Margarete của Áo
| Margarete của Áo | |
|---|---|
| Vương phi xứ Asturias | |
| Phu quân | Juan của Aragón |
| Tiền nhiệm | Blanca II của Navarra |
| Kế nhiệm | Maria Manuela của Bồ Đào Nha |
| Công tước phu nhân xứ Savoia | |
| Tại vị | 2 tháng 12 năm 1501 - 10 tháng 9 năm 1504 (2 năm, 283 ngày) |
| Phu quân | Filiberto II của Savoia |
| Tiền nhiệm | Iolanda Ludovica của Savoia |
| Kế nhiệm | Beatriz của Bồ Đào Nha |
| Thống đốc của Hà Lan thuộc Habsburg | |
| Tại vị | Lần thứ nhất: 1507 – 1515 Lần thứ hai: 1519 – 1530 |
| Tiền nhiệm | Willem II xứ Croÿ |
| Kế nhiệm | María của Castilla |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 10 tháng 1 năm 1480 Brussel, Flanders |
| Mất | 1 tháng 12, 1530 (50 tuổi) Mechelen, Công quốc Brabant |
| Phối ngẫu | Juan của Aragón và Castilla (m.1497; d.1497) Filiberto II của Savoia (m. 1501; d.1504) |
| Hoàng tộc | Nhà Habsburg (khi sinh) Nhà Trastámara (kết hôn) |
| Thân phụ | Maximilian I của Thánh chế La Mã |
| Thân mẫu | Marie I xứ Bourgogne |
| Tôn giáo | Công giáo La Mã |
Nữ Đại vương công Margarete của Áo (tiếng Đức: Margarete von Österreich; tiếng Hà Lan: Margaretha van Oostenrijk; tiếng Tây Ban Nha: Margarita de Austria; tiếng Pháp: Marguerite d'Autriche; tiếng Anh: Margaret of Austria; sinh ngày 10 tháng 1 năm 1480, mất ngày 1 tháng 12 năm 1530) là Nữ Thống chế của Hà Lan thuộc Habsburg lần thứ nhất từ năm 1507 đến năm 1515 và lần thứ hai từ năm 1519 đến năm 1530.[1]
Thiếu thời

Tuổi thơ
Margarete sinh vào ngày 10 tháng năm 1480, là con út và là con gái duy nhất của Hoàng đế Maximilian I của đế quốc La Mã Thần Thánh và Hoàng hậu Marie, Nữ Công tước xứ Bourgogne. Bà được đặt tên là Margarete theo tên của người bà ngoại kế Margaret xứ York.[2] Ngoài ra bà còn là em gái của Philipp Đẹp Trai, chồng của Nữ vương Juana I của Castilla, người đồng thời là chị dâu lẫn em chồng của bà.
Khi Margarete mới hai tuổi, mẹ bà đã qua đời sau một tai nạn khi cưỡi ngựa.[3] Cùng năm ấy, anh trai Philip mới bốn tuổi, kế vị trở thành người cai trị các Vùng đất thấp, với cha làm nhiếp chính.
