Bước tới nội dung

Đế quốc Maurya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đế quốc Maurya
322 TCN  184 TCN
Lãnh thổ cực đại của đế quốc Maurya, theo các bản khắc của Ashoka, và được thể hiện bởi các sử gia: Upinder Singh, Myra Shackley:, Marsha E. Ackermann,Vincent Arthur Smith; R. C. Majumdar; và nhà địa lý học lịch sử Joseph E. Schwartzberg.
Lãnh thổ cực đại của đế quốc Maurya, theo các bản khắc của Ashoka, và được thể hiện bởi các sử gia: Upinder Singh,[1] Myra Shackley:[2], Marsha E. Ackermann[3],Vincent Arthur Smith;[4] R. C. Majumdar;[5] và nhà địa lý học lịch sử Joseph E. Schwartzberg.[6]
Thủ đôPataliputra
(hiện là Patna, Bihar)
Ngôn ngữ thông dụngMagadhi Prakrit
Tôn giáo
Chính trị
Chính phủQuân chủ chuyên chế, theo mô tả của Kautilya trong Arthashastra
và Rajamandala[14]
Hoàng đế 
 322–298 TCN
Chandragupta
 298–272 TCN
Bindusara
 273–232 TCN
Ashoka
 232–224 TCN
Dasharatha
 224–215 TCN
Samprati
 215–202 TCN
Shalishuka
 202–195 TCN
Devavarman
 195–187 TCN
Shatadhanvan
 187–180 TCN
Brihadratha
Lịch sử
Thời kỳThời đại đồ sắt
 Cuộc chinh phạt đế quốc Nanda
322 TCN 
 Brihadratha bị ám sát bởi Pushyamitra Shunga
 184 TCN
Địa 
Diện tích 
 250 TCN[15]
5.000.000 km2
(1.930.511 mi2)
Dân số 
 [16]
50 triệu
Kinh tế
Đơn vị tiền tệPanas
Tiền thân
Kế tục
Đế quốc Nanda
Mahajanapada
Đế quốc Seleukos
Đế quốc Shunga
Triều đại Satavahana
Triều đại Mahameghavahana
Người Ấn-Scythia
Vương quốc Ấn-Hy Lạp
Vương quốc Vidarbha (thời Maurya)

Đế quốc Maurya là một thế lực hùng mạnh trên một diện tích rộng lớn vào thời Ấn Độ cổ đại, do vương triều Maurya cai trị từ năm 321 đến 185 TCN. Đế quốc Maurya bắt nguồn từ vùng Magadha tại đồng bằng hạ du sông Hằng (nay là Bihar, phía đông Uttar PradeshBengal) ở mặt phía đông của tiểu lục địa Ấn Độ, đế quốc có kinh đô đặt tại Pataliputra (nay là Patna).[17][18]Đế quốc được Chandragupta Maurya thành lập vào năm 322 TCN, ông đã lật đổ vương triều Nanda và nhanh chóng mở rộng thế lực của mình về phía tây đến vùng trung và tây Ấn Độ do tận dụng được lợi thế là các thế lực địa phương ở các vùng này đang xâu xé lẫn nhau sau khi các đội quân Hy LạpBa Tư của Alexandros Đại đế rút lui về phía tây. Năm 320 TCN, đế quốc đã hoàn toàn kiểm soát được vùng tây bắc bắc Ấn Độ, đánh bại và chinh phục các satrap do Alexandros để lại.[19]

Với một diện tích 5.000.000 km², Maurya là một trong các đế quốc lớn nhất trên thế giới vào thời gian mà nó tồn tại, và là đế quốc lớn nhất từng tồn tại trên tiểu lục địa Ấn Độ. Vào lúc rộng nhất, đế quốc này mở rộng về phía bắc dọc theo ranh giới tự nhiên của dãy Himalaya, và mở rộng về phía đông đến vùng này là Assam. Ở phía tây, Maurya chinh phục chinh phục các vùng phía ngoài của Pakistan ngày nay, thôn tính Balochistan, các phần đông nam của Iran và nhiều phần của Afghanistan ngày nay, bao gồm cả các tỉnh Herat[19]Kandahar. Đế quốc mở rộng đến các vùng miền trung và miền nam dưới thời các hoàng đế Chandragupta và Bindusara, song không bao gồm một phần nhỏ vùng đất của các bộ lạc chưa được thám hiểm và các khu vực rừng gần Kalinga (nay là Orissa), cho đến khi chúng bị A Dục Vương (Ashoka) chinh phục. Đế quốc bắt đầu suy sụp từ 60 năm sau thời kỳ trị vì của A Dục Vương, và tan rã vào năm 185 TCN với sự hình thành của vương triều Sunga tại Magadha.

Dưới thời Chandragupta, đế quốc Maurya đã chinh phục vùng Ngoại-Ấn, đang nằm dưới quyền cai quản của người Macedonia. Chandragupta sau đó đã đánh bại cuộc xâm lược do Seleukos I lãnh đạo (một tướng người Hy Lạp trong quân đội của Alexandros Đại đế). Dười thời cai trị của Chandragupta vè những người kế vị, nội thương và ngoại thương, các hoạt động nông nghiệp và thương mại, tất cả đều phát triển mạnh và mở rộng ra khắp Ấn Độ nhờ việc tạo ra một hệ thống đơn nhất về tài chính, quản trị và an ninh.

