Bước tới nội dung

Binh biến Ngô Kiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Binh biến Ngô Kiều
Một phần của Chiến tranh Minh – Thanh
Thời gian1632–1633
Địa điểm
Đăng Châu và Lai Châu
Kết quảQuân Minh chiến thắng
Một số phản quân đào tẩu sang Hậu Kim
Tham chiến
Phản quânNhà Minh
Chỉ huy và lãnh đạo
Khổng Hữu Đức
Cảnh Trọng Minh
Lý Cửu Thành 
Lý Ứng Nguyên
Tôn Nguyên Hóa
Trương Khả Đại 
Tổ Đại Bật
Tống Quang Lan
Vương Trưng
Trương Đào
Lực lượng
100.000 bộ binh[1]
10.000 kỵ binh[1]
12.000 quân[1]

Binh biến Ngô Kiều (chữ Hán: 吳橋兵變) là cuộc binh biến xảy ra từ năm 1631 đến năm 1633, vào giai đoạn cuối thời Minh, do Khổng Hữu ĐứcCảnh Trọng Minh lãnh đạo. Cả hai đều là thuộc hạ dưới quyền Mao Văn Long, tướng trấn thủ đảo Bì, một hòn đảo có vị trí chiến lược quan trọng trên biển Hoàng Hải, bảo vệ hành lang ven biển dẫn vào Triều Tiên, chư hầu của nhà Minh và nằm ở sườn của nhà Hậu Kim do người Mãn Châu lãnh đạo (sau này là nhà Thanh). Cuộc binh biến này cuối cùng bị quân Minh trấn áp, thế nhưng nhiều binh sĩ phản quân còn sống sót đã vượt qua biển Bột Hải sang đầu hàng người Mãn Châu, từ đó làm đảo lộn đáng kể cán cân quyền lực giữa nhà Minh và Hậu Kim.

Bối cảnh

Vào tháng Giêng năm Sùng Trinh thứ 3 (1630), Tôn Nguyên Hóa theo Tôn Thừa Tông trấn giữ Sơn Hải Quan. Đến tháng 3, ông được bổ nhiệm làm Phó sứ Án sát ty Sơn Đông, và đến tháng 5 thì được thăng chức Tuần phủ Đăng Lai. Sau khi Viên Sùng Hoán giết chết Mao Văn Long, các tướng lĩnh cũ dưới trướng Mao ở đảo Bì đã nổi loạn. Tôn Nguyên Hóa tiếp nhận các phản tướng từ đảo Bì gồm Khổng Hữu Đức, Cảnh Trọng Minh, Lý Cửu Thành và con trai ông ta là Lý Ứng Nguyên. Khổng Hữu Đức được bổ nhiệm làm Tham tướng kỵ binh, còn Cảnh Trọng Minh thì được điều về trấn thủ pháo đài Đăng Châu.

Đến tháng 8 năm Sùng Trinh thứ 4 (1631), Hoàng Thái Cực dẫn quân Hậu Kim tấn công thành Đại Lăng Hà,[2] Tổ Đại Thọ bị vây khốn trong thành. Ngày 22 tháng 8, triều đình ra lệnh cho Phó Tổng binh tiền hiệp đồn trú ở đảo Bì là Trương Đào dẫn quân đến Song Đảo, gần Lữ Thuận, để hội sư cùng Tham tướng Hoàng Phi và bộ hạ của Khổng Hữu Đức. Tuy nhiên, Trương Đào và các tướng sĩ gặp phải bão lớn, khiến họ chậm trễ không thể vượt biển đến Tam Xá Hà[3] để kiềm chế quân địch.

Ngày 23 tháng 10, triều đình lại lệnh cho Tôn Nguyên Hóa khẩn cấp điều Khổng Hữu Đức mang theo 800 kỵ binh tới tuyến đầu tăng viện. Đến ngày 14 tháng nhuận tháng 11, quân đội mới tập hợp đầy đủ. Quân Đăng Châu từ Liêu Đông và quân Sơn Đông vốn không hòa thuận, "thường xuyên đánh giết lẫn nhau, khiến quân binh Liêu Đông oán giận sâu sắc."[4] Ngày 27, Khổng Hữu Đức tiến đến Ngô Kiều.[5]

Diễn biến

Do gặp mưa lớn và tuyết xuân, quân đội thiếu lương thực và nhu yếu phẩm. Khi hành quân đến Ngô Kiều, quân lính liên tục xảy ra va chạm với người Sơn Đông địa phương. Tri huyện Ngô Kiều là Tất Tự Dần (anh em với Tất Tự Nghiêm và Tất Tự Túc) ngấm ngầm cho phép dân huyện đóng cửa không buôn bán. Một binh sĩ đã cướp một con gà của gia nhân thuộc dòng họ vọng tộc Sơn Đông là Vương Tượng Xuân, và bị xử phạt bằng hình thức "xuyên tên diễu doanh".[6] Quá phẫn nộ, tên lính này đã ra tay sát hại người gia nhân. Sau đó, con trai của Vương Tượng Xuân không chịu bỏ qua mà đòi điều tra rõ sự việc. Trong khi đó, Lý Cửu Thành đã tiêu hết số tiền mua ngựa do Tôn Nguyên Hóa cấp, lo sợ bị truy cứu trách nhiệm nên đã cướp bóc và nổi loạn.[7]