Đính hôn với Vua Pháp
Cùng năm đó, Quốc vương Louis XI của Pháp ký kết Hiệp ước Arras, theo đó cha của Margarete cam kết gả con gái cho Dauphin (Trữ quân) Charles, con trai của Louis. Lễ đính hôn diễn ra vào năm 1483. Cuối năm ấy, sau khi Louis XI qua đời, Charles lên ngôi Quốc vương Pháp với niên hiệu Charles VIII, khi mới 13 tuổi. Mang theo Franche-Comté và Artois làm của hồi môn, Margarete được chuyển giao cho sự giám hộ của Louis XI cho đến khi ông băng hà vào tháng 8 năm 1483. Bà được nuôi dạy như một fille de France (con gái nước Pháp) và được chuẩn bị kỹ lưỡng cho vai trò Vương hậu Pháp tương lai, sinh hoạt trong gia đình của Vương hậu Charlotte xứ Savoy, chủ yếu tại lâu đài Amboise. Tuy nhiên, Charlotte cũng qua đời vào tháng 12 năm 1483.[4]
Sau đó, Margarete được đặt dưới sự giám hộ của Anne, chị gái của Charles VIII và là nhiếp chính nước Pháp, cùng với gia sư Madame de Segré. Bà được hưởng một nền giáo dục xuất sắc, học tập cùng nhiều thiếu nữ quý tộc, trong đó có Luisa xứ Savoia, người về sau trở thành chị dâu của bà.[5]
Mặc dù cuộc hôn nhân với Charles mang nặng tính chính trị, Margarete khi còn nhỏ đã nảy sinh tình cảm chân thành dành cho ông. Tuy nhiên, vào mùa thu năm 1491, Charles đơn phương hủy bỏ hiệp ước vì lý do chính trị, ông cưỡng ép kết hôn với Anne, Nữ công tước xứ Bretagne, người từng là mẹ kế tương lai của Margarete theo thỏa thuận cũ. Kể từ đó, triều đình Pháp không còn coi Margarete là Vương hậu tương lai. Tuy nhiên, bà không thể rời Pháp để trở về cho đến tháng 6 năm 1493, sau khi Hiệp ước Senlis được ký kết vào tháng 5 cùng năm. Margarete bị tổn thương sâu sắc bởi hành động của Charles, từ đó nuôi mối oán hận dai dẳng đối với triều đại Valois, cảm xúc này vẫn chưa hề phai nhạt ngay cả sau khi Charles qua đời năm 1498.
Khi còn là một thiếu nữ, Margarete gặp lại cha tại Maastricht. Kể từ lúc rời Pháp khi mới hai tuổi, bà chưa từng gặp lại ông. Tuy vậy, hai cha con nhanh chóng trở nên hòa hợp, trái ngược hoàn toàn với mối quan hệ căng thẳng giữa cha và người anh trai Philipp.[6]
Kết hôn
Thân vương phi xứ Asturias
Nhằm thiết lập liên minh với Nữ vương Isabel I xứ Castile và Quốc vương Ferrando II xứ Aragon, Maximilian đã bắt đầu đàm phán cuộc hôn nhân giữa Juan, Thân vương xứ Asturias, con trai duy nhất và người thừa kế của hai vị quân vương Tây Ban Nha, với Margarete, đồng thời sắp đặt cuộc hôn nhân giữa Juana và Philipp. Trước đó, tại Mechelen, đã cử hành một hôn lễ ủy quyền. Cuối năm 1496, Margarete rời Vùng đất thấp lên đường sang Tây Ban Nha. Cuộc hôn ước với Thân vương xứ Asturias suýt nữa đã đổ vỡ ngay từ đầu, khi con tàu chở Margarete gặp bão lớn tại vịnh Biscay. Trong cơn tuyệt vọng, bà đã tự viết bia mộ cho mình nếu phòng khi không thể cập bến Tây Ban Nha:
“Nơi đây an nghỉ Margarete, tân nương tự nguyện,Hai lần kết hôn – nhưng khi chết vẫn còn trinh.”
Tuy nhiên, Margaret thoát khỏi cơn bão, đến tháng 2 năm 1497, toàn bộ hạm đội vẫn còn neo đậu tại Southampton (Anh) để chờ thời tiết thuận lợi.[7] Cuối cùng, Margarete chính thức thành hôn với Juan vào ngày 3 tháng 4 năm 1497, tại nhà thờ chính tòa Burgos. Bi kịch nhanh chóng ập đến: chỉ sáu tháng sau, vào ngày 4 tháng 10, Juan qua đời vì cơn sốt. Margarete lúc ấy đang mang thai, nhưng đến ngày 2 tháng 4 năm 1498, bà sinh non một bé gái chết lưu. Margarete ở lại Tây Ban Nha cho đến tháng 9 năm 1499 rồi mới hồi hương. Trong thời gian này, từng có đề xuất rằng nên dạy tiếng Pháp cho cô em dâu trẻ tuổi Catherine xứ Aragon.