Sau chiến tranh Kalinga, đế quốc Maurya đã trải qua nửa thế kỷ hòa bình và an ninh dưới sự cai trị của A Dục vương. Ấn Độ dười thới Maurya cũng bước vào một kỷ nguyên của hòa hợp xã hội, biến đổi tôn giáo, và sự mở rộng của khoa học và kiến thức. Đường hướng Kỳ Na giáo của Chandragupta Maurya đã làm gia tăng các đổi mới và cải cách xã hội cùng tôn giáo, trong khi đường hướng Phật giáo của A Dục vương đã tạo nên nền tảng của triều đại là xã hội và chính trị thái bình và khắp Ấn Độ không có bạo lực. A Dục vương cũng hỗ trợ cho việc truyền bá các tư tưởng của Phật giáo đến Sri Lanka, Đông Nam Á, Tây Áchâu Âu Địa Trung Hải.[19]

Dân số của đế quốc Maurya được ước tính là khoảng 50-60 triệu người mà nó đã khiến cho đế quốc này trở thành một trong những đế quốc đông dân nhất trong lịch sử.[20][21] Arthashastra và các sắc lệnh của A Dục vương là những nguồn chính trong các sử liệu về thời kỳ Maurya.

Lịch sử

Thành lập triều đại

Trước khi triều đại Maurya (Khổng Tước) được thành lập, những kẻ cai trị phần lớn khu vực tiểu lục địa Ấn Độ là một đế chế to lớn, được quân sự hóa và có tiềm lực kinh tế hùng mạnh: triều đại Nanda. Theo truyền thuyết, Kautilya từng làm quan tại Pataliputra (Hoa Thị thành), kinh đô của triều Nanda. Tuy nhiên, khi ông báo tin cho Vua Dhana Nanda về việc Alexander Đại đế xâm lược Nam Á, ông lại bị nhà vua sỉ nhục không thương tiếc. Kautilya thề sẽ báo thù. Ông lưu vong đến Taxila, một trung tâm học thuật thời bấy giờ, và làm giáo viên tại đó. Trên đường đi, Kautilya nhìn thấy một vài cậu bé đang tập đánh nhau, một trong số đó chính là Chandragupta. Kautilya vô cùng ấn tượng với Chandragupta trẻ tuổi, cảm nhận được khí chất hoàng gia của cậu và cho rằng cậu thích hợp để trở thành người cai trị. Cuối cùng, dưới sự hỗ trợ của ông, Chandragupta đã tiêu diệt triều đại Nanda [22]

Cùng lúc đó, Alexander Đại đế viễn chinh đến Ấn Độ và tiến vào vùng Punjab. Lúc này, quân đội của ông đã nổi loạn tại sông Beas, từ chối tiến xa hơn về phía đông để đối mặt với những kẻ thù khác. Do đó, Alexander quay trở lại Babylon và bố trí lại phần lớn quân đội của mình đến vùng phía tây sông Ấn. Không lâu sau, Alexander qua đời tại Babylon vào năm 323 TCN, đế chế của ông bị chia cắt thành các vương quốc độc lập do các tướng lĩnh của ông cai trị [23]

Với sự giúp đỡ của người thầy Kautilya, Chandragupta đã thiết lập triều đại Maurya tại vùng Magadha (Ma Kiệt Đà). Kautilya đưa Chandragupta đến Taxila và dạy cho ông những kỹ năng cần thiết để cai trị đế chế. Quân đội Maurya trỗi dậy nhanh chóng, trở thành thế lực khu vực chính ở phía tây bắc tiểu lục địa Ấn Độ, sau đó quân đội Maurya đã chinh phục các nước chư hầu do người Macedonia thiết lập [24]. Các tướng Hy Lạp là Eudemus và Peithon đã cai trị lưu vực sông Ấn cho đến khoảng năm 317 TCN, thờid điểm mà Chandragupta, dưới sự giúp đỡ của Kautilya, đã chiến đấu với người Hy Lạp và trục xuất họ thành công, sau đó sáp nhập lưu vực sông Ấn vào quyền kiểm soát của trung tâm quyền lực mới của ông tại Magadha. [25]

Tổ quán của Chandragupta vẫn là một bí ẩn và gây nhiều tranh cãi. Một mặt, nhiều ghi chép cổ của Ấn Độ, như vở kịch Mudrarakshasa của Vishakhadatta, mô tả dòng dõi hoàng gia của ông, thậm chí liên kết ông với gia tộc Nanda. Bộ kinh Phật giáo sớm nhất là Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahāparinibbāna Sutta) thậm chí còn đề cập đến một gia tộc Kshatriya (Sát-đế-lỵ) tên là Moriya . Tuy nhiên, nếu không có thêm bằng chứng lịch sử, rất khó để đưa ra bất kỳ kết luận nào.