Khổng Hữu Đức, bị cha con Lý Cửu Thành và Lý Ứng Nguyên xúi giục, bèn dấy loạn tại Ngô Kiều. Sau đó, ông ta liên tiếp chiếm được nhiều thành trì trong địa phận Sơn Đông. Tổng binh Đăng Lai là Hoàng Long bị quân phản loạn cắt tai, cắt mũi, sử gọi vụ này là Binh biến Ngô Kiều. Ngự sử đạo Quảng Đông là Tống Hiền đã dâng sớ chỉ trích Tuần phủ Sơn Đông là Dư Đại Thành và Tôn Nguyên Hóa: "Tuần phủ Đăng Lai là Tôn Nguyên Hóa đã chiếm đoạt quân lương, buông lỏng quân đội, tham ô đến cực độ. Binh lính dưới quyền ông ta, chỉ trong vài tháng đã tàn sát ở Giang Đông, cắt mũi chặt tai chủ tướng; rồi lại gây loạn ở Tế Nam, tấn công chiếm thành, tất cả đều là tội không thể tha theo pháp luật." Ngự sử đạo Quảng Tây là Tiêu Dịch Phụ cũng buộc tội Tôn Nguyên Hóa đã dung túng Khổng Hữu Đức, lại còn chỉ trích Trương Đào "đổ lỗi cho sóng gió, viện cớ bão táp để thoái thác trách nhiệm."

Sau đó, Khổng Hữu Đức quay giáo phản lại triều đình, dẫn quân đánh ngược trở lại bán đảo Sơn Đông, liên tiếp chiếm được các thành Lâm Ấp, Lăng Huyện, Thương Hà, Thanh Thành, rồi tiến thẳng đến Đăng Châu. Tôn Nguyên Hóa vội vã lệnh cho Trương Đào đem quân Liêu trấn giữ bên ngoài thành Đăng Châu, đồng thời sai Tổng binh Trương Khả Đại xuất quân đánh chặn, hình thành thế gọng kìm hai hướng để bao vây quân phản loạn. Tuy nhiên, binh lính của Trương Đào vốn từng là thuộc hạ cũ của Khổng Hữu Đức, nên lập tức quay sang đầu hàng ông ta. Quân của Trương Khả Đại vì thế bị đánh bại nặng nề. Các tướng lĩnh cũ có quan hệ thân thiết với Khổng Hữu Đức ở trung quân Đăng Châu như Cảnh Trọng Minh, Trần Quang Phúc... lập tức nổi lửa làm hiệu mở cổng thành. Đến tháng Giêng năm Sùng Trinh thứ 5 (1632), Đăng Châu thất thủ. Quân phản loạn thu giữ được 6.000 binh sĩ cũ, 1.000 quân viện trợ, 3.000 con ngựa, 100.000 lượng bạc dùng làm quân lương, hơn 20 khẩu Hồng di pháo và 300 khẩu pháo Tây Dương khác.

Sau khi tướng Trương Khả Đạt giết chết ái thiếp của mình là Trần thị rồi treo cổ tự vẫn. Tôn Nguyên Hóa cố gắng tự tử nhưng không thành[8] và từ chối thỏa hiệp với quân nổi loạn. Trong thành có 12 người Bồ Đào Nha bị thiệt mạng và 15 người khác bị trọng thương. Vì tình xưa nghĩa cũ, đến tháng 2 năm Sùng Trinh thứ 5 (1632), Khổng Hữu Đức đã thả Tôn Nguyên Hóa cùng Tống Quang Lan, Vương Trưng và Trương Đào trở về. Tuy nhiên, sau khi trở lại kinh sư, Tôn Nguyên Hóa, Dư Đại Thành và Trương Đào bị các đối thủ chính trị là Ngự sử đạo Thiểm Tây Dư Ứng Quế và Cấp sự trung binh khoa Lý Mộng Thần vu cáo. Tôn Nguyên Hóa bị giải đến Ty trấn phủ và phải chịu cực hình trong ngục: "hai tay bị tra khảo năm lần, bị đánh hơn hai trăm roi." Từ Quang Khải bèn dâng sớ minh oan cho Tôn Nguyên Hóa nhưng cuối cùng vẫn không thể cứu được tính mạng của ông. Ngày 23 tháng 7 năm Sùng Trinh thứ 5 (tức ngày 7 tháng 9 năm 1632), Tôn Nguyên Hóa cùng Trương Đào bị xử tử.[9] Bọn Tống Quang Lan, Vương Trưng và Dư Đại Thành bị xử lưu đày.

