Bước tới nội dung

Địa lý Mông Cổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Địa lý Mông Cổ
Bản đồ cho thấy các thành phố lớn và các nước láng giềng của Mông Cổ
Lục địaChâu Á
VùngĐông Á
Tọa độ46°0′B 105°0′Đ / 46°B 105°Đ / 46.000; 105.000
Diện tíchXếp hạng thứ 19
  Tổng số1.564.116[1] km2 (603.909 dặm vuông Anh)
  Đất99,3%
  Nước0,7%
Đường bờ biển0 km (0 mi)
Biên giớiNga: 3.485 kilômét (2.165 mi)
Trung Quốc: 4.676 kilômét (2.906 mi)
Điểm cao nhấtĐỉnh Khüiten
4.374 m (14.350 ft)
Điểm thấp nhấtHoh Nuur
560 m (1.840 ft)
Sông dài nhấtSông Orkhon
1.124 kilômét (698 mi)
Hồ lớn nhấtHồ Uvs theo diện tích: 3.350 km2 (1.290 dặm vuông Anh)
Khövsgöl Nuur theo thể tích: 480,7 km3 (115,3 mi khối)
Khí hậuKhí hậu sa mạc; Khí hậu lục địa
Địa hìnhBán hoang mạc và đồng bằng hoang mạc rộng lớn, thảo nguyên, núi ở phía tây và tây nam
Tài nguyên thiên nhiênDầu mỏ, Than mỏ, đồng, molypden, wolfram, phosphat, thiếc, niken, kẽm, fluorspar, vàng, bạc, sắt
Thiên taiBão cát; Cháy đồng cỏ và rừng; Hạn hán
Vấn đề môi trườngNước ngọt tự nhiên hạn chế; đốt than bitum cho năng lượng; thực thi pháp luật về môi trường kém; ô nhiễm không khí nghiêm trọng ở Ulaanbaatar; phá rừng, chăn thả qua mức, xói mòn đất; sa mạc hóa và thực hành khai thác kém

Mông Cổ là một quốc gia nội lục thuộc khu vực Đông Á, nằm giữa Trung QuốcNga. Lãnh thổ nước này chủ yếu gồm các dãy núi và cao nguyên xen kẽ, với độ cao trung bình lớn.[2] Tổng diện tích đất liền của Mông Cổ là 1.564.116 km².[3] Nhìn chung, địa hình Mông Cổ kéo dài từ dãy núi Altai cao ở phía tây và phía bắc xuống các đồng bằng và vùng trũng ở phía đông và phía nam.[2] Đỉnh Khüiten, nằm ở cực tây Mông Cổ trên biên giới với Trung Quốc, là điểm cao nhất của quốc gia này với độ cao 4.374 m (14.350 ft).[2] Điểm thấp nhất của Mông Cổ là Hoh Nuur, hay còn gọi là hồ Huh, với độ cao 560 m (1.840 ft). Cả nước có độ cao trung bình khoảng 1.580 m (5.180 ft).[2]

Địa hình của Mông Cổ bao gồm một trong những hồ nước ngọt lớn nhất châu Á là hồ Khövsgöl, cùng nhiều hồ nước mặn, đầm lầy, cồn cát, đồng cỏ nhấp nhô, rừng núi cao và các sông băng vĩnh cửu trên núi.[2] Phía bắc và phía tây Mông Cổ là những khu vực có hoạt động địa chấn, nơi thường xuyên xảy ra động đất, cùng với nhiều suối nước nóngnúi lửa đã tắt.[2] Điểm gần nhất của Mông Cổ với đại dương là khoảng 645 km (401 mi), từ mũi cực đông của quốc gia, giáp với Bắc Trung Quốc, đến Cẩm Châu thuộc tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, dọc theo bờ biển Biển Bột Hải.

