24 tướng Hoài Tây thời Minh sơ
Hoài Tây nhị thập tứ tướng (chữ Hán: 淮西二十四将) là 24 vị mãnh tướng theo phò trợ thủ lĩnh nông dân Chu Nguyên Chương giành được giang sơn, lập ra nhà Minh.[1]。
Bối cảnh
Nguyên Thuận Đế năm Chí Chính thứ 11 (1351), tín đồ Bạch Liên giáo là Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông dựng cờ kháng Nguyên, gọi là khởi nghĩa Hồng Cân, Hàn Sơn Đồng tự xưng là Minh vương, khơi mào cho phong trào nông dân lan rộng khắp miền nam Trung Quốc. Một năm sau (1352), Chu Trùng Bát được bạn thân là Thang Hòa mời gia nhập Hồng cân quân dưới trướng Quách Tử Hưng ở Hào Châu,[2] nhờ khả năng chỉ huy mà nhanh chóng trở thành thân tín đắc lực và được Quách Tử Hưng ban tên là Chu Nguyên Chương. Tuy nhiên thành Hào Châu nội bộ nghĩa quân bất hòa, chia thành nhiều phe phái tranh chấp với nhau. Trước tình hình như vậy, Chu Nguyên Chương nhận định rằng nếu cứ tiếp tục ở lại nơi đó thì không thể thực hiện được hoài bão lớn của mình, nên vào đầu năm Chí Chính thứ 14 (1354) đã chọn ra 24 tướng sĩ, trong đó bao gồm những anh em từ nhỏ của mình như Từ Đạt và Thang Hòa tổng cộng 24 người rời khỏi Hào Châu và hành quân theo phía nam đến Định Viễn. Đó chính là 24 vị tướng đầu tiên phò tá Chu Nguyên Chương, góp phần to lớn cho họ Chu chinh phục thiên hạ, kiến lập Đại Minh sau này.[3]
Danh sách
| TT | Họ tên | Sinh | Mất | Tước vị | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Từ Đạt (徐達) | 1332 (Nguyên Chí Thuận năm thứ 3) | 1385 (Minh Hồng Vũ năm thứ 18) | Ngụy Quốc công (魏國公), sau khi mất truy phong Trung Sơn vương (中山王) | |
| 2 | Thang Hòa (湯和) | 1326 (Nguyên Thái Định năm thứ 3) | 1395 (Minh Hồng Vũ năm thứ 28) | Tín Quốc công (信國公), sau khi mất truy phong Đông Âu vương (東甌王) | |
| 3 | Ngô Lương (吳良) | 1323 (Nguyên Chí Trị năm thứ 3) | 1381 (Minh Hồng Vũ năm thứ 14) | Giang Âm hầu (江陰侯), sau khi mất truy phong Giang Quốc công (江國公) | |
| 4 | Ngô Trinh (吳禎) | 1328 (Nguyên Thiên Lịch nguyên niên) | 1379 (Minh Hồng Vũ năm thứ 12) | Tĩnh Hải hầu (靖海侯), sau khi mất truy phong Hải Quốc công (海國公) | |
| 5 | Hoa Vân (花雲) | 1322 (Nguyên Chí Trị năm thứ 2) | 1360 (Nguyên Chí Chính năm thứ 20; Hàn Tống Long Phượng năm thứ 6) | Truy phong Đông Khâu quận hầu (東丘郡侯) | |
| 6 | Trần Đức (陳德) | 1330 (Nguyên Chí Thuận nguyên niên) | 1378 (Minh Hồng Vũ năm thứ 11) | Lâm Giang hầu (臨江侯), sau khi mất truy phong Kỷ Quốc công (杞國公) | |
| 7 | Cố Thời (顧時) | 1334 (Nguyên Nguyên Thống năm thứ 2) | 1379 (Minh Hồng Vũ năm thứ 12) | Tế Ninh hầu (濟寧侯), sau khi mất truy phong Đằng Quốc công (滕國公) | |
| 8 | Phí Tụ (費聚) | 1326 (Nguyên Thái Định năm thứ 3) | 1390 (Minh Hồng Vũ năm thứ 23) | Bình Lương hầu (平陽侯) | |