Chinh phục Nanda

Các chi tiết lịch sử trong các văn bản mô tả chiến dịch của Chandragupta chống lại triều đại Nanda không đáng tin cậy, và các truyền thuyết liên quan được ghi chép lại sau đó nhiều thế kỷ cũng mâu thuẫn với nhau. Các văn bản Phật giáo, Kỳ Na giáo và Ấn Độ giáo đều khẳng định rằng Magadha ban đầu do triều đại Nanda cai trị, và Chandragupta, dưới sự tham mưu của Kautilya, đã chinh phục triều đại Nanda [26][27][28]: quân đội của ông trước tiên chinh phục các vùng lãnh thổ ngoại vi của triều đại Nanda, cuối cùng bao vây kinh đô Pataliputra (Hoa Thị thành). Khác với chiến thắng dễ dàng được mô tả trong các văn bản Phật giáo, các văn bản Ấn Độ giáo và Kỳ Na giáo chỉ ra rằng do triều đại Nanda sở hữu quân đội hùng mạnh và được huấn luyện bài bản, cuộc chiến này diễn ra vô cùng khốc liệt [27][29].

Văn bản Phật giáo Mahavamsa (Đại sử) và văn bản Kỳ Na giáo Parishishtaparvan (Phụ lục) ghi lại việc quân đội của Chandragupta tấn công kinh đô Pataliputra của triều đại Nanda nhưng thất bại [30]. Sau đó, Chandragupta và Kautilya áp dụng chiến lược mới, từng bước chinh phục các vùng lãnh thổ xung quanh trên đường tiến về Pataliputra [31], đồng thời bố trí quân chủ lực trấn giữ tại đó. Cuối cùng, họ thành công bao vây Pataliputra, buộc hoàng đế cuối cùng của triều đại Nanda là Dhana Nanda phải đầu hàng [32][33]. Vở kịch Mudrarakshasa đã thêm thắt nhiều tình tiết được cho là hư cấu vào cuộc chinh phạt này, bởi những nội dung đó không xuất hiện trong các truyền thuyết khác về Chandragupta và Kautilya [34][35].

Chandragupta

Sự mở rộng lãnh thổ của Magadha
Sự mở rộng lãnh thổ của Magadha

Năm 323 TCN, Alexander Đại đế qua đời. Ngay sau đó vào năm 305 TCN, Chandragupta đã phát động một loạt chiến dịch, chiếm lĩnh các tỉnh tại lưu vực sông Ấn và tây bắc Ấn Độ [36]. Khi tàn quân của Alexander bị đánh bại và rút lui về phía tây, mặc dù Seleucus I Nicator đã dấy binh chiến đấu để bảo vệ các lãnh thổ này, nhưng vẫn không địch lại quân đội Maurya. Seleucus I bại trận và buộc phải rút lui về vùng núi Afghanistan [37]. Có rất ít tư liệu cổ đại ghi lại chi tiết về các chiến dịch này.

Hai nhà cai trị đã ký một hiệp ước hòa bình vào năm 303 TCN, bao gồm cả một liên minh hôn nhân. Theo các điều khoản, Chandragupta nhận được ba tỉnh thuộc đế quốc của Alexander tại Nam Á, trong khi Seleucus I nhận được 500 con voi chiến từ Ấn Độ. Những con voi này sau đó đã đóng vai trò quyết định trong trận Ipsus diễn ra vào năm 301 TCN giữa những người kế thừa (Diadochi) của Alexander Đại đế. Ngoài ra, triều đại Maurya và Đế quốc Seleucid đã thiết lập quan hệ ngoại giao; một số học giả Hy Lạp đã đến cung điện Maurya, trong đó có các sử gia Megasthenes, Deimachus và Dionysius.[38]

Megasthenes là một đại sứ Hy Lạp nổi tiếng từng phục vụ trong cung đình Maurya, tác phẩm Indica (Lịch sử Ấn Độ) của ông là nguồn tư liệu chính để tìm hiểu về triều đại Maurya. Theo ghi chép của Arrian, Megasthenes (khoảng 350 TCN đến khoảng 290 TCN) những năm đầu sống ở Arachosia, sau đó đến làm quan tại Pataliputra [39]. Megasthenes mô tả xã hội Maurya yêu chuộng tự do, do đó Đế quốc Seleucid không cần lúc nào cũng lo lắng về việc lãnh thổ phía đông bị xâm lược, tuy nhiên trên thực tế, triều đại Maurya dù có xâm lược cũng khó mà giành chiến thắng. Trong những năm sau đó, các nhà cai trị Seleucid tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với triều đại Maurya dựa trên các báo cáo tương tự do các đại sứ trở về cung cấp [36].

Chandragupta đã xây dựng một nhà nước tập quyền mạnh mẽ tại Pataliputra. Cơ quan quản lý của nơi này, theo Megasthenes mô tả, "được bao quanh bởi một bức tường gỗ, bên trên có 64 cổng lớn và 570 tháp canh". Mặc dù Aelian không trực tiếp trích dẫn lời Megasthenes hay đề cập đến Pataliputra, ông cũng mô tả sự huy hoàng của các cung điện Ấn Độ vượt xa Susa và Ecbatana của Ba Tư, và kiến trúc của thành phố này dường như có nhiều điểm tương đồng với các thành phố Ba Tư thời bấy giờ [40].