Vùng núi

Dãy núi Altai, dãy núi Sayandãy núi Khangai

Mông Cổ có bốn dãy núi chính.[2] Dãy Altai là dãy núi cao nhất, trải dài qua các vùng phía tây và tây nam của quốc gia theo hướng tây bắc – đông nam.[2] Dãy núi Altai bao gồm đỉnh cao nhất của Mông Cổ, đỉnh Khüiten, với độ cao 4.374 m (14.350 ft).[2][4]

Dãy núi Khangai, cũng có hướng trải dài từ tây bắc đến đông nam, chiếm phần lớn khu vực miền trung và bắc - trung của Mông Cổ.[2] Đây là những ngọn núi có tuổi địa chất lâu hơn, thấp hơn và bị xói mòn nhiều, với nhiều khu rừng và đồng cỏ trải rộng trên các vùng núi cao.[2]

Bên cạnh đó, dãy núi Khentii, trải dài khoảng 400 km (250 mi) theo hướng đông bắc – tây nam, chiếm phần đông bắc của khu vực miền trung Mông Cổ. Phần phía bắc của dãy núi được bao phủ bởi rừng taiga, trong khi phần phía nam chủ yếu là thảo nguyên khô. Dãy núi này hình thành ranh giới giữa các lưu vực sông chảy ra Bắc Băng Dương (qua hồ Baikal) và các lưu vực hướng về Thái Bình Dương. Các con sông bắt nguồn từ dãy núi Khentii bao gồm Onon, Kherlen, Menza và Tuul.[5] Dãy núi này cũng nằm gần thủ đô Ulaanbaatar.

Dãy núi Khövsgöl chiếm phần phía bắc của Mông Cổ, kéo dài theo hướng bắc–nam và thường có nhiều đỉnh dốc. Đây là một dãy núi trẻ, có đặc điểm tương tự dãy An-pơ với độ dốc lớn và những vách đá hẹp.[5]

Phần lớn khu vực phía đông Mông Cổ là đồng bằng, với vùng thấp nhất là các vùng trũng kéo dài theo hướng tây nam–đông bắc, trải từ sa mạc Gobi ở phía nam đến biên giới phía đông.[2]

Sông hồ

Địa hình của Mông Cổ

Một số con sông của Mông Cổ chảy ra các đại dương, nhưng phần lớn kết thúc tại các lưu vực kín (endorheic) nằm trong các sa mạc và vùng trũng của Nội Á.[6] Các con sông phát triển dày đặc nhất ở khu vực phía bắc, với hệ thống sông chính là sông Selenge, chảy qua hồ Baikal và đổ ra Bắc Băng Dương.[7] Một số nhánh nhỏ của sông YeniseiSiberia, cũng đổ ra Bắc Băng Dương, bắt nguồn từ các ngọn núi phía tây bắc Mông Cổ.[7] Ở đông bắc Mông Cổ, sông Onon chảy ra Thái Bình Dương qua sông Shilka tại Ngasông Amur (Hắc Long Giang),[7] tạo thành hệ thống sông dài thứ mười trên thế giới.

Phần phía nam của Mông Cổ là sa mạc Gobi, trong khi phần phía bắc và phía tây là đồi núi.

Nhiều con sông ở phía tây Mông Cổ chảy vào các hồ thuộc lưu vực nội địa của Trung Á, chủ yếu tại vùng lõm Hồ Lớn, hoặc đổ vào hồ Hô Luân, hồ Ulaanhồ Ulungur.[8] Một vài con suối ở miền nam Mông Cổ không đến được biển mà chạy vào hồ hoặc sa mạc.[7]

Hồ lớn nhất Mông Cổ về diện tích là hồ Uvs, nằm trong vùng lõm Hồ Lớn, trong khi hồ lớn nhất về thể tích nước là hồ Khövsgöl, có hệ thống thoát nước qua sông Selenge ra Bắc Băng Dương. Một trong những hồ nằm ở cực đông của Mông Cổ, hồ Hoh Nuur, có độ cao 557 m, là điểm thấp nhất trên toàn quốc.[9] Tổng cộng, các hồ và sông của Mông Cổ chiếm diện tích 10.560 km², tương đương khoảng 0,67% tổng diện tích đất nước.

