Ferrando II của Aragón
| Ferrando II của Aragón Ferrando II d'Aragón | |
|---|---|
| Siervo de Dios | |
| Vua của Aragón, Sicilia, Napoli, Valencia, Sardegna, và Navarra | |
| Tại vị | 20 tháng 1 năm 1479 - 23 tháng 1 năm 1516 (37 năm, 3 ngày) |
| Tiền nhiệm | Chuan II |
| Kế nhiệm | Juana I |
| Vua của Castilla và León (jure uxoris) | |
| Tại vị | 15 tháng 1, năm 1475 - 26 tháng 11, năm 1504 (29 năm, 349 ngày) |
| Đồng Quốc vương | Isabel I |
| Tiền nhiệm | Isabel I |
| Kế nhiệm | Juana I |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 10 tháng 3 năm 1452 Sos del Rey Católico |
| Mất | 23 tháng 1 năm 1516 (63 tuổi) Madrigalejo, Extremadura |
| An táng | Capilla Real, Granada, Tây Ban Nha |
| Phối ngẫu | Isabel I của Castilla Germaine xứ Foix |
| Hậu duệ | Isabel, Vương hậu Bồ Đào Nha Juan, Thân vương xứ Asturias Juana I, Nữ vương của Castilla và Aragón María, Vương hậu Bồ Đào Nha Catalina, Vương hậu nước Anh |
| Vương tộc | Nhà Trastámara |
| Thân phụ | Chuan II của Aragón |
| Thân mẫu | Juana Enríquez |
| Chữ ký | |
Ferrando II của Aragón (tiếng Aragón: Ferrando II d'Aragón, tiếng Tây Ban Nha: Fernando II de Aragón, tiếng Catalunya: Ferran II; 10 tháng 3 năm 1452 - 23 tháng 1 năm 1516), còn gọi là Fernando el Católico (Fernando Công giáo), là Quốc vương của Vương quyền Aragón, Sicilia, Naples, Valencia, Sardegna, và Navarra, đồng thời ông còn là Bá tước của Bá quốc Barcelona từ năm 1479 đến khi qua đời. Sau khi thành hôn với Nữ vương của Vương quyền Castilla, Isabel Người Công giáo, ông cũng trở thành Đồng quân vương, nhận Vương hiệu Fernando V của Castilla, theo luật jure uxoris, tức người chồng có quyền hạn trị vì lãnh thổ khi người vợ là người thừa kế hợp pháp. Sau khi Isabella qua đời, còn gián tiếp trị vì từ năm 1508 tới khi ông qua đời thông qua việc là nhiếp chính cho người con gái bị tâm thần là Juana I của Castilla.
Cùng năm đó, sau một cuộc chiến với Pháp, Ferrando chinh phục Vương quốc Napoli. Năm 1506, theo một hiệp ước với Pháp, Ferrando kết hôn với Germaine xứ Foix, nhưng không có người con nào sống sót. Năm 1512, ông chinh phục phần lớn Vương quốc Navarra, từ đó cai trị toàn bộ các lãnh thổ cấu thành Tây Ban Nha ngày nay cho đến khi mất năm 1516. Về danh nghĩa, ông được kế vị bởi con gái, song thực quyền nhanh chóng rơi vào tay cháu trai Karl (sau này là Hoàng đế La Mã Thần thánh Karl V).
Vì những chiến công bảo vệ Công giáo trước Hồi giáo, điển hình là chiến thắng vang dội trước Vương quốc Hồi giáo Granada, Ferrando và Isabel đã được Giáo hoàng Alexanđê VI phong làm Quân chủ Công giáo, los Católicos, và hai vợ chồng trở thành Song vương có danh tiếng nhất thế giới Công giáo khi ấy. Năm 1974, hai vợ chồng được phong tước hiệu Tôi tớ Chúa (Siervo de Dios) bởi Giáo hội Công giáo Rôma ở Lãnh địa Giáo hoàng, nhưng vẫn chưa được phong làm Á thánh, theo yêu cầu của Tín ngưỡng tôn giáo Jesus.
