Bước tới nội dung

Tôn Thừa Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tôn Thừa Tông
孫承宗
Chân dung Tôn Thừa Tông
Sinh1563
Cao Dương, Hà Bắc
Mất1638 (7475 tuổi)
Bắc Trực Lệ, Hà Bắc
Nghề nghiệpQuan lại, gia sư, tướng quân

Tôn Thừa Tông (chữ Hán: 孙承宗; 1563 – 1638), tự Trĩ Thằng (稚繩), hiệu Khải Dương (愷陽), là nhân vật chính trị và quân sự nổi tiếng thời Minh, thuộc Đảng Đông Lâm, đỗ Bảng nhãn. Thời Sùng Trinh, ông làm quan đến chức Binh bộ Thượng thư, Trung Cực điện Đại học sĩ.[1] Ông còn ủng hộ chiến lược phòng thủ chủ động ở khu vực biên giới phía đông bắc.[2] Đồng thời có công vực dậy quân binh Liêu Đông sau khi nhậm chức vào năm 1622, tái chiếm 400 dặm lãnh thổ từ tay đại hãn Nỗ Nhĩ Cáp Xích trong bốn năm làm kinh lược Liêu Đông.[3] Sau khi từ quan về quê, ông bị quân Thanh bắt khi công thành, rồi tự vẫn tuẫn tiết. Ông được truy phong thụy hiệu là Văn Trung (文忠), sau nhà Thanh đổi thành Trung Định (忠定).[4] Người đời thường gọi ông là Khải Dương tiên sinh (愷陽先生).[5]

Tiểu sử

Thân thế ban đầu

Tôn Thừa Tông sinh năm Gia Tĩnh thứ 42 (1563) ở làng Tây Trang, huyện Cao Dương, phủ Bảo Định, Trực Lệ. Năm Vạn Lịch thứ 6 (1578), ông đỗ tú tài khi mới 16 tuổi. Sau đó, Tôn Thừa Tông từng làm gia sư trong nhà của các quan triều đình như Đại Lý tự Hữu tự thừa Khương Bích và Binh bị đạo Phòng Thủ Sĩ, từ đó dần tiếp xúc với chốn quan trường. Năm Vạn Lịch thứ 21 (1593), Tôn Thừa Tông đến Bắc Kinh và theo học tại Quốc Tử Giám. Năm sau (1594), ông đỗ cử nhân đứng thứ năm (Kinh khôi) kỳ thi Hương ở Thuận Thiên khoa Giáp Ngọ.

Năm Vạn Lịch thứ 26 (1598), vì Phòng Thủ Sĩ được thăng chức Đô sát viện Hữu phó Đô Ngự sử, Tuần phủ Đại Đồng, kiêm Giám quân sự, Tôn Thừa Tông đã đi theo đến Đại Đồng để dạy dỗ con em của ông ta. Đại Đồng bấy giờ là một trọng trấn biên phòng của nhà Minh. Tôn Thừa Tông thích tìm đến những lão tướng và binh lính giải ngũ để hỏi han về tình hình hiểm yếu ở biên cương. Sử chép rằng ông "đeo kiếm du ngoạn dưới các pháo đài, qua lại các trạm gác, tìm hiểu những nơi hiểm yếu", nhờ vậy mà ông "hiểu rõ việc biên phòng".

Năm Vạn Lịch thứ 32 (1604), ông đỗ Tiến sĩ đứng thứ hai (Bảng nhãn) khoa Giáp Thìn, được bổ nhiệm làm Hàn lâm viện Biên tu và làm việc tại Hàn lâm viện trong 10 năm. Năm Vạn Lịch thứ 42 (1614), ông nhậm chức Tả Xuân phường Tả trung doãn. Năm Vạn Lịch thứ 47 (1619), ông được thăng làm Tả Xuân phường Tả dụ đức, kiêm Hàn lâm viện Thị độc và giữ chức Tư kinh cục Tẩy mã. Trong giai đoạn này, ông kết giao thân thiết với các thành viên Đảng Đông Lâm như Cao Phan Long, Triệu Nam Tinh, Tả Quang Đẩu, và Phùng Tòng Ngô.

Năm Vạn Lịch thứ 48 (1620), Minh Thần Tông băng hà, không ngờ Minh Quang Tông cũng qua đời chỉ sau một tháng tại vị. Thái tử lúc đó mới 16 tuổi chưa kịp chính thức sách phong đã vội vã kế vị, tức là Minh Hy Tông. Tôn Thừa Tông được thăng Tả thứ tử và kiêm nhiệm Giảng quan Kinh diên, trở thành thầy giáo của Hy Tông. Mỗi khi nghe Tôn Thừa Tông giảng, Hy Tông đều nói: "Những điều băn khoăn trong lòng ta đã được giải đáp", vì thế rất sủng ái ông. Ở tuổi gần lục tuần, Tôn Thừa Tông nhờ vào địa vị Đế sư đã dần bước vào trung tâm quyền lực chính trị cuối thời Minh.