Triều đại Maurya đã mở rộng đến Nam Ấn dưới thời Chandragupta hoặc con trai ông là Bindusara. Theo lời Plutarch, triều đại Maurya đã chinh phục toàn bộ Ấn Độ. Những ghi chép này được văn học Sangam của người Tamil xác nhận; nhà thơ Tamil nổi tiếng Mamulanar đã mô tả trong văn học Sangam rằng triều đại Maurya, với sự trợ giúp của quân đội từ Karnataka, đã xâm lược vùng Tamil ở phía nam cao nguyên Deccan và đánh bại liên quân Nam Ấn trên một ngọn đồi thuộc huyện Tirunelveli, bang Tamil Nadu ngày nay [41].

Vào những năm cuối đời, Chandragupta truyền ngôi cho con trai là Bindusara, còn bản thân thì đi theo thánh nhân Kỳ Na giáo là Bhadrabahu [42][43][44]. Tương truyền ông đã sống vài năm dưới thân phận một khổ hạnh giả tại Shravanabelagola, sau đó ông thực hiện nghi thức Sallekhana (tuyệt thực đến chết) của Kỳ Na giáo [45].

Bindusara

Đầu cột Pataliputra, được phát hiện tại di chỉ Bulandi Bagh thuộc Pataliputra, có niên đại khoảng thế kỷ 4-3 TCN.

Các nguồn sử liệu như các phiên bản của Puranas (Vãng thế thư) và Mahavamsa (Đại sử) đều xác nhận Bindusara là con trai của Chandragupta [46]. Ngoài ra, còn có các kinh điển Phật giáo như Dipavamsa (Đảo sử), văn bản Kỳ Na giáo Parishishtaparvan, trong đó tài liệu sau còn ghi chép rằng mẹ của Bindusara là Hoàng hậu Durdhara [47].

Nhà sử học Upinder Singh ước tính Bindusara lên ngôi vào khoảng năm 297 TCN [48]. Khi đó, ông 22 tuổi và thừa kế một đế chế rộng lớn, lãnh thổ bao gồm miền bắc, miền trung và miền đông Ấn Độ hiện nay, cũng như một phần của AfghanistanBalochistan. Bindusara đã mở rộng đế chế này xuống miền nam Ấn Độ, sáp nhập 16 tiểu quốc vào triều đại Maurya, kéo dài đến nước Karnataka ngày nay. Do đó, có thể nói Bindusara gần như đã chinh phục toàn bộ bán đảo Ấn Độ, và được cho là đã chinh phục hoàn toàn "vùng đất giữa hai biển" — khu vực bán đảo nằm giữa Vịnh BengalBiển Ả Rập. Ngoài ra, Bindusara đã không đi chinh phục ba vương quốc Tamil thân thiện: triều đại Chola sơ kỳ, triều đại Pandya và triều đại Chera. Ngoại trừ các nước phía nam này, Kalinga nằm ở bang Odisha ngày nay là vương quốc duy nhất ở Ấn Độ chưa bị đưa vào quyền quản lý của Maurya [49]. Kalinga sau này bị con trai của Bindusara là Ashoka chinh phục. Ashoka từng giữ chức Thống đốc Ujjain trong thời gian trị vì của cha mình, điều này càng làm nổi bật tầm quan trọng của thị trấn này [50][51].

Cuộc đời của Bindusara không được ghi chép chi tiết như cha ông là Chandragupta hay con trai ông là Ashoka, tuy nhiên người ta biết rằng Kautilya tiếp tục giữ chức Tể tướng trong thời gian ông trị vì. Theo học giả Tây Tạng thời trung cổ Taranatha, người từng đến thăm Ấn Độ, ông nghe nói rằng Kautilya đã giúp Bindusara "tiêu diệt các quý tộc và vua của mười sáu vương quốc, qua đó trở thành chủ nhân tuyệt đối của lãnh thổ giữa vùng biển phía đông và phía tây [52]". Dưới sự cai trị của ông, công dân Taxila đã hai lần nổi dậy. Nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa đầu tiên là do sự quản lý yếu kém của con trai cả Susima, còn nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa thứ hai vẫn chưa rõ ràng, nhưng Bindusara khi còn sống đã không thể trấn áp quân khởi nghĩa, phải đến sau khi ông qua đời, thời Ashoka trị vì mới dẹp yên được [53].

Trong thời gian tại vị, Bindusara duy trì quan hệ ngoại giao hữu hảo với thế giới Hy Lạp. Hoàng đế SeleucidAntiochus I đã phái Deimachus làm đại sứ tại cung đình của Bindusara [54]. Deimachus ghi lại: "Vua của Pataliputra đã chào đón một nhà văn Hy Lạp là Iambulus", và vị vua này thường được cho là Bindusara [54]. Pliny Già (Pliny the Elder) thì ghi lại rằng Vua Ai Cập Ptolemy II đã phái một sứ giả tên là Dionysius đến Ấn Độ [55][56]. Các học giả hiện đại cho rằng điều này diễn ra trong thời gian cai trị của Bindusara [54].

Khác với người cha Chandragupta quy y Kỳ Na giáo, Bindusara tin theo giáo phái Ajivika. Vợ ông cũng là một người thuộc dòng dõi Bà-la-môn theo phái Ajivika đến từ vùng Bhagalpur.[57] Ngoài ra, Bindusara được cho là đã cung cấp nhiều khoản trợ cấp cho các tu viện Bà-la-môn. Tài liệu lịch sử cho thấy Bindusara qua đời vào những năm 270 TCN, trong khoảng từ năm 274 TCN đến 272 TCN [48][52]. Sau khi Bindusara mất, một cuộc đấu tranh giành quyền thừa kế kéo dài khoảng 4 năm đã diễn ra, sau đó con trai ông là Ashoka giành chiến thắng và trở thành hoàng đế vào năm 269-268 TCN.

Ashoka

Cột trụ Ashoka

Ngay từ thời còn là hoàng tử, Ashoka (A Dục Vương) đã là một thống soái xuất sắc, từng bình định các cuộc nổi loạn ở vùng Ujjain và Taxila. Trong suốt thời gian trị vì từ năm 272 đến 232 TCN, Ashoka luôn đầy tham vọng và tích cực, tái xác lập vị thế cường báu của triều đại tại miền Nam và miền Tây Ấn Độ. Sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời ông là cuộc chinh phạt Kalinga vào khoảng năm 262-261 TCN. Ông dùng chiến thắng này để phô trương quyền kiểm soát lên một vùng lãnh thổ rộng lớn: tại đây, ông cho xây dựng một pháo đài và biến nơi này thành vùng đất bị đô hộ [58].

Mặc dù quân đội của Ashoka đã đánh bại hoàn toàn quân hoàng gia và dân binh của Kalinga, nhưng cái giá của cuộc chiến khốc liệt này là khoảng 100.000 binh lính và thường dân thiệt mạng (trong đó có hơn 10.000 binh sĩ của triều đại Maurya), và hàng trăm nghìn người khác phải chịu ảnh hưởng tiêu cực từ chiến tranh. Khi tận mắt chứng kiến thảm cảnh do chiến tranh gây ra, Ashoka bắt đầu cảm thấy day dứt và hối hận. Mặc dù việc thôn tính Kalinga đã hoàn tất, Ashoka quyết định quy y Phật giáo, từ bỏ chiến tranh và bạo lực, đồng thời phái các nhà truyền giáo đi khắp châu Á để truyền bá Phật pháp sang các quốc gia khác.

Mảnh vỡ của Sắc lệnh Cột trụ thứ sáu của vua Ashoka (năm 238 TCN), sử dụng văn tự Brahmi, được làm từ đá sa thạch, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Anh.

Để quán triệt tư tưởng "Bất hại" (Ahimsa) của Phật giáo, Ashoka ban hành lệnh cấm săn bắn và bạo lực, đồng thời cấm lao động theo hợp đồng và lao động cưỡng bức, bởi tại vùng Kalinga loạn lạc, hàng ngàn người đã bị buộc phải lao động khổ sai và làm nô lệ. Dù sở hữu một quân đội hùng mạnh để duy trì hòa bình và uy quyền, Ashoka lại chú trọng mở rộng quan hệ hữu nghị với các quốc gia châu Á và châu Âu, cũng như tài trợ cho việc truyền bá Phật giáo. Ông đã triển khai các công trình công cộng quy mô lớn trên phạm vi toàn quốc. Hơn 40 năm hòa bình, hài hòa và thịnh vượng đã đưa Ashoka trở thành một trong những vị quân chủ thành công và nổi tiếng nhất trong lịch sử Ấn Độ.

Các sắc lệnh của Ashoka được khắc trên bia đá rải rác khắp tiểu lục địa, từ phía tây Afghanistan đến Andhra Pradesh ở phía nam, với nội dung trình bày các chính sách và thành tựu của ông. Mặc dù chủ yếu được viết bằng tiếng Prakrit, nhưng có hai bia được viết bằng tiếng Hy Lạp, và một bia được viết bằng tiếng Hy Lạp cùng tiếng Armenia. Các sắc lệnh này cũng xác nhận rằng Ashoka đã phái sứ giả đến các nhà cai trị Hy Lạp ở phương Tây, xa tới tận Địa Trung Hải, và liệt kê chính xác tên của các nhà cai trị trong thế giới Hy Lạp thời bấy giờ.[59]

Suy tàn

Sau 50 năm trị vì của Ashoka, các vị vua kế nhiệm đều khá yếu kém. Người đầu tiên kế vị là cháu nội của ông, Dasharatha, bởi các con trai của Ashoka đều không thể nối ngôi: trưởng tử Mahinda đã trở thành một tăng sĩ Phật giáo, Kunala không thể kế vị do bị , còn Tivala (con của Hoàng hậu Karuvaki) thì mất trước cả Ashoka.

Trong thời gian tại vị, Dasharatha đã đánh mất nhiều lãnh thổ. Những vùng đất này sau đó được Samprati (con trai của Kunala) giành lại. Tuy nhiên, sau thời Samprati, triều đại dần dần đánh mất nhiều phần lãnh thổ. Năm 180 TCN, tướng lĩnh Pushyamitra đã sát hại vua Brihadratha (Cự Xa Vương), người không có con nối dõi. Đến đây, triều đại Maurya chính thức diệt vong, thay vào đó là triều đại Shunga do Pushyamitra lập nên.

Nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn của triều đại bao gồm: các vị vua kế vị Ashoka quá nhu nhược; triều đại bị chia cắt thành hai quốc gia; một số vùng trong đế quốc ngày càng độc lập (như lãnh địa của Subhagasena - tức Hạnh Quân Vương); hệ thống quản lý tập trung quyền lực hoàn toàn vào tay một số ít người; thiếu vắng ý thức quốc gia [60]; quy mô đế quốc quá rộng lớn khó kiểm soát; và cuối cùng là sự xâm lược của Vương quốc Greco-Bactria (Hy Lạp - Bactria).

Dòng thời gian

  • Năm 322 TCN: Chandragupta Maurya chinh phục Đế chế Nanda, thành lập triều đại Maurya.[61]
  • Năm 317–316 TCN: Chandragupta Maurya chinh phục khu vực Tây Bắc của tiểu lục địa Ấn Độ.
  • Năm 305–303 TCN: Chandragupta Maurya giành được lãnh thổ bằng cách đánh bại Đế chế Seleucid.
  • Năm 298–269 TCN: Thời kỳ trị vì của Bindusara, con trai của Chandragupta. Ông chinh phục một phần của Deccan, miền Nam Ấn Độ.
  • Năm 269–232 TCN: Đế chế Maurya đạt đến đỉnh cao dưới thời Ashoka, cháu trai của Chandragupta.
  • Năm 261 TCN: Ashoka chinh phục vương quốc Kalinga.
  • Năm 250 TCN: Ashoka xây dựng các bảo tháp Phật giáo và dựng các cột trụ có khắc chữ.
  • Năm 184 TCN: Đế chế sụp đổ khi Brihadratha, vị hoàng đế cuối cùng, bị giết bởi Pushyamitra Shunga, một tướng lĩnh của Maurya và là người sáng lập Đế chế Shunga.