Khi Margarete đang trên đường trở về, người cháu trai, Hoàng đế tương lai Karl V chào đời. Philipp đã phái sứ giả đến khẩn cầu em gái mau chóng trở về để có thể bế đứa trẻ tại bồn rửa tội trong lễ rửa tội. Khi Margarete tới nơi, bà tha thiết thúc giục Philipp đặt tên đứa bé là Maximilian, theo tên cha của họ. Tuy nhiên, Philipp quyết định đặt tên con trai là Charles, theo tên ông ngoại là Karl Táo Bạo. Margarete là mẹ đỡ đầu của Karl,[8] về sau đóng vai trò trung tâm trong việc nuôi dưỡng và giáo dục ông, đặc biệt sau cái chết sớm của Philipp.
Đến thời điểm này, những cái chết bất ngờ của Isabel xứ Aragon, vương hậu Bồ Đào Nha, cùng với con trai của bà là Miguel vào năm 1500, đã làm thay đổi hoàn toàn trật tự kế vị. Kết quả là Juana và cuối cùng là Charles trở thành những người thừa kế ngai vàng Castile và Aragon, đồng thời Charles còn kế thừa Vùng đất thấp và yêu sách của nhà Habsburg đối với ngôi Hoàng đế La Mã Thần thánh.[9]
Công tước phu nhân xứ Savoia

Năm 1501, Margarete kết hôn với Filiberto II, Công tước xứ Savoia (1480–1504). Lãnh địa của Savoia giữ vai trò then chốt trong cuộc đối đầu giữa Pháp và nhà Habsburg tại Ý, nhờ vị trí chiến lược ở dãy Alps phía Tây. Filiberto cùng tuổi với Margarete, song đây là cuộc hôn nhân thứ hai của ông. Trong ba năm chung sống, hai người có một mối quan hệ ổn định và hòa hợp, phần lớn không cư trú tại Savoy chính quốc, mà ở Bresse khi ấy thuộc Savoy, nằm ở biên giới phía đông của Bourgogne (nay thuộc Pháp).
Khi Margarete đến Savoia, quyền lực triều chính đang nằm trong tay Renato, người em trai ngoài giá thú của Filiberto. Margarete quyết liệt đấu tranh để tước bỏ quyền lực và tài sản của Renato, thậm chí nhờ đến Maximilian (với tư cách Hoàng đế La Mã Thần thánh, là chúa tể tối cao của Savoia) để hủy bỏ các văn thư hợp pháp hóa địa vị của Renato. Bị tuyên bố là phản thần, ông chạy sang Pháp, nơi ông được người chị cùng cha khác mẹ là Luisa xứ Savoia che chở. Từ đó, Margarete trực tiếp nắm quyền điều hành, trong khi chồng chủ yếu dành thời gian cho những thú vui cá nhân như săn bắn. Bà triệu tập các hội đồng, bổ nhiệm quan chức, khi người Philipp đến thăm, bà bàn bạc và phê chuẩn kế hoạch của ông về việc tiếp tục xích lại gần Pháp.[10]
Tháng 9 năm 1504, Filiberto qua đời vì bệnh viêm màng phổi. Đau buồn tột độ, Margarete đã lao mình qua cửa sổ, nhưng may mắn được cứu sống. Sau khi được thuyết phục để an táng phu quân, bà cho ướp trái tim của ông, giữ bên mình suốt đời.[11] Nhà sử học kiêm thi sĩ của triều đình, Jean Lemaire de Belges, đã gọi bà là “Dame de deuil” – Phu nhân Sầu muộn. Margarete ở lại Savoia hai năm với thân phận góa phụ. Bà cho khởi công xây dựng Tu viện Hoàng gia Brou tại Bresse, một công trình xa hoa, được thiết kế công phu để làm nơi an táng Filiberto. Margarete trở về Vùng đất thấp sau cái chết đột ngột của anh trai vào tháng 9 năm 1506, theo thỉnh cầu của cha.
