Ông nội của Juan, tức Quốc vương Juan II xứ Aragón, đặc biệt quan tâm đến việc giáo dưỡng đứa cháu nội này. Nhà vua từng nghiêm khắc cảnh báo Ferdinand rằng tuyệt đối không nên giao việc dạy dỗ cho một đại quý tộc duy nhất, bởi người đó sẽ có ảnh hưởng quá lớn và khó kiểm soát đối với tâm tính cũng như tương lai của cậu.[12]

Năm 1492, nhằm tỏ lòng kính trọng đối với Juan, nhà thám hiểm Christopher Columbus đã đặt tên hòn đảo mới phát hiện là Isla Juana (đảo Juan).[18] Đến năm 1494, hai con trai của Columbus là Diego và Ferdinand Columbus được đưa vào triều, để làm thị vệ bên cạnh Juan.[19]

Giáo dục

Bức tranh Sự giáo dục của Juan của Salvador Martínez Cubells mô tả quá trình giáo dục ban đầu của cậu, dưới thời Isabela I và Hồng y Cisneros, nhấn mạnh việc chuẩn bị cho người thừa kế nam duy nhất để thống nhất Aragón và Castila.

Với tư cách là người thừa kế nam duy nhất của Song vương Công giáo, Juan được hưởng một nền giáo dưỡng hết sức nghiêm cẩn, được thiết kế riêng nhằm chuẩn bị cho việc đảm đương thiên mệnh quân vương trong tương lai.[20] Nền giáo dục này kết hợp giữa huấn luyện tôn giáo, đạo đức truyền thống với tinh thần nhân văn Phục Hưng đương thời, chú trọng song song vào việc bồi dưỡng đức tin, phẩm hạnh và trí tuệ, hoàn toàn phù hợp với lý tưởng trị quốc của song thân và trọng trách kế vị mà ông được kỳ vọng kế thừa.[21]

Ngay từ thuở ấu niên, việc giáo dưỡng của Vương tử đã do những học giả và giáo sĩ danh tiếng trực tiếp đảm trách. Người thầy đầu tiên của là tu sĩ Dòng Đa Minh Diego de Deza, một thần học gia lỗi lạc, về sau trở thành Giám mục Salamanca và giữ chức Tổng Thẩm tra Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha.[22] Dưới sự chỉ dẫn của Deza, Juan được học tiếng La-tinhthần học, với trọng tâm đặt vào giáo lý Kitô giáo chính thống.[23][24] Năm 1492, học giả nhân văn người Ý Peter Martyr d’Anghiera làm gia sư riêng cho cậu.[22] Vị học giả này đã đưa ông tiếp xúc với tư tưởng nhân văn Phục Hưng, mở rộng chương trình học sang các môn cổ học và tri thức thế tục, vượt ra ngoài khuôn khổ giáo dục kinh viện truyền thống.

Khi được mười ba tuổi, Nữ vương mời con trai các đại quý tộc đến cư trú tại triều đình, trong số đó có những nhân vật sau này lừng danh như Nicolás de Ovando y Cáceres và Gonzalo Fernández de Oviedo y Valdés.[25] Cách sắp đặt này nhằm tránh để Juan trở nên nuông chiều quá mức, đồng thời tạo một môi trường đồng lứa vừa bầu bạn vừa răn dạy, đúng theo lý tưởng giáo dục của vương triều.[23]

Sinh hoạt hằng ngày của ông phản ánh tính chất kỷ luật nghiêm ngặt trong của nền giáo dưỡng hoàng gia quá trình nuôi dạy. Buổi sớm, ông được cung nhân hầu hạ chỉnh trang y phục, sau đó là cầu nguyện và học giáo lý dưới sự giám sát của gia sư. Sau khi tham dự Thánh lễ, lại bước vào các giờ học thuật chính khóa. Ngoài các môn học trí thức, còn được huấn luyện cưỡi ngựa, đấu thương và săn bắn, những kỹ năng không thể thiếu đối với một quân vương tương lai. Đặc biệt Juan tỏ ra có thiên phú về âm nhạc, thành thạo các nhạc cụ như sáo và đàn clavichord.[23]

Hôn nhân

Ngay từ những năm đầu đời của Juan, Isabel và Ferdinand đã bắt đầu cân nhắc các phương án hôn phối nhằm củng cố vị thế ngoại giao của vương triều. Ứng viên đầu tiên từng được xem xét là Vương nữ Catherine xứ York, con gái của Quốc vương Edward IV nước Anh và Vương hậu Elizabeth Woodville. Dù một khế ước hôn nhân đã được ký kết vào năm 1478, cuộc hôn phối này rốt cuộc không thành. Những ứng viên khác từng được đề xuất còn có Anne xứ BretagneCatherine xứ Navarre.[26]

Vợ của Juan, Magaret của Áo.

