Đại sảnh Danh vọng Bóng rổ Naismith
| Naismith Basketball Hall of Fame | |
Đại sảnh Danh vọng vào năm 2010 | |
| Thành lập | 1959 (tổ chức) 17 tháng 2 năm 1968 (cơ sở) |
|---|---|
| Vị trí | Springfield, Massachusetts, Hoa Kỳ |
| Kiểu | Đại sảnh danh vọng thể thao chuyên nghiệp |
| Chủ tịch | John Doleva |
| Chủ tọa | Jerry Colangelo |
Đại sảnh Danh vọng Bóng rổ Naismith là một bảo tàng lịch sử và đại sảnh danh vọng của Mỹ, tọa lạc tại số 1000 Đại lộ Danh vọng ở Springfield, Massachusetts. Đây là thư viện bóng rổ đầy đủ nhất, đồng thời quảng bá và bảo tồn lịch sử bóng rổ. Được dành riêng để tưởng nhớ bác sĩ người Mỹ gốc Canada James Naismith, người phát minh ra bộ môn thể thao này tại Springfield, Đại sảnh Danh vọng đã kết nạp khóa đầu tiên vào năm 1959, trước khi mở cơ sở đầu tiên vào ngày 17 tháng 2 năm 1968.[1]
Tính đến năm 2024[cập nhật], Đại sảnh đã ghi nhận 436 người bao gồm cầu thủ, huấn luyện viên, trọng tài và các chuyên gia bóng rổ khác.[2] Boston Celtics là đội bóng được vinh danh nhiều nhất, với 40 cái tên.
Lịch sử
Đại sảnh Danh vọng Bóng rổ Naismith do cựu giám đốc thể thao Trường Cao đẳng Colby Lee Williams thành lập năm 1959, mà không có địa điểm thực tế. Thập niên 1960, Đại sảnh Danh vọng gặp nhiều khó khăn trong việc gây quỹ để xây dựng cơ sở đầu tiên của mình. Tuy vậy, số tiền cần thiết đã được huy động và tòa nhà được khánh thành vào ngày 17 tháng 2 năm 1968,[1] chưa đầy một tháng sau khi Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia tổ chức All-Star Game lần thứ 18. Hội đồng danh vọng bóng rổ đã lựa chọn bốn nhân vật trong năm đầu tiên. Ngoài việc tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho bóng rổ, Đại sảnh Danh vọng cũng có những đóng góp của riêng mình. Năm 1979, Đại sảnh tài trợ cho Tip-Off Classic, một cuộc triển lãm bóng rổ đại học trước mùa giải. Kể từ đó, Tip-Off Classic đã trở thành khởi đầu cho mùa giải bóng rổ đại học và được tổ chức ở Springfield, Massachusetts mỗi vài năm.[3]
Trong 17 năm mà Đại sảnh Danh vọng Bóng rổ hoạt động tại Trường Cao đẳng Springfield, nơi đây thu hút hơn 630.000 du khách. Sự nổi tiếng của Đại sảnh dẫn đến việc ngày 30 tháng 6 năm 1985, một cơ sở mới trị giá 11,5 triệu đô la Mỹ đã được mở bên cạnh Sông Connecticut ở Springfield.[4] Thời điểm này cũng là lần đầu tiên nơi đây ghi nhận phụ nữ, với những cái tên như Senda Berenson Abbott, người đầu tiên giới thiệu bóng rổ cho phụ nữ tại Trường Cao đẳng Smith. Trong những năm sau xây dựng, cơ sở thứ hai của Đại sảnh thu hút nhiều du khách hơn dự kiến, phần lớn do môn thể thao ngày càng phổ biến nhưng cũng do vị trí đẹp bên cạnh dòng sông và kiến trúc hiện đại nổi bật của nơi này.[3]
Năm 2002, Đại sảnh Danh vọng lại chuyển đi[5] đến một cơ sở trị giá 47 triệu đô la Mỹ do công ty Gwathmey Siegel & Associates thiết kế, dù chỉ cách 100 yard (91 m) về phía nam dọc theo bờ sông Springfield. Kiến trúc của tòa nhà là một quả cầu kim loại bằng bạc có hình quả bóng rổ được bao quanh bởi hai hình thoi đối xứng. Mái vòm được chiếu sáng vào ban đêm và có diện tích 80.000 foot vuông (7.400 m2), chứa một cửa hàng bánh sandwich Subway và một cửa hàng quà tặng lớn. Cơ sở thứ hai không bị phá bỏ mà được chuyển đổi thành câu lạc bộ sức khỏe LA Fitness. Đại sảnh có Center Court, một sân bóng rổ kích thước thực tế cho phép du khách sử dụng. Bên trong tòa nhà có phòng trưng bày trận đấu, nhiều triển lãm tương tác, một số rạp chiếu phim và một khu vực tôn vinh những nhân vật quan trọng. Một rạp lớn dành cho các buổi lễ có sức chứa lên đến 300 người. Những người được vinh danh vào năm 2002 bao gồm Harlem Globetrotters và Magic Johnson, nhà vô địch NBA năm lần, MVP Vòng chung kết NBA ba lần và vận động viên huy chương vàng Olympic.[3]