Tháng 8 năm Sùng Trinh thứ 5, quân của Khổng Hữu Đức bị đại tướng Tổ Đại Bật và Trương Thao cùng quân lính đóng ngoài trấn Sa Hà đánh bại, vòng vây thành Lai Châu do đó được giải tỏa. Đến tháng 4 năm Sùng Trinh thứ 6 (1633), Khổng Hữu Đức và Cảnh Trọng Minh từ Trấn Giang Bảo (cửa sông Áp Lục giáp biển) chạy sang đầu hàng Hậu Kim, trong thư đầu hàng có viết: “Hiện tại bản soái sở hữu hàng vạn bộ binh, hơn trăm thuyền nhẹ, pháo lớn và khí giới đầy đủ. Có vũ khí này, lại cùng Đại Hãn đồng tâm hợp lực, tiến công cả đường thủy lẫn bộ binh như chẻ tre, thiên hạ còn ai dám chống lại Đại Hãn?” Hoàng Thái Cực vô cùng vui mừng, đích thân ra đón tại ngoại thành cách kinh đô mười dặm.[10] Trước đó, người Mãn Châu vốn không mạnh về pháo binh,[11] nhưng kể từ khi có được đội pháo binh này đã tăng cường đáng kể sức mạnh pháo binh, tạo điều kiện cho đại quân nhà Thanh sau này tiến xuống phương Nam bình định thiên hạ triều Minh.

Hậu quả

Sự kiện binh biến Ngô Kiều, vốn bắt nguồn từ một chuyện nhỏ nhặt một con gà bị trộm, nhưng đã nhanh chóng leo thang thành một cuộc nổi loạn quy mô lớn và trở thành mồi lửa dẫn đến sự diệt vong của triều Minh. Người đương thời cho rằng nguyên nhân bùng nổ cuộc binh biến này bắt nguồn từ ba yếu tố chính: thứ nhất, Khổng Hữu Đức và Lý Cửu Thành vốn là những kẻ hung tàn, quen thói bạo loạn; thứ hai, binh sĩ dưới quyền họ bị dân bản xứ ở vùng Đăng Châu khinh rẻ, oán giận dồn nén lâu ngày; và thứ ba, họ không muốn bị điều động đi đồn trú ở vùng biên viễn Ninh Viễn. Ba nguyên nhân ấy kết hợp lại đã châm ngòi cho cuộc binh biến tại Ngô Kiều.[12]

Bên cạnh đó binh lính phản quân còn sống sót bao gồm nhiều thợ lành nghề và pháo thủ kỳ cựu, cùng với một số lượng lớn đại pháo Hồng Di, điều này đã tăng cường đáng kể khả năng vây hãm của người Nữ Chân, vốn dĩ chỉ có thể dựa vào bộ binh để tấn công công sự của triều Minh. Cả Khổng Hữu Đức và Cảnh Trọng Minh đều được Hoàng Thái Cực phong làm quý tộc, khiến vị đại hãn này tỏ ra vô cùng vui mừng trước sự đào ngũ của hai viên võ tướng nhà Minh này. Đây được xem là một bước ngoặt lớn, vì nó giúp người Mãn Châu có thêm nhân lực, kỹ thuật và tinh thần để thực hiện việc lật đổ nhà Minh và lập nên nhà Thanh sau này.

Tham khảo

  • Swope, Kenneth (2014), The Military Collapse of China's Ming Dynasty, Routledge
  • Swope, Kenneth M. (2009), A Dragon's Head and a Serpent's Tail: Ming China and the First Great East Asian War, 1592-1598, University of Oklahoma Press.

Chú thích

  1. 1 2 3 Swope 2014, tr. 100.
  2. Nay thuộc thành phố Lăng Hải, tỉnh Liêu Ninh.
  3. Nay thuộc phía tây thành phố Dinh Khẩu, tỉnh Liêu Ninh.
  4. Thẩm Trưng Toàn, Giang Đông chí, quyển 8, tr. 12.
  5. Nay là huyện Ngô Kiều, thành phố Thương Châu, tỉnh Hà Bắc, nhưng vào cuối thời Minh thì nơi đây lại thuộc tỉnh Sơn Đông.
  6. Tên một loại hình phạt bị bắn tên vào người rồi dẫn đi thị chúng trong doanh trại.
  7. Trương Đình Ngọc, Minh sử, quyển 248, tr. 6431. Triệu Nhĩ Tốn, Thanh sử cảo (Bắc Kinh. Trung Hoa thư cục, bản điểm hiệu năm 1976), quyển 234, tr. 9395-9396.
  8. Tôn Hòa Đỉnh, Đô khổn Phan Vu vương kỵ nguyên phối lưỡng trầm thạc nhân hợp táng mộ kiệt minh; Trương Thế Vĩ, Trương Dị Độ tiên sinh tự quảng trai tập, quyển 12, tr. 23.
  9. Swope 2014, tr. 96-97.
  10. Swope 2014, tr. 101.
  11. Theo Minh Hi Tông thực lục và sách của Từ Quang Khải Lược trần đài súng sự nghi tịnh thân ngu kiến sớ, nhà Hậu Kim đã sử dụng pháo khi tấn công Liêu Dương vào năm Thiên Khải đầu tiên.
  12. Ngải Dung, Vi Trần ám cảo, thư, quyển 13.

Liên kết ngoài