Thân thế
Ferrando chào đời ngày 10 tháng 3 năm 1452, tại trấn Sos del Rey Católico, thuộc Vương quốc Aragón. Ông là con trai thú hai và là con thứ năm của Quốc vương Chuan II xứ Aragón với người vợ thứ hai, Vương hậu Juana Enríquez.[1]
Kế vị Aragón

Ngày 19 tháng 10 năm 1469, tại Valladolid, tại Vương quốc Castila và León, Ferrando thành hôn với Isabel, em gái cùng cha khác mẹ và là người thừa kế được suy định của Quốc vương Enrique IV xứ Castila.[2] Isabel cũng xuất thân từ vương tộc Trastámara, và cả hai là anh em họ hàng xa theo dòng dõi, cùng có tổ tiên là Quốc vương Juan I xứ Castila. Cuộc hôn phối này được thiết lập với một hôn ước tiền hôn nhân rõ ràng về việc phân chia và đồng hưởng quyền lực, dưới khẩu hiệu chung: “tanto monta, monta tanto” (ý nói quyền lực của hai người là ngang nhau). Ferrando trở thành Quốc vương Castila theo quyền của jure uxoris khi Isabel kế vị người anh trai đã mất vào năm 1474.
Hai vị tân quân chủ ban đầu buộc phải tiến hành một cuộc nội chiến chống lại Nữ vương Juana của Bồ Đào Nha, còn gọi là Juana la Beltraneja, người tự xưng là con gái của Enrique IV, và nhanh chóng giành được thắng lợi.[3][1] Khi Ferrando kế vị cha, lên ngôi Quốc vương Aragón năm 1479, thì Vương quyền Castilla và các lãnh thổ thuộc Vương quyền Aragón được liên kết với nhau bằng một liên minh cá nhân. Các quốc gia và lãnh thổ này không được quản trị như một quốc gia thống nhất, mà vẫn tồn tại như những thực thể chính trị riêng biệt, chỉ cùng quy phục dưới một cặp quân chủ chung.[1] (Việc hợp nhất pháp lý giữa Aragón và Castila để hình thành một Tây Ban Nha thống nhất chỉ diễn ra dưới triều Quốc vương Felipe V, trong giai đoạn 1707–1715.)
Những năm đầu đồng trị vì của Quốc vương Ferrando và Nữ vương Isabel chứng kiến cuộc chinh phục của Tây Ban Nha đối với Tiểu vương quốc Granada, thực thể Hồi giáo al-Andalus cuối cùng trên bán đảo Iberia hoàn tất vào năm 1492.[1]
Việc hoàn tất Reconquista không phải là hành động trọng đại duy nhất của hai vị quân chủ trong năm ấy. Tháng 3 năm 1492, họ ban hành Sắc lệnh Trục xuất người Do Thái, còn được gọi là Sắc lệnh Alhambra, một văn kiện buộc toàn bộ người Do Thái hoặc phải chịu lễ rửa tội và cải sang Kitô giáo, hoặc phải rời khỏi vương quốc.[1] Sắc lệnh cho phép người Hồi giáo Mudéjar và người Do Thái đã cải đạo được lưu trú, trong khi trục xuất tất cả những người chưa cải đạo khỏi Castila và Aragón (hầu hết người Do Thái hoặc đã cải đạo hoặc chuyển đến Đế chế Ottoman). Năm 1492 cũng là năm mà hai vị quân chủ bảo trợ Christopher Columbus, phái ông đi tìm hải lộ về phía tây nhằm tiếp cận châu Á, kết quả là người Tây Ban Nha đặt chân tới châu Mỹ.
Năm 1494, Hiệp ước Tordesillas được ký kết, theo đó toàn bộ thế giới ngoài châu Âu bị phân chia giữa Bồ Đào Nha và Castile (Tây Ban Nha) cho mục đích chinh phục và thống trị, bằng một đường ranh bắc–nam được vạch dọc theo Đại Tây Dương.
Cải đạo cưỡng bức

Năm 1502, Quốc vương Ferrando chính thức bãi bỏ một điều khoản của Hòa ước Granada năm 1491, trong đó từng cam kết bảo đảm tự do tín ngưỡng cho người Hồi giáo Mudéjar. Ông ra lệnh rằng toàn thể người Hồi giáo tại Castila và Aragón phải cải đạo sang Công giáo, trở thành Moriscos cải đạo, nếu không thì bị trục xuất khỏi vương quốc. Một bộ phận nhỏ người Hồi giáo được phép lưu lại, chủ yếu là các thợ thủ công Mudéjar, những người có tay nghề cao trong nghệ thuật và kiến trúc phong cách Moor.