| 9 | Cảnh Tái Thành (耿再成) | Không rõ | 1362 (Nguyên Chí Chính năm thứ 22; Hàn Tống Long Phượng năm thứ 8) | Truy phong Cao Dương quận công (高陽郡公), Tứ Quốc công (泗國公) | |
| 10 | Cảnh Bính Văn (耿炳文) | 1334 (Nguyên Nguyên Thống năm thứ 2) | Tranh cãi | Trường Hưng hầu (長興侯) | Theo cha là Cảnh Quân Dụng (?-1356) gia nhập Chu Nguyên Chương, sau kế thừa chức vụ của cha. |
| 11 | Đường Thắng Tông (唐勝宗) | 1335 (Nguyên Chí Nguyên nguyên niên) | 1390 (Minh Hồng Vũ năm thứ 23) | Diên An hầu (延安侯) | |
| 12 | Lục Trọng Hanh (陸仲亨) | Không rõ | 1390 (Minh Hồng Vũ năm thứ 23) | Cát An hầu (吉安侯) | |
| 13 | Hoa Vân Long (華雲龍) | 1332 (Nguyên Chí Thuận năm thứ 3) | 1374 (Minh Hồng Vũ năm thứ 7) | Hoài An hầu (淮安侯) | |
| 14 | Trịnh Ngộ Xuân (鄭遇春) | Không rõ | 1390 (Minh Hồng Vũ năm thứ 23) | Huỳnh Dương hầu (滎陽侯) | Cùng anh trai là Trịnh Ngộ Lâm (1332-1355) gia nhập Chu Nguyên Chương, sau kế thừa chức vụ của anh trai. |
| 15 | Quách Hưng (郭興) | 1331 (Nguyên Chí Thuận năm thứ 2) | 1384 (Minh Hồng Vũ năm thứ 17) | Củng Xương hầu (鞏昌侯), sau khi mất truy phong Thiểm Quốc công (陝國公) | |
| 16 | Quách Anh (郭英) | 1335 (Nguyên Chí Nguyên nguyên niên) | 1403 (Minh Vĩnh Lạc nguyên niên) | Vũ Định hầu (武定侯), sau khi mất truy phong Doanh Quốc công (營國公) | |
| 17 | Hồ Hải (胡海) | 1329 (Nguyên Thiên Lịch năm thứ 2) | 1391 (Minh Hồng Vũ năm thứ 24) | Đông Xuyên hầu (東川侯) | |
| 18 | Trương Long (張龍) | Không rõ | 1397 (Minh Hồng Vũ năm thứ 30) | Phượng Tường hầu (鳳翔侯) | |
| 19 | Trần Hoàn (陳桓) | Không rõ | 1393 (Minh Hồng Vũ năm thứ 26) | Phổ Định hầu (普定侯) | |
| 20 | Tạ Thành (謝成) | Không rõ | 1394 (Minh Hồng Vũ năm thứ 27) | Vĩnh Bình hầu (永平侯) | |
| 21 | Lý Tân (李新) | Không rõ | 1395 (Minh Hồng Vũ năm thứ 28) | Sùng Sơn hầu (崇山侯) | |
| 22 | Trương Hách (張赫) | 1324 (Nguyên Thái Định nguyên niên) | 1390 (Minh Hồng Vũ năm thứ 23) | Hàng Hải hầu (航海侯), sau khi mất truy phong Ân Quốc công (恩國公) | |
| 23 | Trương Thuyên (張銓) | Không rõ | Không rõ | Vĩnh Định hầu (永定侯) | |
| 24 | Châu Đức Hưng (周德興) | Không rõ | 1392 (Minh Hồng Vũ năm thứ 25) | Giang Hạ hầu (江夏侯) |
Kết cục
Tử trận sa trường
02 người trong số 24 tướng lĩnh Hoài Tây qua đời trước khi nhà Minh thành lập gồm Hoa Vân và Cảnh Tái Thành. Hoa Vân tử trận năm Chí Chính thứ 20 (1360) trong trận chiến phòng thủ Thái Bình chống lại Trần Hữu Lượng, Cảnh Tái Thành tử trận năm Chí Chính thứ 22 (1362) trong lúc chiến đấu chống lại người Miêu phản loạn tại Xử Châu (Chiết Giang). Ngoài ra có 02 trường hợp Trịnh Ngộ Xuân và Cảnh Bính Văn là kế thừa chức vụ từ người thân đã qua đời trước đó, cụ thể đó là Trịnh Ngộ Lâm (anh trai Trịnh Ngộ Xuân) qua đời năm 1355 và Cảnh Quân Dụng (cha của Cảnh Bính Văn) qua đời năm 1356.