Đốc sư Liêu Đông

Năm Thiên Khải thứ 2 (1622), Tôn Thừa Tông được thăng làm Lễ bộ Hữu Thị lang. Mặc dù lúc đó ông chỉ là một quan văn trong Hàn lâm, nhưng những phán đoán của ông về cục diện ở Thẩm DươngLiêu Đông lại cực kỳ chính xác. Vì thế, các đại thần trong triều đều tán dương ông có tài thao lược. Sau khi được các thành viên Đảng Đông Lâm tiến cử, Hy Tông bèn phong Tôn Thừa Tông làm Binh bộ Thượng thư kiêm Đông Các Đại học sĩ, cử đến Liêu Đông thị sát. Tương truyền, ông đã tranh cãi với Kinh lược Vương Tại Tấn. Hy Tông sau đó điều Vương Tại Tấn làm Nam Kinh Binh bộ Thượng thư rồi phong Tôn Thừa Tông làm Kinh lược Liêu Đông.

Trong nhiệm kỳ Đốc sư Liêu Đông, Tôn Thừa Tông đã mạnh dạn trọng dụng các nhân tài như Viên Sùng Hoán, Tôn Nguyên Hóa, Lộc Thiện Kế, Mao Nguyên Nghi, Mãn Quế, v.v... Ông đã cho tu sửa 9 tòa thành lớn, 45 đồn lũy, luyện được 11 vạn binh lính, mở rộng lãnh thổ 400 dặm, và khai khẩn 5.000 khoảnh ruộng. Toàn bộ số tiền thu được (18 vạn lượng) đều dùng để bổ sung quân lương. Đồng thời, ông cũng tinh giản 17.437 binh sĩ thừa thãi và hơn 5.649 con ngựa, la, giúp triều đình tiết kiệm được 68 vạn lượng quân phí mỗi năm. Sử sách chép rằng: "Từ khi Tôn Thừa Tông ra trấn giữ, cửa quan yên bình, triều đình ung dung, không còn lo lắng về việc biên cương nữa." Cùng thời điểm đó, quân Hậu Kim đang giao chiến với bộ tộc Sát Cáp Nhĩ, nên không tấn công triều Minh. Trong suốt thời gian này, Tôn Thừa Tông vẫn duy trì liên lạc thư từ với các thành viên Đảng Đông Lâm.

Năm Thiên Khải thứ 4 (1624), viên hoạn quan lộng quyền Ngụy Trung Hiền bắt đầu nắm quyền và sát hại Đông Lâm lục quân tử. Tôn Thừa Tông từng có ý định nhân dịp Vạn Thọ Thánh Tiết vào kinh thành để dâng sớ can gián Hy Tông, nhưng cuối cùng bị phe hoạn quan Ngụy Trung Hiền cản trở, không thể thực hiện. Năm Thiên Khải thứ 5 (1625), Ngụy Trung Hiền phái thái giám Lưu Ứng Khôn đến Sơn Hải Quan, mang 10 vạn lượng bạc để khao thưởng quân sĩ nhưng bị Tôn Thừa Tông khinh thường. Tháng 8 cùng năm xảy ra trận Liễu Hà. Mã Thế Long vì liều lĩnh tiến quân mà thất bại. Ngụy Trung Hiền vốn ghét Tôn Thừa Tông vì ông không chịu về phe mình, nên lấy cớ Mã Thế Long tổn thất 670 con ngựa, giáp trụ và các vật tư quân sự khác để hặc tội Tôn Thừa Tông. Ngày 15, Hy Tông chuẩn tấu cho Tôn Thừa Tông về quê "dưỡng bệnh", sau đó dùng Cao Đệ thay thế làm quan Kinh lược.

Trọng dụng lần nữa

Năm Sùng Trinh thứ 2 (1629), quân Hậu Kim vượt Trường Thành lần đầu, tiến vào Đại An Khẩu, Tuân Hóa. Sùng Trinh Đế lại trọng dụng Tôn Thừa Tông, phong ông làm Thiếu sư kiêm Thái tử Thái sư, Binh bộ Thượng thư, Trung Cực điện Đại học sĩ, đóng quân ở Thông Châu để giám sát binh mã và lương thảo. Sau khi Viên Sùng Hoán bị bắt và tống giam, Tổ Đại Thọ cùng 15.000 binh sĩ Liêu Đông tan rã. Tôn Thừa Tông đã phái người đến chiêu an và hết lòng bảo vệ Tổ Đại Thọ. Ông được cử làm Đốc sư, chuyển đến trấn thủ Sơn Hải Quan, cho xây dựng "Lão Long Đầu" - đoạn Trường Thành vươn ra biển. Sau khi hoàn thành, Nội các Đại học sĩ Dương Tự Xương đã đề chữ "Ninh Hải Thành" trên lầu thành "Lão Long Đầu", nhờ vậy mà vùng Liêu Đông tạm thời được yên ổn.

Năm Sùng Trinh thứ 3 (1630), Tôn Thừa Tông chỉ huy các tướng Tổ Đại Thọ, Mã Thế Long cùng các tướng khác thu phục bốn thành Loan Châu, Lư Long, Tuân Hóa, và Thiên An, chém được hơn 3.000 thủ cấp. Sự kiện này được sử gia nhà Minh gọi là "Đại thắng Tuân Vĩnh". Tháng 7 cùng năm, Tôn Thừa Tông được gia phong Thái phó nhờ công lao thu phục bốn thành. Tháng 11, ông lại được gia phong Thái bảo vì đã hoàn thành bộ Minh Thần Tông thực lục, nhưng ông từ chối nhận. Năm Sùng Trinh thứ 4 (1631), tháng 8, quân Hậu Kim tấn công Đại Lăng Hà. Tổ Đại Thọ cố thủ thành, nhưng hai tướng Tống Vĩ và Ngô Tương được cử đến tiếp viện lại bất hòa trên trận tiền, quân tiếp viện của Trương Xuân cũng bị đánh tan. Tổ Đại Thọ bị ép phải giết Hà Khả Cương rồi đầu hàng quân Hậu Kim. Do đó, Tôn Thừa Tông đã dâng sớ xin từ chức. Sùng Trinh Đế đồng ý và ban thưởng lộ phí cùng các lễ nghi ưu đãi. Từ đó, Tôn Thừa Tông về nhà ở ẩn trong 7 năm. Trong thời gian này, ông từng hiến bổng lộc để giúp đỡ quân nhu nhưng nhà vua đã dùng lời lẽ ôn hòa để từ chối đề nghị này.

Năm Sùng Trinh thứ 11 (1638), quân Thanh vượt Trường Thành lần thứ tư, tấn công Bảo Định và Cao Dương. Tôn Thừa Tông, lúc đó đã 75 tuổi, dẫn dắt toàn bộ con cháu trong gia tộc ra sức chống cự. Thành Cao Dương tường thấp, nhanh chóng bị công phá. Hơn 40 người trong gia đình ông đều chiến đấu kiên cường cho đến chết. Bản thân ông bị địch bắt, nhìn về phía hoàng cung, dập đầu lạy tạ rồi tự thắt cổ tuẫn tiết. Nghe tin, Sùng Trinh Đế đã truy phong lại chức quan cũ cho ông, ban cho nghi lễ tế tự và an táng. Thời Nam Minh, Hoằng Quang Đế truy phong thụy hiệu là Văn Trung và truy tặng chức Thái sư. Đến năm Càn Long thứ 41 (1776) thời Thanh, truy phong thụy hiệu đặc biệt là Trung Định.

Tác phẩm

Theo sách Tôn Thừa Tông tập do Lý Hồng Quyền biên tập và chú giải, được xuất bản năm 2014, có ba tập với 42 cuốn, tổng cộng hơn 1,5 triệu chữ. Nội dung chính bao gồm: Cao Dương tập, Tôn Văn Chính công thi cảo, Duyệt quan tấu cảo, Đốc sư tấu sớ, Khải Trinh thần tiết lục, Xa doanh khấu đáp hợp biên.

Chú thích

  1. Swope 2014, tr. 56
  2. Swope 2014, tr. 221
  3. Catherine Jami, Engelfriet, Gregory Blue (2021). Statecraft and Intellectual Renewal in Late Ming China: The Cross-Cultural Synthesis of Xu Guangqi (1562-1633). BRILL. tr. 228–229. ISBN 9789004482975.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  4. Khâm định thắng triều tuẫn tiết chư thần lục (欽定勝朝殉節諸臣錄) quyển 1.
  5. Lạc Mân nguyên lưu lục (雒闽源流录) quyển 12: "Các tác phẩm của ông bao gồm một bộ văn tập 100 quyển, học giả gọi ông là Khải Dương tiên sinh.

Tham khảo