Phần cuối cuộc đời của Ferrando phần lớn bị cuốn vào các cuộc tranh chấp liên miên với các Quốc vương Pháp nhằm giành quyền kiểm soát bán đảo Ý, sử sách gọi chung là Chiến tranh Ý. Năm 1494, Quốc vương Charles VIII của Pháp xâm lược Ý và phế truất Alfonso II, người là anh em họ đời thứ nhất khác nhánh đồng thời là cháu kế của Ferrando, khỏi ngai vàng Napoli. Ferrando lập tức liên minh với các chư hầu Ý cùng Hoàng đế Maximilian I, đến năm 1496 đã đánh bật quân Pháp và đưa Ferdinando II, con trai của Alfonso lên kế ngôi vương vị Napoli.
Năm 1500, sau khi Ferdinando II của Napoli qua đời và sự lên ngôi của chú ông là Federico, Ferrando ký một hiệp ước với Louis XII, người kế vị Charles VIII, lúc này vừa xác lập quyền kiểm soát Công quốc Milan. Theo hiệp ước, Vương quốc Napoli bị phân chia: các vùng Campania và Abruzzi, bao gồm cả thành Napoli, thuộc về Pháp, còn Ferrando nắm Apulia và Calabria. Tuy nhiên, thỏa thuận này nhanh chóng đổ vỡ, và trong những năm tiếp theo, đại tướng Gonzalo Fernández de Córdoba, danh tướng trụ cột của Ferrando, tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm đánh bật người Pháp khỏi Napoli, cuối cùng toàn thắng vào năm 1504.
“Quốc vương Pháp than phiền rằng trẫm đã hai lần lừa dối ông ta. Hắn nói dối — đúng là kẻ ngu xuẩn; trẫm đã lừa hắn đến mười lần, thậm chí còn hơn thế.” — Ferdinand Công giáo[1]
Trước năm 1502, Andreas Palaiologos, người lưu vong cuối cùng của gia tộc Palaiologos và tự xưng là người kế vị ngai vàng Đế quốc Byzantine, đã bán lại các danh hiệu cùng quyền vương và đế của mình cho Quốc vương Ferrando. Tuy nhiên, những danh xưng này chưa từng được ông sử dụng, do tính pháp lý mơ hồ và gây tranh cãi của giao dịch ấy.[1]
Giành quyền ở Castilla

Ngày 12 tháng 10 năm 1504, Nữ vương Isabel lập di chiếu, trước khi mất vào 26 tháng 11 năm 1504. Trong di chiếu, bà quy định người kế vị Vương quyền Castila là vương nữ Juana, rồi đến cháu trai Karl. Isabel nghi ngờ năng lực trị quốc của Juana, đồng thời không tin tưởng vào chồng của Juana là Đại Vương công Philipp. Ngay sau khi vợ qua đời, Ferrando hành động mau lẹ nhằm duy trì vai trò của mình tại Castila: đúng ngày tang lễ, ông chính thức từ bỏ tước hiệu Quốc vương Castila, chuyển sang giữ chức Tổng trấn để có thể nắm quyền Nhiếp chính. Philipp tuyên bố Juana hoàn toàn minh mẫn và đủ tư cách trị vì. Sau nhiều thương lượng, hai bên đạt được một thỏa hiệp, theo đó Ferrando tiếp tục giữ vai trò nhất định tại Castila.[5] Trước đó, Ferrando từng làm Nhiếp chính cho con gái trong thời gian bà ở Hà Lan, nơi do Philipp cai quản. Ông tìm cách giữ vĩnh viễn quyền Nhiếp chính, song giới quý tộc Castila phản đối, và cuối cùng Ferrando bị thay thế bởi chính con rể Philipp.