Năm 1505, Maximilian và Philipp từng tìm cách sắp đặt một cuộc hôn nhân giữa Margarete và Quốc vương Henry VII của Anh khi ấy đã 48 tuổi, song Margarete thẳng thừng từ chối. Một bức chân dung của bà, có lẽ vẽ sớm hơn khoảng năm năm, đã được gửi sang Anh.[12]
Nữ Thống chế của Hà Lan thuộc Habsburg

Cuối năm 1504, Nữ vương Isabel qua đời, Philipp cùng Juana sang Castila để nhận ngai vàng. Sau cái chết của Philipp, Karl trở thành chủ nhân mới của Vùng đất thấp, nhưng lúc ấy ông mới sáu tuổi. Mẫu thân Juana không thể đảm nhiệm vai trò nhiếp chính do tình trạng tinh thần bất ổn, và thần dân Castile cũng không cho phép quốc chủ cư trú ngoài vương quốc. Bận rộn với công việc tại Đức, Hoàng đế Maximilian I đã bổ nhiệm Margarete làm Thống đốc Vùng đất thấp và giám hộ Charles vào năm 1507, đồng thời trông nom các cháu gái của nàng là Lenor, Isabel và María. Chỉ có người cháu Ferdinand được nuôi dưỡng tại Tây Ban Nha, dưới sự giám hộ của ông ngoại Ferrando II, rồi khi trưởng thành được cử sang Áo cai trị.
Margarete trở thành người phụ nữ duy nhất được nghị hội đại diện của Franche-Comté bầu chọn làm người đứng đầu, với tước hiệu được xác nhận năm 1509. Có ý kiến cho rằng Margaret từng bị xem là người ngoại quốc do tuổi thơ sống tại triều đình Pháp. Tuy nhiên, theo Blockmans và các học giả khác, Margarete, Philipp và cả Karl V đều được coi là người bản địa, chỉ riêng Maximilian luôn bị nhìn nhận là người ngoài.
Từ cung điện mới xây tại Mechelen, Nữ Thống đốc đóng vai trò trung gian giữa cha và thần dân của cháu trai tại Vùng đất thấp. Trong một sự nghiệp đặc biệt thành công, bà đã mở ra những tiền lệ mới cho phụ nữ cầm quyền.
Năm 1520, để ghi nhận công lao của bà, Karl phong Margarete làm Toàn quyền. Bà là nhiếp chính duy nhất mà ông tái bổ nhiệm vô thời hạn, từ năm 1519 cho đến khi bà qua đời ngày 1 tháng 12 năm 1530.
Các tác giả của The Promised Lands: The Low Countries Under Burgundian Rule, 1369–1530 đánh giá rằng Margarete có công lớn trong việc duy trì sự thống nhất của các tỉnh, đồng thời đáp ứng yêu cầu hòa bình của các Nghị viện Vùng đất thấp. Bất chấp những nỗ lực của Louis XII nhằm giành lại một số lãnh thổ và can thiệp vào Guelders, Friesland và Liège, sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội đồng Cơ mật và Nghị viện Toàn thể đã bảo toàn sự toàn vẹn của di sản Bourgogne.
Chính sách đối ngoại

Ngay khi đảm nhiệm vai trò Nhiếp chính Vùng đất thấp, Margarete đã phải đối mặt với bài toán khó nhất: nước Pháp. Tranh chấp xoay quanh việc Karl có phải thần phục vua Pháp vì lãnh địa Flanders hay không, một vùng đất thuộc di sản Bourgogne nhưng về pháp lý vẫn nằm trong phạm vi vương quyền Pháp. Nhận thức rõ rằng chiến tranh sẽ phá hủy nền thương mại của Vùng đất thấp, Margarete chủ trương ngoại giao thay cho binh đao. Bà thuyết phục Hoàng đế Maximilian I chấm dứt xung đột trực tiếp với Pháp, đồng thời đích thân sang Cambrai năm 1508 để góp phần hình thành Liên minh Cambrai. Liên minh này tạm thời loại bỏ nguy cơ Pháp xâm lược Vùng đất thấp, chuyển hướng tham vọng của Pháp sang miền Bắc nước Ý, nơi các cường quốc châu Âu tranh giành nhau quyền lực.[13][14]
Song song với đó là vấn đề Guelders, một công quốc nhỏ nhưng nguy hiểm do Charles xứ Egmont cầm đầu. Dù nhiều quý tộc và nghị viện địa phương tin rằng có thể “xoa dịu” Guelders bằng hòa ước, Margarete sớm nhận ra đây là mối đe dọa lâu dài. Tuy nhiên, vì các đẳng cấp Hà Lan không chịu cấp tiền cho chiến tranh, bà buộc phải ký hòa ước bất lợi, thừa nhận Charles làm Công tước xứ Guelders. Quyết định này mang tính tạm thời, quả nhiên Guelders tiếp tục gây rối cho đến khi Karl V trực tiếp thôn tính vùng này trong tương lai.