Năm 1494, Quốc vương Charles VIII của Pháp tuyên bố quyền thừa kế đối với vương quốc Napoli và phát động cuộc xâm lược bán đảo Ý. Do Napoli thuộc một chi thứ của nhà Trastámara, hành động này trực tiếp đe dọa lợi ích chiến lược của vương quyền Aragón.[27] [28]Trước tình thế ấy, Quốc vương Ferdinand bắt đầu kiến tạo một liên minh chống Pháp, về sau được gọi là Thánh Liên minh. Nhằm lôi kéo sự tham gia của Hoàng đế Maximilian I, Ferdinand tiến hành các cuộc thương thuyết về hôn phối vương triều giữa nhà Habsburg và hoàng thất Tây Ban Nha, với mục tiêu củng cố mối liên minh tiềm năng giữa Thánh chế La Mã và Tây Ban Nha.[29] Ngày 20 tháng 1 năm 1495, tại Antwerp, các điều khoản cho một song hôn ước được nhất trí: Juan sẽ thành hôn với Nữ Đại vương công Margarete của Áo, con gái của Hoàng đế Maximilian I; trong khi đó, em gái Juana, sẽ gả cho Đại công tước Philipp Đẹp Trai,[30][31] con trai của Maximilian. Thỏa thuận này được chính thức phê chuẩn vào ngày 5 tháng 11 cùng năm tại Malines.[32]

Cuối năm 1496, Juana rời Tây Ban Nha trên một hạm đội hùng hậu để sang kết hôn với Philip. Vài tháng sau, chính hạm đội ấy quay trở lại, hộ tống Nữ Đại công tước Margaret đến bán đảo Iberia.[33]

Khi ấy, Margaret mới mười sáu tuổi, và từng một lần được hứa gả cho Charles VIII của Pháp, song hôn ước đó đã bị hủy bỏ.[34] Hành trình sang Tây Ban Nha suýt nữa kết thúc trong thảm họa khi con tàu gặp bão lớn tại vịnh Biscay.[35] Trong cơn nguy biến, Margaret vội vàng tự viết bia mộ cho chính mình, phòng khi không thể đặt chân tới xứ sở xa lạ.[36] Tuy nhiên, Margaret đã đến Tây Ban Nha an toàn và kết hôn với Juan vào ngày 3 tháng 4 năm 1497 tại Nhà thờ chính tòa Burgos.[37] Dẫu đây là một cuộc hôn phối thuần túy chính trị, đôi vợ chồng nhanh chóng nảy sinh tình cảm sâu đậm dành cho nhau.[38] Hai người gắn bó đến mức khiến bác sĩ trong triều không khỏi lo ngại, bởi thời gian Juan ở cạnh vợ quá nhiều, điều được cho là bất lợi đối với thể trạng vốn yếu ớt.[37]

Qua đời

Tập tin:SepulcroPrincipeJuan.jpg
Quan tài của Juan.

Vào tháng 9 năm 1497, do thể trạng vốn suy nhược, Juan không thể theo ba mẹ và chị gái Isabel đến biên giới Bồ Đào Nha để cử hành hôn lễ của bà với Quốc vương Manuel I.[38] Thay vào đó, Juan cùng vợ di chuyển đến Salamanca, nơi hai người được đón tiếp bằng một nghi lễ nhập thành long trọng.[39] Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, tình trạng sức khỏe của ông đột ngột chuyển biến xấu, buộc Ferdinand phải vội vã trở về bên giường bệnh của con trai.[40] Ngày 4 tháng 10 năm 1497, Juan qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ,[41] nhiều khả năng do lao phổi[42] hoặc đậu mùa. Cái chết của ông gây chấn động sâu sắc trong triều đình và toàn cõi Tây Ban Nha. Truyền rằng chú chó săn trung thành của Juan, tên Bruto, đã không rời linh cữu của chủ nhân trong suốt lễ canh thức tại đại giáo đường Salamanca, như thể cùng tiễn biệt trần thế. Nữ vương Isabel, đau đớn tột cùng, về sau vẫn giữ con vật bên mình, coi đó như một kỷ vật sống của người con trai yêu dấu.