Theo Hiệp ước Villafáfila năm 1506, Ferrando không chỉ từ bỏ quyền cai trị Castila nhường cho Philipp, mà còn từ bỏ tước hiệu, quyền cai trị Ấn Độ, dù vẫn giữ lại một nửa nguồn thu từ các “vương quốc Ấn Độ”.[1] Juana và Philipp lập tức thêm vào tước hiệu của với mình danh xưng: “Quốc vương và Nữ vương của Ấn Độ, các hải đảo và lục địa của Đại dương”. Tuy nhiên, Hiệp ước Villafáfila sớm mất hiệu lực khi Philipp đột ngột qua đời;Ferrando liền trở lại Castila với tư cách Nhiếp chính và tiếp tục xưng là “Chúa tể của Ấn Độ”.[6]
Tháng 7 năm 1505, vị quốc vương góa bụa Ferrando liên minh với Pháp và kết hôn với Germaine xứ Foix, nhằm củng cố bang giao. Germaine là cháu gái của người chị cùng cha khác mẹ của ông, Nữ vương Leonor xứ Navarra và là cháu gọi Quốc vương Louis XII của Pháp bằng cậu. Nếu Juan, Thân vương Girona, con trai của Ferrando với Germaine, sinh ngày 3 tháng 5 năm 1509 còn sống, thì Aragón tất yếu sẽ tách khỏi Castila,[5] và cháu trai ông, Karl sẽ mất quyền thừa kế Aragón. Thế nhưng vương tử Juan qua đời chỉ vài giờ sau khi chào đời. Linh cữu được an táng tại tu viện Saint Paul ở Valladolid, rồi cải táng về Tu viện Poblet (Vimbodí i Poblet), nơi an táng truyền thống của các Quốc vương Aragón.[7]

Về pháp lý, Ferrando không còn địa vị tại Castila, Nghị viện Toro công nhận Juana cùng các con của bà là người thừa kế. Ferrando rời Castila tháng 7 năm 1506. Sau khi phò mã Philipp đột tử tháng 9 năm 1506, Castila rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Juana bị cho là tinh thần bất ổn, con trai của Juana và Philipp, Karl thì mới sáu tuổi. Hồng y Francisco Jiménez de Cisneros, Thủ tướng của Vương quốc, được cử làm Nhiếp chính, song giới quý tộc thượng lưu đã giành lại quyền lực. Ferrando, thống lĩnh quân đội dẫn quân chống lại Pedro Fernández de Córdoba y Pacheco, hầu tước Priego xứ Córdoba, kẻ đã dùng vũ lực chiếm quyền kiểm soát địa phương.[1]
Đến năm 1508, Ferrando toàn thắng; chiến tranh tại Ý tái bùng nổ, lần này chống lại Cộng hòa Venezia. Tất cả các cường quốc có lợi ích tại bán đảo Ý gồm Louis XII, Ferrando II, Hoàng đế Maximilian, và Giáo hoàng Julius II cùng lập Liên minh Cambrai. Dù Pháp đại thắng Venezia tại Agnadello, Liên minh nhanh chóng tan rã vì Giáo hoàng và Ferrando đều nghi ngờ dã tâm của Pháp. Thay vào đó, Liên minh Thánh được thành lập, lần này liên thủ chống lại Louis XII và Pháp.
Tháng 11 năm 1511, Ferrando cùng con rể là Quốc vương Henry VIII nước Anh ký Hiệp ước Westminster, cam kết tương trợ lẫn nhau chống lại Navarra và Pháp, mở đường cho cuộc xâm lược Navarra của Tây Ban Nha vào tháng 7 năm 1512. Từ sau khi Granada thất thủ năm 1492, Ferrando đã kiên trì vận động nhằm chiếm ngai vàng Vương quốc Basque Navarra, do Nữ vương Catalina xứ Navarra và Quốc vương Juan III xứ Navarra trị vì, đồng thời là Chúa tể Béarn và nhiều lãnh thổ rộng lớn bắc dãy Pyrenees và vùng Gascony. Ferrando sáp nhập Navarra trước hết vào Vương quốc Aragón, nhưng sau đó, dưới sức ép của quý tộc Castila, ông chuyển sang, sáp nhập vào Vương quốc Castila.
Liên minh Thánh nhìn chung thành công tại Ý, đẩy người Pháp khỏi Milan, khôi phục quyền cai trị cho nhà Sforza theo hòa ước năm 1513. Tuy nhiên, hai năm sau, người Pháp tái chiếm Milan.