Thỏ tử cẩu phanh
Đa phần tướng lĩnh Hoài Tây sống sót đến khi nhà Minh được thành lập, trở thành khai quốc công thần. Tuy nhiên trong thời kỳ Hồng Vũ (1368-1398), không ít người trong số 24 tướng lĩnh này bị chính hoàng đế xử tử bao gồm Phí Tụ, Đường Thắng Tông, Lục Trọng Hanh, Trịnh Ngộ Xuân, Trần Hoàn, Tạ Thành, Lý Tân và Châu Đức Hưng.
Kết thúc vẻ vang
Các tướng lĩnh Hoài Tây đều kết thúc cuộc đời lúc về già bao gồm Từ Đạt, Thang Hòa, Ngô Lương, Ngô Trinh, Trần Đức, Cố Thời, Hoa Vân Long, Quách Hưng, Quách Anh, Hồ Hải, Trương Long, Trương Hách, Cảnh Bính Văn và Trương Thuyên. Trong số đó, tước vị cao nhất thuộc về Ngụy Quốc Công Từ Đạt, qua đời năm Hồng Vũ thứ 18 (1385), và Tín Quốc Công Thang Hòa, qua đời năm Hồng Vũ thứ 28 (1395). Hoài An Hầu Hoa Vân Long là tướng lĩnh đầu tiên trong số này qua đời sớm nhất vào năm Hồng Vũ thứ 7 (1374). Vũ Định Hầu Quách Anh là người cuối cùng trong số 24 tướng Hoài Tây qua đời vào Vĩnh Lạc nguyên niên (1403). Trường hợp của Cảnh Bính Văn gây tranh cãi về thời điểm qua đời, quan điểm cho rằng ông qua đời vào Kiến Văn nguyên niên (1399) trong Tĩnh nan chi dịch, quan điểm khác cho rằng ông tự sát vào Vĩnh Lạc nguyên niên (1403).
Tranh nghị
Hậu thế có nghi ngờ về danh sách 24 tướng này, đặc biệt là trường hợp Thường Ngộ Xuân là tướng lĩnh lập công lao hàng bậc nhất mà lại không có trong danh sách, trong khi lại xuất hiện nhân vật Trịnh Ngộ Xuân. Thực tế lịch sử cho thấy Thường Ngộ Xuân theo về với Chu Nguyên Chương là năm 1355, muộn hơn 1 năm so với sự kiện Chu Nguyên Chương quân đến Định Viễn, trong khi Trịnh Ngộ Xuân đã theo Chu Nguyên Chương năm 1353 khi đánh chiếm Trừ Châu, vì thế nhân vật Trịnh Ngộ Xuân này với Thường Ngộ Xuân vẫn là hai người khác nhau.[4]
Tham khảo
- ↑ Trương Hải Anh,《明初洪武年间地域问题与朝内政治斗争》, 明太祖与凤阳, 2009.
- ↑ 商传 (2013年3月1日). 《明太祖朱元璋(上)》. 浙江文艺出版社. tr. 29. ISBN 9787533935986.
{{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ↑ Trương Đình Ngọc (nhà Thanh), ·《Minh sư - quyển 1 - Bản kỉ đệ nhất》:时彭, 赵所部暴横, 子兴弱, 太祖度无足与共事, 乃以兵属他将, 独与徐达, 汤和, 费聚等南略定远.
- ↑ Trương Kiện, 《朱元璋与淮西集团》, 《安徽师范大学学报:人文社会科学版》, 2005.
- 24 tướng Hoài Tây
- Danh tướng Trung Quốc
- Số 24 trong văn hóa Trung Quốc