Khí hậu

Tổng quan

Köppen–Geiger climate classification map at 1-km resolution for Mongolia 1991–2020
Bản đồ phân loại khí hậu Köppen–Geiger ở độ phân giải 1 km cho Mông Cổ 1991–2020

Mông Cổ có độ cao trung bình lớn, với khí hậu lạnh và khô.[7] Quốc gia này có khí hậu lục địa khắc nghiệt, với mùa đông dài và rất lạnh, trong khi mùa hè ngắn là thời điểm lượng mưa cao nhất trong năm.[7] Quốc gia này trung bình có khoảng 257 ngày quang đãng mỗi năm và thường nằm trong khu vực áp suất khí quyển cao.[7] Lượng mưa cao nhất tập trung ở phía bắc, trung bình từ 200 đến 350 mm (7,9 đến 13,8 in) mỗi năm, trong khi phía nam nhận lượng mưa thấp hơn, từ 100 đến 200 mm (3,9 đến 7,9 in).[7] Cực nam của Mông Cổ là sa mạc Gobi, nơi một số khu vực hầu như không nhận được lượng mưa trong nhiều năm liên tiếp.[7] Tên “Gobi” trong tiếng Mông Cổ có nghĩa là sa mạc, vùng trũng, đầm lầy mặn hoặc thảo nguyên, nhưng thường được sử dụng để chỉ loại đồng cỏ khô cằn, với thảm thực vật không đủ để nuôi loài cầy thảo nguyên nhưng đủ để nuôi lạc đà.[7] Người Mông Cổ phân biệt Gobi với sa mạc thực sự, mặc dù sự khác biệt này không phải lúc nào cũng rõ ràng đối với những người nước ngoài, những người không quen thuộc với cảnh quan của Mông Cổ.[7] Đồng cỏ Gobi rất mong manh và dễ bị suy thoái do chăn thả quá mức, dẫn đến sự mở rộng của sa mạc thực sự — một vùng đất hoang đá, nơi ngay cả lạc đà Bactrian cũng không thể sinh sống.[7]

Nhiệt độ trung bình trên hầu hết lãnh thổ Mông Cổ duy trì dưới mức đóng băng từ tháng 11 đến tháng 3, trong khi từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ thường trên mức đóng băng.[7] Vào đêm mùa đông, nhiệt độ có thể hạ xuống tới −40 °C (−40,0 °F) trong hầu hết các năm.[10] Nhiệt độ cực đại vào mùa hè có thể đạt tới 38 °C (100,4 °F) ở khu vực sa mạc Gobi phía nam và 33 °C (91,4 °F) tại Ulaanbaatar.[7] Hầu hết lãnh thổ Mông Cổ được bao phủ bởi lớp đất đóng băng vĩnh cửu không liên tục, chuyển sang liên tục ở các vùng có độ cao lớn,[cần dẫn nguồn] gây khó khăn cho việc xây dựng, làm đường và khai thác tài nguyên.[7] Tất cả các con sông và hồ nước ngọtMông Cổ đều đóng băng vào mùa đông, và các dòng suối nhỏ hơn thường đóng băng hoàn toàn đến tận đáy.[7] Ulaanbaatar nằm ở độ cao 1.351 m (4.432 ft) so với mực nước biển, tọa lạc trong thung lũng sông Tuul.[7] Nằm ở phía bắc, nơi có nguồn nước tương đối dồi dào, thành phố này nhận lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 310 mm (12,2 in), chủ yếu tập trung vào các tháng 7 và 8.[7] Ulaanbaatar có nhiệt độ trung bình hàng năm là −2,9 °C (26,8 °F), với thời kỳ không có sương giá kéo dài trung bình từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 8.[7]

Thời tiết ở Mông Cổ đặc trưng bởi những biến đổi cực đoan và khó dự đoán trong ngắn hạn vào mùa hè, trong khi các giá trị trung bình nhiều năm che giấu những biến động lớn về lượng mưa, số ngày có sương giá, cũng như tần suất bão tuyếtbão bụi vào mùa xuân.[7] Thời tiết khắc nghiệt này đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với việc sinh tồn của con người và vật nuôi.[7] Thống kê chính thức cho thấy chưa đến 1% diện tích Mông Cổ là đất canh tác, 8–10% là rừng, trong khi phần còn lại chủ yếu là đồng cỏ hoặc sa mạc.[7] Ngũ cốc, chủ yếu là lúa mì, được trồng ở các thung lũng của hệ thống sông Selenge ở phía bắc, nhưng năng suất nông nghiệp dao động mạnh và khó dự đoán do biến đổi về lượng mưa, thời điểm xuất hiện mưa và số ngày có sương giá gây hại.[7]

Zud

Dê chết là một trong những hậu quả thường gặp của hiện tượng zud.

Mặc dù mùa đông thường rất lạnh, việc chăn nuôi vẫn có thể tiến hành; tuy nhiên, dưới những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, động vật không thể chăn thả bình thường và thường chết với số lượng lớn. Hiện tượng này, nếu xảy ra, được gọi là zud; các nguyên nhân chính bao gồm bão tuyết, hạn hán, lạnh cực độ và mưa. Những thiệt hại về vật nuôi này gần như không thể tránh khỏi và, theo lẽ đương nhiên, đã gây khó khăn cho việc tăng số lượng chăn nuôi theo kế hoạch.

Bão tuyết theo mùa

Hình ảnh này cho thấy tuyết phủ Mông Cổ vào ngày 21 tháng 12 năm 2003. Tuyết rơi thường nhẹ và nhanh chóng bị gió thổi bay trong mùa đông, vì vậy việc quan sát lượng tuyết dày cùng lúc trên mặt đất là điều không phổ biến.

Các trận bão tuyết nghiêm trọng có thể xảy ra ở khu vực này. Khí hậu mùa đông trong các năm 1970–1971, 2000–2001, 2008–2009 và 2009–2010 đặc biệt khắc nghiệt, đôi khi đạt mức cực kỳ nghiêm trọng.

Các trận bão tuyết vào tháng 12 năm 2011 đã làm tê liệt nhiều tuyến đường và gây thiệt hại nghiêm trọng, với 16.000 con gia súc chết và 10 người tử vong.[14][15] Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước Mông Cổ cho biết mùa đông đó là lạnh nhất trong 30 năm, và cùng với hạn hán mùa hè nghiêm trọng trước đó, có thể là hệ quả của hiện tượng nóng lên toàn cầu. Liên Hợp Quốc đã cung cấp viện trợ lớn do mức độ thiệt hại cao.[16]

Một trận bão tuyết xảy ra từ ngày 8 đến 28 tháng 5 năm 2008 đã khiến 21 người thiệt mạng và 100 người khác mất tích tại 7 tỉnh ở miền đông Mông Cổ.[17][18][19] Ít nhất 52 người và 200.000 gia súc vào cuối tháng 6.[20] Hầu hết các nạn nhân là những người chăn gia súc, bị đóng băng cùng với đàn vật nuôi của họ. Đây là đợt thời tiết lạnh nhất kể từ khi nhà nước hiện đại Mông Cổ được thành lập vào năm 1922.

Bão tuyết trong tháng 12 năm 2009 - tháng 2 năm 2010 cũng làm chết 8.000.000 gia súc và 60 người thiêt mạng.[21]

Vùng sinh thái

Hồ Endorheic ở miền Bắc Mông Cổ
  • Rừng núi Altai và thảo nguyên rừng
  • Rừng cây lá kim Khangai
  • Thảo nguyên rừng Selenge-Orkhon
  • Rừng bạch đàn Sayan
  • Rừng cây lá kim xuyên rừng
  • Thảo nguyên rừng Daurian
  • Đồng cỏ Mông Cổ-Mãn Châu
  • Altai alpine đồng cỏ và lãnh nguyên
  • Núi Khangai đồng cỏ núi cao
  • Đồng cỏ Sayan Alpine và lãnh nguyên
  • Cao nguyên bán sa mạc Alashan
  • Thảo nguyên sa mạc Đông Gobi
  • Sa mạc Gobi
  • Gobi Lakes Valley sa mạc thảo nguyên
  • Great Lakes Basin sa mạc thảo nguyên
  • Junggar Basin bán sa mạc

Khu vực và biên giới

  • Khu vực:
    • Tổng: 1.564.116 km²
    • Đất: 1.553.556 km²
    • Nước: 10.560 km²
  • Biên giới:
    • Tổng: 8.220 km
    • Các nước giáp biên giới: Trung Quốc 4677 km, Nga 3543 km
  • Bờ biển: 0 km (không giáp biển)
  • Tuyên bố hàng hải: không có (không giáp biển)
  • Độ cao cực đại:
    • Điểm thấp nhất: Hoh Nuur 518 m
    • Điểm cao nhất: Dãy Khüiten 4374 m

Tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất

Tham khảo

  1.  Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc CIA World Factbook thư mục "Mongolia".
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 DeGlopper, Donald R. (1991). "The Society and Its Environment". Trong Worden, Robert L.; Savada, Andrea Matles (biên tập). Mongolia: a country study. Washington, D.C.: Federal Research Division, Library of Congress. LCCN 90006289. OCLC 622910663.
  3. "Population by sex, annual rate of population change, surface area and density" (PDF). United Nations Statistics Division. 2020. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2022.
  4. "Tavan Bogd Uul, Mongolia/China". Peakbagger.com.
  5. 1 2 E, Batchuluun; G, Ymchaa; Ts, Ser-Od; Ts, Tsendsuren; L, Odmandah (2019). Газарзүй VIII (ấn bản thứ 2). Ulaanbaatar, Mongolia. tr. 34. ISBN 978-99978-61-09-2. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2020.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  6. Grizard, Pierre; Schmitt, Jean-Michel; Goblet, Patrick (tháng 2 năm 2019). "Hydrogeology of an arid endorheic basin (Tsagaan Els, Dornogobi, Mongolia): field data and conceptualization, three-dimensional groundwater modeling, and water budget". Hydrogeology Journal. 27 (1): 145–160. Bibcode:2019HydJ...27..145G. doi:10.1007/s10040-018-1868-1. ProQuest 2110121076.
  7. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 DeGlopper, Donald R. (1991). "The Society and Its Environment". Trong Worden, Robert L.; Savada, Andrea Matles (biên tập). Mongolia: a country study. Washington, D.C.: Federal Research Division, Library of Congress. LCCN 90006289. OCLC 622910663.Bản mẫu:Pn
  8. "Rivers and Water". Mongolia Travel Guide. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2016.
  9. Central Asian Review, Tập 15. Central Asian Research Centre. 1967.
  10. "Climate of the World: Mongolia | weatheronline.co.uk". www.weatheronline.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2020.
  11. КЛИМАТ УЛАН-БАТОРА (bằng tiếng Nga). Pogoda.ru.net. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015.
  12. "Ulaanbaatar Climate Normals 1961–1990". National Oceanic and Atmospheric Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015.
  13. "Choibalsan Climate Normals 1961-1990". National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013.
  14. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.
  15. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.
  16. "Bản sao đã lưu trữ" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.
  17. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.
  18. "人民网". Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2025.
  19. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.
  20. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.
  21. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2018.

Liên kết ngoài