Ferrando II qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1516, tại Madrigalejo, vùng Extremadura, thuộc Vương quốc Castila và León. Linh cữu được an táng tại Nhà nguyện Hoàng gia ở Granada. Vợ ông, Nữ vương Isabel, con gái Juana, và con rể Philipp cũng được chôn cất bên cạnh ông.
Di sản

Quốc vương Ferrando và Nữ vương Isabel đã thiết lập một nền quân chủ vô cùng hiệu quả, đặt trên cơ sở bình quyền hiếm thấy giữa hai quân chủ. Ngay từ trước hôn lễ, họ đã lập hôn ước tiền hôn nhân nhằm quy định rõ ràng việc cùng nhau chia sẻ quyền lực. Trong suốt thời gian trị vì, hai người nương tựa và hỗ trợ lẫn nhau, đúng theo khẩu hiệu đồng trị của họ:“Tanto monta (hay monta tanto), Isabel como Fernando” (nghĩa là: Isabel và Ferdinand có giá trị quyền lực ngang nhau). Những thành tựu của cặp Song vương Công giáo quả thực phi thường: Tây Ban Nha được thống nhất, hoặc ít nhất là thống nhất hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó; quyền lực hoàng gia được tập trung, dù trên danh nghĩa hay thực tế; reconquista được hoàn tất thắng lợi; nền móng cho cỗ máy quân sự hùng mạnh nhất châu Âu trong suốt một thế kỷ rưỡi tiếp theo được đặt vững; hệ thống pháp luật được thiết lập; giáo hội được cải tạo sâu rộng. Ngay cả không tính đến việc mở rộng sang châu Mỹ, Tây Ban Nha dưới triều Ferrando và Isabel đã là một cường quốc châu Âu hàng đầu. Tuy nhiên, phát kiến của Christopher Columbus đã đưa vương quốc này bước lên con đường trở thành cường quốc toàn cầu đầu tiên của thời cận đại.
Trong thời trị vì của mình, Ferrando và Isabel theo đuổi ngoại giao hôn nhân, liên kết Tây Ban Nha với Bồ Đào Nha và Bourgogne. Trưởng nữ Isabel được gả cho Quốc vương Manuel I của Bồ Đào Nha; Trưởng nam Juan, Thân vương xứ Asturias, thành hôn với Margarete của Áo. Tuy nhiên, cái chết sớm của các vương tử, vương nữ này, cùng với sự qua đời của Nữ vương Isabel, đã làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch kế vị, buộc Ferrando phải nhường quyền cai trị Castila cho Philipp, phu quân của Juana.[1]
Năm 1502, Nghị viện Aragón họp tại Zaragoza, cùng với Nghị viện Vương quốc Valencia và Thân vương quốc Catalunya tại Barcelona, đã tuyên thệ trung thành với Juana như người thừa kế của Aragón. Tuy nhiên, Alonso de Aragón, Tổng Giám mục Zaragoza, kiên quyết tuyên bố rằng lời thề ấy không có giá trị pháp lý, rằng luật kế vị chỉ có thể được thay đổi bằng lập pháp chính thức của Nghị viện với sự chuẩn thuận của Quốc vương. Vì thế, khi Ferrando băng hà ngày 23 tháng 1 năm 1516, Juana kế thừa Vương quốc Aragón, còn cháu trai Karl được phong làm Tổng trấn (Nhiếp chính). Tuy nhiên, giới quý tộc Flemish mong muốn Karl trực tiếp xưng vương, và điều này nhận được sự ủng hộ của Hoàng đế La Mã Thần thánh Maximilian I (ông nội của Karl) cùng Giáo hoàng Leo X. Do đó, sau lễ an táng Ferrando II ngày 14 tháng 3 năm 1516, Karl I được tuyên xưng là Quốc vương Castila và Aragón, đồng trị với mẫu hậu Juana. Cuối cùng, Hồng y Jiménez de Cisneros, Nhiếp chính Castila, chấp nhận thực tế đã rồi, và Nghị viện Castila cùng Aragón lần lượt dâng lễ thần phục Karl với tư cách Quốc vương Aragón đồng trị cùng mẫu hậu.[1]
Karl, cháu trai và người kế vị của Ferrando, không chỉ thừa hưởng toàn bộ lãnh thổ Tây Ban Nha từ ông bà ngoại, mà còn kế thừa đất đai Áo và Bourgogne từ bên nội. Sự kết hợp khổng lồ này khiến ông và các hậu duệ, trở thành những quân chủ quyền lực nhất châu Âu, và với các phát kiến cùng cuộc chinh phục tại châu Mỹ và nhiều nơi khác, trở thành đế quốc đầu tiên mang tính toàn cầu thực sự trong lịch sử nhân loại.
Hậu duệ
Con hợp pháp
| Tên | Chân dung | Ngày sinh và ngày mất | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đời con | |||
| Isabel, Vương hậu Bồ Đào Nha | 2 tháng 10 năm 1470 - 23 tháng 8 năm 1498 (27 tuổi) | Kết hôn với Afonso, Thân vương Bồ Đào Nha, sau tái hôn với Manuel I của Bồ Đào Nha. Sau cái chết của em trai, Juan, Thân vương xứ Asturias, bà với tư cách là người con lớn nhất được cha mẹ mình chọn làm Trữ quân, nhưng sau đó bà cũng mất ngay sau em trai Juan. Sinh một con trai, Miguel da Paz. | |
| Juan, Thân vương xứ Asturias | 30 tháng 6 năm 1478 - 4 tháng 10 năm 1497 (19 tuổi) | Con trai duy nhất của Fernando và Isabel. Kết hôn với Margarete của Áo, con gái Hoàng đế Maximilian I của Thánh chế La Mã, sau khi Juan qua đời, Margarete trở thành Nữ Thống chế của chính quyền Hà Lan thuộc Áo. Không có hậu duệ. Margarete sinh ra một bé gái chết non sau khi John qua đời. | |
| Juana I, Nữ vương của Castilla và Aragón | 6 tháng 11 năm 1479 – 12 tháng 4 năm 1555 (75 tuổi) | Trở thành Trữ quân sau khi chị cả Isabel qua đời. Kết hôn với Philipp el Hermoso, con trai của Hoàng đế Maximilian I của Thánh chế La Mã. Philip trở thành Quốc vương của Castilla sau khi hợp pháp hóa quyền vị với tư cách là chồng của Nữ vương Juana. Sinh ra 6 người con, trong đó có Hoàng đế Karl V của Thánh chế La Mã. | |
| María, Vương hậu Bồ Đào Nha | 29 tháng 6 năm 1482 - 7 tháng 3 năm 1517 (34 tuổi) | Kết hôn với Manuel I của Bồ Đào Nha, sau khi chị cả Isabella qua đời. Ban đầu, bà được định hôn ước với Quốc vương James V của Scotland, nhưng sau cái chết của Isabella thì bà trở thành vợ kế của Manuel để giữ liên minh. Sinh ra 10 người con, trong đó có Quốc vương João III của Bồ Đào Nha, người thừa kế; và Isabel của Bồ Đào Nha - sau trở thành Hoàng hậu của Thánh chế La Mã, vợ của Hoàng đế Karl V. | |
| Catalina, Vương hậu nước Anh | 16 tháng 12 năm 1485 - 7 tháng 1, 1536 (50 tuổi) | Kết hôn với Arthur, Thân vương xứ Wales, sau tái hôn với Henry VIII của Anh. Vì muốn ly hôn với bà để cưới Anne Boleyn, Vua Henry VIII đã ly khai khỏi Giáo hội Công giáo La Mã, thành lập nên Giáo hội Anh. Bà qua đời với tư cách là góa phụ của Thân vương Arthur. Sinh ra một người con gái, Mary I của Anh - sau này cưới Felipe II của Tây Ban Nha, con trai Hoàng đế Karl V của Thánh chế La Mã. | |
Với người vợ thứ hai, Germaine xứ Foix:
- Juan, Thân vương xứ Girona, sinh ngày 3 tháng 5 năm 1509, nhưng qua đời chỉ vài giờ sau khi chào đời.
Con ngoài giá thú
Ngoài ra, Ferrando còn để lại nhiều người con ngoài giá thú, trong đó hai người con sinh ra trước khi ông kết hôn với Nữ vương Isabel:
Với Aldonça Ruiz d'Ivorra i Alemany, một nữ quý tộc Catalonia tại Cervera:
- Alonso de Aragón (1469–1520): giữ chức Tổng Giám mục Zaragoza và Phó vương Aragón.
Với Joana Nicolaua:
- Juana de Aragón (1469–1510)[8][9]: sau này kết hôn với Bernardino Fernández de Velasco, Công tước thứ nhất của Frías.
Với Toda de Larrea, ông có:
- María Esperanza de Aragón (không rõ năm sinh – 1543): giữ chức Nữ tu viện trưởng của Tu viện Hoàng gia Santa María la Real de Las Huelgas.
Với Beatriz Pereira:
- (Danh tính không rõ) (mất năm 1550): trở thành nữ tu tại Madrigal de las Altas Torres.
Với María Luisa Duque de Estrada y López de Ayala:
- Alonso de Estrada (khoảng 1470 – 1530): từng giữ nhiều chức vụ trọng yếu tại hải ngoại, gồm Tổng đốc và Tổng chỉ huy Tân Tây Ban Nha | Tổng thủ quỹ Kho bạc Hoàng gia Tân Tây Ban Nha | Corregidor của Cáceres | Đô đốc Hạm đội Málaga. Một số sử gia cho rằng ông có thể là con ngoài giá thú của Quốc vương Ferrando II.[10]
Huy hiệu
| Huy hiệu của Ferdinand II của Aragón |
|---|
Quân chủ của Castilla (cùng với Isabel I) Mô tảHuy hiệu được chia làm bốn phần, kết hợp huy hiệu của Castilla và León với huy hiệu của Sicilia thuộc Aragon là sự kết hợp giữa huy hiệu Aragón và đại bàng đen của nhà Hohenstaufen, triều đại từng cai trị Sicilia.[11] Quân chủ của AragónChúa tể xứ Biscay |
Tham khảo
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Edwards, John. The Spain of the Catholic Monarchs 1474–1520. Công ty xuất bản Blackwell, 2000, chương. xiii
- ↑ Palos, Joan-Lluís (ngày 28 tháng 3 năm 2019). "To seize power in Spain, Queen Isabella had to play it smart: Bold, strategic, and steady, Isabella of Castile navigated an unlikely rise to the throne and ushered in a golden age for Spain". National Geographic History Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
- ↑ "To seize power in Spain, Queen Isabella had to play it smart". ngày 28 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Blasón de Aragón : el escudo y la bandera". www.derechoaragones.es (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 Edwards, The Spain of the Catholic Monarchs, tr. 288.
- ↑ Sánchez Prieto, Ana Belén (2004). La intitulación diplomática de los Reyes Católicos: un programa político y una lección de historia (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). III Jornadas Científicas sobre Documentación en época de los Reyes Católicos. tr. 296.
- ↑ De Francisco Olmos, José María: Estudio documental de la moneda castellana de Carlos I fabricada en los Países Bajos (1517), Revista General de Información y Documentación 13, 133–153, 2003. URL: L. Külső hivatkozások
- ↑ Real Academia de la Historia. "Alonso de Estrada". Diccionario Biográfico Español. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2025.
- ↑ "Se vende castillo donde vivió Juana 'la Loca' por 15 millones de euros". El Norte de Castilla. ngày 14 tháng 6 năm 2024.
- ↑ Real Academia de la Historia. "Alonso de Estrada". Diccionario Biográfico Español. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Menéndez Pidal de Navascués, Faustino (2004) «Los Reyes Católicos», El escudo de España, Madrid, Real Academia Matritense de Heráldica y Genealogía; Ediciones Hidalguia. ISBN 978-84-88833-02-0
Thư mục
- Palos, Joan-Lluís (ngày 28 tháng 3 năm 2019). "To seize power in Spain, Queen Isabella had to play it smart: Bold, strategic, and steady, Isabella of Castile navigated an unlikely rise to the throne and ushered in a golden age for Spain". National Geographic History Magazine. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
- Boruchoff, David A. Isabel la Católica, Queen of Castile: Critical Essays. New York: Palgrave Macmillan, 2003.