Điểm nổi bật trong đường lối đối ngoại của Margarete là chính sách trung lập có tính toán. Bà tuyên bố Vùng đất thấp sống bằng hòa bình và thương mại, nhưng đồng thời cho phép quân đội và tài chính nước ngoài (đặc biệt là của Anh và Đế quốc) sử dụng lãnh thổ và nguồn lực để đánh Pháp. Nhờ chiến lược này, năm 1513, Hoàng đế Maximilian cùng vua Henry VIII của Anh đánh bại quân Pháp trong khi Vùng đất thấp không những không thiệt hại mà còn thu lợi lớn từ việc cung ứng cho quân đội đồng minh.
Sau khi Maximilian I qua đời năm 1519, vấn đề kế vị ngôi Hoàng đế La Mã Thần thánh trở thành cuộc đấu trí quy mô toàn châu Âu. Dù ban đầu Margarete thiên về việc ủng hộ người cháu út Ferdinand, bà vẫn phải phục tùng ý chí của Karl. Với tài ngoại giao lão luyện, Margaretw đóng vai trò then chốt trong việc mua chuộc, thuyết phục và điều hòa các tuyển hầu, giúp Karl V đánh bại đối thủ nguy hiểm nhất là François I của Pháp. Từ đây, mối thù Habsburg – Valois bước sang giai đoạn quyết liệt. Cuộc chiến giữa hai đế chế đạt đỉnh điểm sau trận Pavia (1525), nơi Karl V bắt sống François I. Dù Pháp nhanh chóng phá bỏ các cam kết sau khi vua được thả, Margarete vẫn giữ vững Vùng đất thấp trước các cuộc xâm nhập của Pháp và liên minh chống Habsburg. Đỉnh cao tài năng của bà là năm 1529, khi một lần nữa đến Cambrai để thương thuyết hòa bình với Luisa xứ Savoia, mẹ của François.
Kết quả là Hòa ước Cambrai, còn được hậu thế gọi là “Hòa ước của các Phu nhân”. Pháp từ bỏ mọi yêu sách pháp lý đối với Flanders, Artois và Franche-Comté, đổi lại Habsburg chính thức mất vĩnh viễn Công quốc Bourgogne. Đây là một thỏa hiệp cay đắng nhưng cần thiết, giúp Vùng đất thấp tránh khỏi chiến tranh kéo dài và giữ được vị thế trung tâm trong đế quốc.
Kinh tế
Margarete không chỉ là nhà ngoại giao mà còn là nhà quản trị kinh tế xuất sắc. Bà hiểu rằng sức mạnh của Vùng đất thấp nằm ở thương mại, công nghiệp và tài chính, chứ không phải ở những cuộc chinh phạt. Dưới sự điều hành của bà, các thành phố buôn bán như Antwerp, Bruges, Ghent tiếp tục phồn thịnh. Margarete bảo vệ và khôi phục Intercursus Magnus với Anh, hiệp định mang lại lợi ích lớn cho ngành dệt Flanders và củng cố vị thế thương mại quốc tế của khu vực. Bà cũng ký kết các hiệp định nhằm đảm bảo nguồn lương thực ổn định, đặc biệt là ngũ cốc từ Bắc Âu, giúp Vùng đất thấp tránh được nạn đói trong bối cảnh chiến tranh lan rộng khắp châu Âu. Đáng chú ý, Margarete nhiều lần không tuân theo ý chỉ của Karl V khi lợi ích kinh tế của vùng này bị đe dọa, thể hiện rõ quan điểm rằng bà cai trị Vùng đất thấp vì cư dân nơi đây, không chỉ vì dòng họ Habsburg.