Bi kịch càng thêm chồng chất khi sáu tháng sau, Margaret sinh hạ một bé gái chết non, dập tắt hoàn toàn hy vọng duy trì dòng dõi trực hệ của Juan.

Phả hệ

Tham khảo

  1. Álvarez 2003, tr. 208.
  2. Kamen 2005, tr. 1–3.
  3. Stuart 1991, tr. 167.
  4. Stuart 1991, tr. 92.
  5. Stuart 1991, tr. 177,198,228.
  6. Fernández-Armesto 1991, tr. 22.
  7. Stuart 1991, tr. 173.
  8. Jansen 2002, tr. 17.
  9. Álvarez 2003, tr. 214.
  10. Stuart 1991, tr. 220.
  11. Álvarez 2003, tr. 467.
  12. 1 2 3 Stuart 1991, tr. 170.
  13. Tremlett 2010, tr. 46.
  14. Stuart 1991, tr. 171.
  15. Sánchez 2018, tr. 110-111.
  16. Sánchez 2018, tr. 109.
  17. Sánchez 2018, tr. 111.
  18. Stuart 1991, tr. 319.
  19. Stuart 1991, tr. 356.
  20. Jansen 2002, tr. 70.
  21. Stuart 1991, tr. 221, 305.
  22. 1 2 Stuart 1991, tr. 305.
  23. 1 2 3 Stuart 1991, tr. 221.
  24. Fernández-Armesto 1991, tr. 59.
  25. Fernández de Oviedo y Valdés 1870, tr. 72.
  26. Edwards 2005, tr. 146–148.
  27. Kamen 2005, tr. 7.
  28. Elliot 1963, tr. 122.
  29. Wiesflecker, Herman (1990). Maximilian I (PDF). Wien & Köln: Böhlau Verlag. tr. 407.
  30. Edwards 2005, tr. 148.
  31. Elliot 1963, tr. 125.
  32. Wiesflecker 1990, tr. 460.
  33. Stuart 1991, tr. 350.
  34. Stuart 1991, tr. 308.
  35. Stuart 1991, tr. 360.
  36. Tremlett 2010, tr. 39.
  37. 1 2 Stuart 1991, tr. 361.
  38. 1 2 Edwards 2005, tr. 150.
  39. Stuart 1991, tr. 361–362.
  40. Stuart 1991, tr. 362.
  41. Edwards 2005, tr. 151.
  42. Fernández-Armesto 1991, tr. 121.
  43. 1 2 Ferdinand I, King of Aragon tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  44. 1 2 3 Henry III, King of Castille tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  45. 1 2 Isabella I, Queen of Spain tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
  46. 1 2 Leese, Thelma Anna, Blood royal: issue of the kings and queens of medieval England, 1066–1399, (Heritage Books Inc., 1996), 222.
  47. 1 2 3 Sidney Lee, biên tập (1896). "Philippa of Lancaster" . Dictionary of National Biography. Quyển 45. Luân Đôn: Smith, Elder & Co. tr. 167.
  48. Armitage-Smith, Sydney (1905). John of Gaunt: King of Castile and Leon, Duke of Aquitaine and Lancaster, Earl of Derby, Lincoln, and Leicester, Seneschal of England. Charles Scribner's Sons. tr. 77. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  49. 1 2 3 Gerli, E. Michael; Armistead, Samuel G. (2003). Medieval Iberia. Taylor & Francis. tr. 182. ISBN 9780415939188. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  50. 1 2 Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "John II of Aragon" . Encyclopædia Britannica. Quyển 15 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
  51. 1 2 Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "Ferdinand V. of Castile and Leon and II. of Aragon" . Encyclopædia Britannica. Quyển 10 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
  52. 1 2 Miron, E. L. (1913). "Doña Leonor of Alburquerque". The Queens of Aragon: Their Lives and Times. Brentano's. tr. 265. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018.
  53. 1 2 3 4 Ortega Gato, Esteban (1999). "Los Enríquez, Almirantes de Castilla" [The Enríquezes, Admirals of Castille] (PDF). Publicaciones de la Institución "Tello Téllez de Meneses" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 70. tr. 42. ISSN 0210-7317.
  54. 1 2 "Mariana de Ayala Córdoba y Toledo". Ducal House of Medinaceli Foundation. Truy cập 21 tháng 8 2018.

Nguồn

Xem thêm

  1. Con gái của John xứ Gaunt với người vợ đầu là Blanche xứ Lancaster,[48] điều đó khiến bà là em cùng cha khác mẹ với Catherine của Lancaster. Mẹ của Catherine là Constanza của Castilla.
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng