Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Myanmar
| Hiệp hội | Liên đoàn bóng đá Myanmar | ||
|---|---|---|---|
| Liên đoàn châu lục | AFC (Châu Á) | ||
| Liên đoàn khu vực | AFF (Đông Nam Á) | ||
| Huấn luyện viên trưởng | Tetsuro Uki | ||
| Đội trưởng | Khin Marlar Tun | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Khin Moe Wai (130) | ||
| Ghi bàn nhiều nhất | Win Theingi Tun (84) | ||
| Sân nhà | Sân vận động Mandalarthiri | ||
| Mã FIFA | MYA | ||
| |||
| Hạng FIFA | |||
| Hiện tại | 55 | ||
| Cao nhất | 42 (Tháng 9 năm 2009; Tháng 12 năm 2013) | ||
| Thấp nhất | 56 (Tháng 8 năm 2025) | ||
| Trận quốc tế đầu tiên | |||
(Chiangmai, Thái Lan; 5 tháng 12 năm 1995) | |||
| Trận thắng đậm nhất | |||
(Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; 1 October 2004) (Mandalay, Myanmar; 27 tháng 7 năm 2016) | |||
| Trận thua đậm nhất | |||
(Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; 15 tháng 5 năm 2014) | |||
| Cúp bóng đá nữ châu Á | |||
| Sồ lần tham dự | 5 (Lần đầu vào năm 2003) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vòng bảng (2003, 2006, 2010, 2014, 2022) | ||
| Giải vô địch bóng đá nữ ASEAN | |||
| Sồ lần tham dự | 12 (Lần đầu vào năm 2004) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vô địch (2004, 2007)Á quân (2011), (2012) , (2015), (2025) | ||
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Myanmar là đội tuyển bóng đá nữ đại diện Myanmar tại các giải bóng đá quốc tế, do Liên đoàn bóng đá Myanmar (MFF) quản lý.
Lịch sử
Đội tuyển nữ Myanmar thi đấu trận đầu tiên vào năm 1995, trong trận hòa 1–1 trước Philippines tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1995. Từ đó, bóng đá nữ nước này nhận được nhiều sự hỗ trợ tài chính hơn từ nhà nước và dần cải thiện về mặt chuyên môn.
Tháng 12 năm 2005, Myanmar nằm trong số các đội tuyển tham dự môn bóng đá nữ tại Đại hội Thể thao châu Á tổ chức ở Marikina, Philippines, cùng với Brunei, Thái Lan, Indonesia, Đông Timor, Malaysia, Campuchia, Lào, Việt Nam và Singapore.[2]
Năm 2003, Myanmar lần đầu dự Giải vô địch bóng đá nữ châu Á tổ chức ở Thái Lan, và kể từ đó đã năm lần giành quyền tham dự. Tuy nhiên, đội vẫn chưa một lần vượt qua vòng bảng. Tại Cúp bóng đá nữ châu Á 2022, Myanmar tiến rất gần đến việc giành vé vào vòng loại trực tiếp lần đầu tiên, nhưng trận hòa 2–2 với Việt Nam sau khi hai lần dẫn trước đã khiến họ một lần nữa dừng chân tại vòng bảng.
Ban huấn luyện
Ban huấn luyện hiện tại
- Tính đến tháng 11 năm 2023
| Chức vụ | Tên |
|---|---|
| Giám đốc kỹ thuật | |
| Huấn luyện viên trưởng | |
| Trợ lý huấn luyện viên | |
| Huấn luyện viên thủ môn | |
| Huấn luyện viên thể lực | |
| Chuyên viên phân tích video | |
| Bác sĩ đội tuyển | |
| Phiên dịch viên | |
| Cán bộ truyền thông | |
| Quay phim | |
| Tuyển trạch viên | |
| Chuyên viên vật lý trị liệu | |
| Quản lý trang thiết bị | |
| Quản lý đội | |
| Trưởng đoàn |
Huấn luyện viên
| Tên | Nhiệm kỳ | Số trận | Thắng | Hòa | Thua | Tỉ lệ thắng (%) | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2011–2019 | 84 | 38 | 6 | 31 | 45.24% | ||
| 2019–2022 | 12 | 6 | 2 | 4 | 50% | ||
| 2023– | 24 | 15 | 3 | 6 | 62.5% | ||
- Tính đến 19 tháng 8 năm 2025, sau trận đấu với U-23 nữ Úc.
Tham khảo
- ↑ "The FIFA/Coca-Cola Women's World Ranking". FIFA. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Tandoc Jr., Edson C. (ngày 13 tháng 4 năm 2005). "Tourism boost for Marikina". Philippine Daily Inquirer. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012.
- ↑ 【海外赴任レポート】ミャンマー 熊田 喜則さん 2012年1月|海外派遣実績|国際交流・支援活動|JFA|日本サッカー協会 [【Overseas assignment report】 Myanmar Kikunaga san January 2012 | Overseas dispatch results | International exchange / support activities]. JFA. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2020.
- ↑ "Japan - Y. Kumada - Profile with news, career statistics and history". Soccerway. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "MFF appoint Myint Aung as new women's head coach". Liên đoàn bóng đá ASEAN. ngày 28 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2021.