Chú thích

  1. Pg.740 : "Chandragupta and Seleucus Nikator, who had inherited the eastern provinces of Alexander empire. This may have occurred in about 301 BCE and was resolved by an agreement. Chandragupta obtained the territories of Arachosia (the Kandahar area of south-east Afghanistan), Gedrosia (south Baluchistan), and Paropomisadai (the area between Afghanistan and the Indian subcontinent) and handed over 500 elephants in return. " Pg.748 : "The distribution of Ashoka's inscriptions suggests the extent of the Maurya empire. In the north-west, it extended up to Kandahar in Afghanistan, with the kingdom of Antiochus II of Syria lying to the west. Its eastern frontier extended to Orissa. It included almost the entire subcontinent, except the southernmost parts, which, according to rock edict 13, were inhabited by the Cholas and Pandyas, and according to rock edict 2, by the Keralaputras and Satiyaputras."Upinder Singh (2008). History Of Ancient And Early Medeival India From The Stone Age To The 12th Century. tr. 740,748.
  2. " Pg.67 - After Alexanderâs retreat from the Indus the Emperor Chandragupta Maurya established the first indigenous empire to exercise control over much of the subcontinent, and eventually, under his successors, this covered all but the tip of the peninsula. Asoka, the greatest of the Mauryan emperors, took power in 272 BC and extended the empire from Afghanistan to Assam and from the Himalayas to Mysore, leaving behind a series of inscriptions recording his edicts on pillars and rocks across the continent." Shackley, Myra L. (2006). Atlas of travel and tourism development. Internet Archive. Amsterdam ; Boston : Elsevier. tr. 67. ISBN 978-0-7506-6348-9.
  3. "Trang 33: Ashoka (Asoka) là vị vua thứ ba của Đế chế MAURYAN. Dưới thời trị vì dài của ông, đế chế mà ông thừa kế đã đạt đến đỉnh cao về lãnh thổ và văn hóa. Ngay sau khi ông qua đời, Đế chế Maurya bị phân chia và sụp đổ. Ông được nhớ đến như một nhà cai trị vĩ đại trong lịch sử thế giới và là vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử Ấn Độ. Chandragupta Maurya đã thành lập triều đại Maurya vào năm 326 TCN. Cả ông và con trai ông, Bindusara, đều là những chiến binh thành công, thống nhất miền bắc Ấn Độ và một phần của Afghanistan hiện đại lần đầu tiên trong lịch sử. Ashoka không phải là con trai cả của Bindusara, và có một khoảng thời gian giữa cái chết của cha ông và việc ông kế vị, có thể là do chiến tranh với các anh em của mình. Ashoka tiếp tục mở rộng đế chế bằng cách chinh phục về phía nam. Một cuộc chiến chống lại Kalinga ở phía đông nam đã đặc biệt đẫm máu và khiến ông vô cùng hối hận. Do đó, ông đã chuyển sang Phật giáo (từ Ấn Độ giáo Vệ Đà) và từ bỏ chiến tranh như một công cụ chính sách." "Trang 262: Chandragupta Maurya đã thành lập Đế chế Maurya vào năm 326 TCN ở miền bắc Ấn Độ. Con trai của ông là Bindusara và cháu trai Ashoka (Asoka) tiếp tục cuộc chinh phục của ông, thống nhất toàn bộ tiểu lục địa, ngoại trừ phần cực nam, và một phần của Afghanistan vào đế chế lớn đầu tiên của Ấn Độ." "Trang 270: Vào năm 324 TCN, Chandragupta Maurya đã thống nhất miền bắc Ấn Độ bằng cách đánh bại các đối thủ của mình. Ông tiếp tục chiến tranh với người kế vị của ALEXANDER ĐẠI ĐẾ tại châu Á, Seleucus Nicator, đẩy lùi lực lượng của ông ta khỏi các vùng biên giới của Ấn Độ. Vào năm 305 TCN, hai người đã ký kết một hiệp ước trong đó người Hy Lạp rút lui khỏi Punjab ở tây bắc Ấn Độ và xác định ranh giới phía tây của Đế chế MAURYAN đến đỉnh núi Hindu Kush. Cũng có sự trao đổi giữa các đại sứ, quà tặng, và một đề cập mơ hồ về một liên minh hôn nhân. Megasthenes là đại diện của Seleucus tại triều đình của Chandragupta." "Xem bản đồ Đế chế Mauryan, Trang: 590."Bách khoa toàn thư về Lịch sử Thế giới, 7 Tập. tr. 33,262,270,590.
  4. Smith, Vincent Arthur (1920), The Oxford History of India: From the Earliest Times to the End of 1911, Clarendon Press, tr. 104–106
  5. Majumdar, R. C.; Raychaudhuri, H. C.; Datta, Kalikinkar (1950), An Advanced History of India , Macmillan & Company, tr. 104
  6. Schwartzberg, Joseph E. A Historical Atlas of South Asia, 2nd ed. (University of Minnesota, 1992), Plate III.B.4b (p.18) and Plate XIV.1a-c (p.145)
  7. 1 2 3 Bronkhorst, Johannes (Author); Flood, Gavin (Editor). The Oxford History of Hinduism: Hindu Practice (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 68. ISBN 978-0-19-873350-8. {{Chú thích sách}}: |first1= có tên chung (trợ giúp)
  8. 1 2 Long, Jeffery D. Historical Dictionary of Hinduism (bằng tiếng Anh). Rowman & Littlefield. tr. 255. ISBN 978-1-5381-2294-5.
  9. Smith, vincent A. (1981). The Oxford History Of India Part. 1-3, Ed. 4th. Oxford University Press. tr. 99. the only direct evidence throwing light....is that of Jain tradition. ...it may be that he embraced Jainism towards the end of his reign. ...after much consideration I am inclined to accept the main facts as affirmed by tradition.... no alternative account exists.
  10. Dalrymple, William (ngày 7 tháng 10 năm 2009). Nine Lives: In Search of the Sacred in Modern India (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4088-0341-7. It was here, in the third century BC, that the first Emperor of India, Chandragupta Maurya, embraced the Jain religion and died through a self-imposed fast to the death,......
  11. Keay, John (1981). India: A History (bằng tiếng Anh). Open Road + Grove/Atlantic. tr. 85–86. ISBN 978-0-8021-9550-0.
  12. Omvedt, Gail. Buddhism in India: Challenging Brahmanism and Caste (bằng tiếng Anh). SAGE Publications. tr. 119. ISBN 978-0-7619-9664-4.
  13. Boyce, Mary; Grenet, F. (tháng 1 năm 1991). A History of Zoroastrianism, Zoroastrianism under Macedonian and Roman Rule (bằng tiếng Anh). BRILL. tr. 149. ISBN 978-90-04-29391-5.