Nhờ nền kinh tế thịnh vượng, Vùng đất thấp trở thành nguồn tài chính quan trọng nhất cho đế quốc Habsburg, cung cấp tiền bạc, vật tư và hậu cần cho các cuộc chiến của Karl V ở Ý, Đức và Tây Ban Nha.
Xung đột nội bộ và tôn giáo
Thời kỳ Margarete cầm quyền nhìn chung là giai đoạn ổn định hiếm có trong lịch sử Vùng đất thấp. Tuy nhiên, bà vẫn phải đối mặt với thách thức mới: Cải cách Tin Lành. Những tư tưởng tôn giáo mới nhanh chóng lan tới các thành phố miền Bắc, đe dọa trật tự truyền thống. Năm 1523, hai tín đồ Tin Lành đầu tiên bị xử tử tại Brussels, đánh dấu sự khởi đầu của xung đột tôn giáo. Margarete lựa chọn chính sách kiểm soát chặt chẽ nhưng chưa cực đoan, cố gắng duy trì trật tự mà không đẩy xã hội vào hỗn loạn – một di sản phức tạp mà Karl V và các đời sau sẽ phải đối mặt gay gắt hơn.
Triều đình

Sau khi trở thành Nhiếp chính Vùng đất thấp, Margarete đã biến cung điện của mình tại Mechelen thành một trung tâm quyền lực và văn hóa bậc nhất Bắc Âu, thường được gọi là “Triều đình Savoia”. Tại đây, bà trực tiếp nuôi dạy các cháu trai và cháu gái. Triều đình Mechelen không chỉ là nơi giáo dưỡng các quân vương tương lai, mà còn là điểm hội tụ của giới trí thức nhân văn châu Âu. Những học giả lỗi lạc như Erasmus, Adrian xứ Utrecht và Heinrich Cornelius Agrippa thường xuyên lui tới. Agrippa đặc biệt kính trọng Margarete, đến mức đã dâng tặng bà tác phẩm nổi tiếng mang tính tiên phong về nữ quyền: “Luận thuyết về sự cao quý và ưu việt của giới nữ”.
Uy tín và sức hút cá nhân của Margaret còn thể hiện qua mối quan hệ với các triều đình ngoại quốc. Khi tiếp xúc với Sir Thomas Boleyn, một nhà ngoại giao Anh quốc, bà bị thuyết phục bởi phong thái lịch thiệp của ông đến mức đích thân mời con gái của ông – Anne Boleyn vào sống trong cung đình của mình. Anne Boleyn (người sau này trở thành Vương hậu nước Anh) đã ở Mechelen từ năm 1513 đến 1514. Margarete dành cho cô gái trẻ này nhiều thiện cảm, thậm chí còn viết thư cho phụ hoàng Maximilian I, ca ngợi Anne là một thiếu nữ “đoan trang, duyên dáng và vượt xa tuổi tác”.
Về mặt kiến trúc và không gian quyền lực, sau khi chính thức được công nhận là Nhiếp chính, Margarete mua lại Hof van Savoye tại Mechelen và chọn nơi đây làm chính điện. Nhận thấy cung điện cũ không xứng với vai trò và tầm vóc của mình, bà cho tiến hành một chương trình mở rộng quy mô lớn từ năm 1507. Dưới bàn tay của kiến trúc sư Rombout II Keldermans, quần thể cung điện được mở rộng dọc theo Keizerstraat, trở thành một trong những công trình Phục hưng sớm nhất ở Bắc Âu, đối diện với cung điện của Margaret xứ York.
Triều đình Mechelen vì thế không chỉ là nơi ở của một nữ nhiếp chính góa bụa, mà là một “trường cung đình” đúng nghĩa: nơi đào luyện hoàng thân, định hình phong cách trị quốc cho Karl V, và lan tỏa tư tưởng nhân văn, ngoại giao mềm và quyền lực nữ giới trong lòng châu Âu đầu thế kỷ XVI.