- Diffie, Bailey W. and Winius, George D. (1977) Foundations of the Portuguese Empire, 1415–1580, Volume 1, University of Minnesota Press.
- Gerli, Edmondo Michael (1992) Medieval Iberia: An Encyclopedia, Taylor & Francis.
- Hunt, Joceyln (2001) Spain, 1474–1598. Routledge, 1st Ed.
- Kamen, Henry. The Spanish Inquisition: a historical revision (Yale University Press, 2014)
- Liss, Peggy K. (1992) Isabel the Queen. New York: Oxford University Press;
- Lunenfeld, Marvin (1970) The council of the Santa Hermandad: a study of the pacification forces of Ferdinand and Isabella", University of Miami Press. ISBN 978-0870241437
- Miller, Townsend Miller (1963) The Castles and the Crown: Spain 1451–1555. New York: Coward-McCann
- Roth, Norman (1995) Conversos, Inquisition, and the Expulsion of the Jews from Spain. (Madison: The University of Wisconsin Press)
- Stuart, Nancy Rubin. Isabella of Castile: the First Renaissance Queen (New York: St. Martin's Press, 1991)
- Weissberger, Barbara F. Queen Isabel I of Castile: Power, Patronage, Persona (2008)
- Weissberger, Barbara F. Isabel Rules: Constructing Queenship, Wielding Power (2003)
Liên kết ngoài
- "Ferdinand II", from Encyclopædia Britannica Online.
- Diccionario Biográfico. Real Academia de la Historia. Fernando II de Aragón y V de Castilla
- Biografía de Fernando II de Aragón ofrecida por la Gran Enciclopedia Aragonesa. Lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2011 tại Wayback Machine
- Ferdinand V en la Classic Encyclopedia, basada en la edición de 1911 de la Encyclopaedia Britannica (bằng tiếng Anh).
- López Poza, Sagrario, «Empresas o divisas de Isabel de Castilla y Fernando de Aragón (los Reyes Católicos)», Janus, 1, 2012, págs. 1-38.
- Vicens Vives, J., Historia crítica de la vida y reinado de Fernando II de Aragón, edición digital. Biblioteca Virtual de la Institución Fernando el Católico.
- Zurita, J., Historia del rey Don Fernando el Católico. De las empresas, y ligas de Italia, edición digital. Biblioteca Virtual de la Institución Fernando el Católico.
- Egido, A; Laplana, J.E.;., La imagen de Fernando el Católico en la Historia, la Literatura y el Arte, edición digital. Biblioteca Virtual de la Institución Fernando el Católico.
- Pardo, E., Iconografía de Fernando el Católico, edición digital. Biblioteca Virtual de la Institución Fernando el Católico.
- Grimaldo, Polo de, Elegía sobre la muerte del muy alto et muy Catholico príncipe et rey nuestro señor Don Fernando (1516), edición digital. Biblioteca Virtual de la Institución Fernando el Católico.
- Sinh năm 1452
- Mất năm 1516
- Người Tây Ban Nha thế kỷ 15
- Người Tây Ban Nha thế kỷ 16
- Fernando II của Aragon
- Vua Aragon
- Chôn cất tại Nhà nguyện Hoàng gia Granada
- Vua Castilla
- Bá tước xứ Barcelona
- Bá tước Cervera
- Công tước Montblanc
- Vua Galicia
- Lịch sử Công giáo ở Tây Ban Nha
- Nhà Trastámara
- Vua Jure uxoris
- Vua Sicilia
- Hiệp sĩ Santiago
- Knights of the Golden Fleece
- Vua León
- Lãnh chúa Balaguer
- Vua Mallorca
- Vua Napoli
- Người Cinco Villas, Aragón
- Nhân vật trong Reconquista
- Thân vương Girona
- Vua theo đạo Công giáo Rôma
- Nhiếp chính Castilla
- Nhân vật Phục Hưng Tây Ban Nha
- Vua Valencia
- Tín hữu Công giáo Rôma Tây Ban Nha
- Tây Ban Nha trong Thời đại khám phá
- Vua Navarra
- Vương tử Aragón
- Vương tộc Trastámara
- Hiệp sĩ Garter