  14. Avari, Burjor (2007). India, the Ancient Past: A History of the Indian Sub-continent from C. 7000 BC to AD 1200 Taylor & Francis. ISBN 0415356156. pp. 188-189.
  15. Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006). "East-West Orientation of Historical Empires". Journal of World-Systems Research. Quyển 12 số 2. tr. 223. ISSN 1076-156X. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016.
  16. Thanjan, Davis K. (2011). Pebbles (bằng tiếng Anh). Bookstand Publishing. ISBN 9781589098176.
  17. Kulke, Hermann; Rothermund, Dietmar (2004), A History of India, 4th edition. Routledge, Pp. xii, 448, ISBN 0-415-32920-5
  18. Thapar, Romila (1990), A History of India, Volume 1, New Delhi and London: Penguin Books. Pp. 384, ISBN 0-14-013835-8
  19. 1 2 3 Rajadhyaksha, Abhijit (ngày 2 tháng 8 năm 2009). "The Mauryas: Chandragupta". Historyfiles.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  20. The First Great Political Realist: Kautilya and His Arthashastra - Roger Boesche - Google Books. Books.google.co.in. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  21. Encyclopedia of population - Google Books. Books.google.co.in. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  22. Sugandhi, Namita (ngày 1 tháng 8 năm 2008). "Between the Patterns of History: Rethinking Mauryan Imperial Interaction in the Southern Deccan": 67. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2024. {{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  23. Kosmin 2014, tr. 31.
  24. Nath sen, Sailendra (1999). Ancient Indian History and Civilization. Routledge. tr. 162. ISBN 9788122411980. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2023. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  25. R. K. Mookerji 1966, tr. 31.
  26. Thapar 2013, tr. 362–364.
  27. 1 2 Sen 1895, tr. 26–32.
  28. Upinder Singh 2008, tr. 272.
  29. Mookerji 1988, tr. 28–33.
  30. Hemacandra 1998, tr. 175–188.
  31. Mookerji 1988, tr. 33.
  32. Malalasekera 2002, tr. 383.
  33. Mookerji 1988, tr. 33-34.
  34. Trautmann 1971, tr. 43.
  35. Nath sen, Sailendra (1999). Ancient Indian History and Civilization. Routledge. tr. 162. ISBN 9788122411980. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2023. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  36. 1 2 From Polis to Empire, the Ancient World, C. 800 B.C.-A.D. 500. Greenwood Publishing. 2002. ISBN 0313309426. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  37. Kistler, John M. (2007). War Elephants. University of Nebraska Press. tr. 67. ISBN 978-0803260047. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  38. s, deepak (ngày 25 tháng 10 năm 2016). Indian civilization (bằng tiếng Anh). deepak shinde.
  39. Arrian. "Book 5". Anabasis. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2023. Megasthenes lived with Sibyrtius, satrap of Arachosia, and often speaks of his visiting Sandracottus, the king of the Indians. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  40. Romila Thapar (1961), Aśoka and the decline of the Mauryas, Volume 5, p.129, Oxford University Press. "The architectural closeness of certain buildings in Achaemenid Iran and Mauryan India have raised much comment. The royal palace at Pataliputra is the most striking example and has been compared with the palaces at Susa, Ecbatana, and Persepolis."
  41. Dikshitar, V. R. Ramachandra (1993). The Mauryan Polity (bằng tiếng Anh). Motilal Banarsidass. ISBN 9788120810235.
  42. R. K. Mookerji 1966, tr. 39–40.
  43. Geoffrey Samuel 2010, tr. 60.
  44. Romila Thapar 2004, tr. 178.
  45. R. K. Mookerji 1966, tr. 39–41.
  46. Srinivasachariar 1974, tr. lxxxvii.
  47. Motilal Banarsidass (1993). "The Minister Cāṇakya, from the Pariśiṣtaparvan of Hemacandra". Trong Phyllis Granoff (biên tập). The Clever Adulteress and Other Stories: A Treasury of Jaina Literature. Rosalind Lefeber biên dịch. tr. 204–206. ISBN 9788120811508.
  48. 1 2 Upinder Singh 2008, tr. 331.
  49. Dineschandra Sircar 1971, tr. 167.
  50. William Woodthorpe Tarn (2010). The Greeks in Bactria and India. Cambridge University Press. tr. 152. ISBN 9781108009416.
  51. Mookerji Radhakumud (1962). Asoka. Motilal Banarsidass. tr. 8. ISBN 978-81-208-0582-8. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2018.
  52. 1 2 Alain Daniélou 2003, tr. 109.
  53. Eugène Burnouf (1911). Legends of Indian Buddhism. New York: E. P. Dutton. tr. 59.
  54. 1 2 3 S. N. Sen 1999, tr. 142.
  55. William Woodthorpe Tarn (2010). The Greeks in Bactria and India. Cambridge University Press. tr. 152. ISBN 9781108009416.
  56. Mookerji Radhakumud (1962). Asoka. Motilal Banarsidass. tr. 8. ISBN 978-81-208-0582-8. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2018.
  57. Anukul Chandra Banerjee, Buddhism in comparative light, p. 24
  58. Allchin, F. R.; Erdosy, George (1995). The Archaeology of Early Historic South Asia: The Emergence of Cities and States. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 306.
  59. Edicts of Ashoka, 13th Rock Edict, translation S. Dhammika.
  60. Thapar, Romila (2012). Aśoka and the Decline of the Mauryas. Oxford Scholarship Online. doi:10.1093/acprof:oso/9780198077244.003.0031. ISBN 9780198077244. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2023. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  61. D. C. Ahir (1998). Buddhism in North India and Pakistan. tr. 121.

Tham khảo

  • Robert Morkot, The Penguin Historical Atlas of Ancient Greece ISBN 0-14-051335-3
  • Chanakya, Arthashastra ISBN 0-14-044603-6
  • J.F.C. Fuller, The Generalship of Alexander the Great ISBN 0-306-81330-0

Liên kết ngoài