Qua đời

Ngày 15 tháng 11 năm 1530, Margarete vô tình dẫm phải một mảnh kính vỡ. Ban đầu bà không coi trọng vết thương, nhưng chứng hoại thư nhanh chóng phát triển, buộc các bác sĩ phải cắt bỏ chân của bà. Nhận thức được tình trạng nghiêm trọng của mình, Margarete quyết định sắp xếp mọi công việc hậu sự trước. Bà chỉ định Hoàng đế Karl V là người thừa kế duy nhất, đồng thời viết cho ông một bức thư, trong đó khẩn cầu ông duy trì hòa bình với Pháp và Anh quốc. Vào đêm 30 tháng 11, các bác sĩ tiến hành phẫu thuật. Họ cho bà dùng thuốc phiện để giảm đau, nhưng liều lượng được cho là quá mạnh, khiến bà không bao giờ tỉnh lại nữa. Margarete qua đời trong khoảng từ nửa đêm đến một giờ sáng, tức rạng ngày 1 tháng 12 năm 1530. Margarete được an táng bên cạnh người chồng thứ hai của mình tại Bourg-en-Bresse, trong lăng mộ của Tu viện Hoàng gia Brou, công trình do chính bà cho xây dựng từ trước.
Sau khi bà mất, chức Nhiếp chính Vùng đất thấp được trao cho (hay Maria của Áo), em gái của Karl, khi ấy mới 25 tuổi. Bà cũng là một quả phụ, được triệu hồi sau khi phu quân là Quốc vương Lajos II của Hungary tử trận trong trận Mohács năm 1526 khi giao chiến với người Ottoman.
Trong văn hóa nghệ thuật
Chương trình truyền hình
Phả hệ
| Gia phả của Margarete của Áo | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Xem thêm
Maximilian I của Thánh chế La Mã
Filiberto II của Savoia
Tham khảo
- ↑ "Margaret of Austria | regent of The Netherlands [1480-1530] | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2022.
- ↑ Iongh, Jane de (1953). Margaret of Austria, regent of the Netherlands; trang 42. Internet Archive. New York, Norton.
- ↑ Iongh, Jane de (1953). Margaret of Austria, regent of the Netherlands; trang 48. Internet Archive. New York, Norton.
- ↑ Hand, 36
- ↑ Hand, 36
- ↑ Hand, 36
- ↑ Hand, 36
- ↑ Hand, 36
- ↑ Hand, 36
- ↑ Hand, 36
- ↑ Hand, 36
- ↑ "Attributed to Pieter van Coninxloo (active 1479-1513) - Margaret of Austria (1480-1530)". www.rct.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Jansen 2002, tr. 94.
- ↑ Tremayne 1918, tr. 240.
- ↑ "Isabel (2011–2014) Full Cast & Crew".
- ↑ "The Broken Crown (La corona partida) (2016) Full Cast & Crew".
- ↑ Charles, Emperor King (TV Series 2015–2016) - IMDb, truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2022
- ↑ Chisholm, Hugh, biên tập (1911). . Encyclopædia Britannica. Quyển 11 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
- 1 2 Holland, Arthur William (1911). . Trong Chisholm, Hugh (biên tập). Encyclopædia Britannica. Quyển 17 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
- ↑ Urban, William (2003). Tannenberg and After. Chicago: Lithuanian Research and Studies Center. tr. 191. ISBN 0-929700-25-2.
- 1 2 Stephens, Henry Morse (1903). The story of Portugal. G.P. Putnam's Sons. tr. 139. ISBN 9780722224731. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2018.
- 1 2 3 4 Poupardin, René (1911). . Trong Chisholm, Hugh (biên tập). Encyclopædia Britannica. Quyển 5 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
- 1 2 Kiening, Christian (1994). "Rhétorique de la perte. L'exemple de la mort d'Isabelle de Bourbon (1465)". Médiévales (bằng tiếng Pháp). Quyển 13 số 27. tr. 15–24. doi:10.3406/medi.1994.1307.