Tính đến năm 2011, Đại sảnh đã vượt xa mong đợi về lượng người tham dự với những người hâm mộ bóng rổ đến đây từ khắp nơi trên thế giới.[6]

Tiêu chí tuyển chọn
Trái ngược với các Đại sảnh Danh vọng Bóng đá và Bóng chày Quốc gia, Springfield vinh danh vận động viên chuyên nghiệp và nghiệp của cả Mỹ và quốc tế, khiến nơi đây được cho là Đại sảnh Danh vọng toàn diện nhất trong số các môn thể thao lớn của Mỹ. Từ năm 2011 đến năm 2015, có bảy ủy ban được thành lập, và tính đến năm 2016, có sáu ủy ban được giao nhiệm vụ lọc và bầu chọn ứng viên. Bốn trong số các ủy ban này sàng lọc các ứng viên tiềm năng:[8]
- Ủy ban Sàng lọc Bắc Mỹ (9 thành viên)
- Ủy ban Sàng lọc Phụ nữ (7 thành viên)
- Ủy ban Sàng lọc Quốc tế (7 thành viên)
- Ủy ban Sàng lọc Cá nhân kỳ cựu (7 thành viên), với "Cá nhân kỳ cựu" được định nghĩa là những người kết thúc sự nghiệp ít nhất 35 năm trước khi được xem xét bầu chọn.[9]
Kể từ năm 2011, các Ủy ban Cá nhân kỳ cựu và Quốc tế cũng bỏ phiếu để trực tiếp chọn một ứng cử viên cho mỗi khóa.[10]
Ba ủy ban được thành lập vào năm 2011 để trực tiếp bầu một ứng cử viên cho mỗi khóa:[10]
- Ủy ban Hiệp hội Bóng rổ Hoa Kỳ – Ủy ban này được giải thể vĩnh viễn vào năm 2015 vì đã hoàn thành mục đích của mình trong năm năm trước đó.[11]
- Ủy ban Bầu chọn Trực tiếp Người đóng góp
- Các ủy ban khác có thể chọn người đóng góp. Ví dụ, khóa năm 2014 có hai người đóng góp.
- Ủy ban Người Mỹ gốc Phi Tiên phong Bộ môn
Những cá nhân nhận được ít nhất 7 phiếu bầu từ Ủy ban Sàng lọc Bắc Mỹ hoặc 5 phiếu bầu từ một trong các ủy ban sàng lọc khác trong một năm nhất định sẽ đủ điều kiện để được xem xét bởi Ủy ban Danh dự, bao gồm 12 thành viên và các nhóm luân phiên gồm 12 chuyên gia (một nhóm dành cho ứng viên nữ, một nhóm dành cho ứng viên quốc tế và một nhóm dành cho ứng viên Hoa Kỳ và kỳ cựu) để bỏ phiếu cho từng ứng viên. Mỗi ủy ban sàng lọc bị giới hạn số lượng ứng viên có thể đề cử cho Ủy ban Danh dự—10 ứng viên từ Ủy ban Bắc Mỹ và 2 ứng viên từ mỗi ủy ban khác. Bất kỳ cá nhân nào nhận được ít nhất 18 phiếu thuận (75% tổng số phiếu) từ Ủy ban Danh dự đều được chấp thuận để được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng. Nếu số lượng ứng viên nhận đủ phiếu bầu từ một ủy ban sàng lọc không lớn hơn số lượng ứng viên lọt vào vòng chung kết mà ủy ban được phép đề cử, việc đề cử vào Ủy ban Danh dự thường mang tính hình thức, mặc dù Hội đồng Quản trị của Đại sảnh Danh vọng có thể loại bất kỳ ứng viên nào "đã làm tổn hại đến tính toàn vẹn của môn bóng rổ".[9]
Để được xem xét vinh danh bởi một ủy ban sàng lọc, một cầu thủ, huấn luyện viên hoặc trọng tài phải nghỉ hưu hoàn toàn khỏi vai trò của mình được ít nhất đủ ba mùa giải.[12] Thời gian chờ ban đầu là năm năm, nhưng đã được thay đổi thành bốn năm vào tháng 12 năm 2015,[13] và thành ba mùa giải vào tháng 12 năm 2017.[12] Kể từ trước khóa 2018, các trọng tài hoạt động toàn thời gian 25 năm lập tức đủ điều kiện ngay cả khi chưa về hưu.[13] Việc thay đổi tiêu chí xem xét huấn luyện viên đang hoạt động cũng được công bố vào năm 2017. Các huấn luyện viên đủ điều kiện khi hoạt động toàn thời gian 25 năm ở cấp trung học trở lên hoặc ba mùa giải sau khi nghỉ hưu.[13] Có hiệu lực từ khóa 2020, các huấn luyện viên đang hoạt động phải đáp ứng thêm yêu cầu là ít nhất 60 tuổi.[12] Không yêu cầu tiêu chí về số năm hoạt động đối với những người đã có "đóng góp đáng kể cho bộ môn bóng rổ". Các nhà báo thể thao và bình luận viên có thể được chọn làm thành viên chính thức, trái ngược với Đại sảnh Danh vọng bóng chày, nơi có sự phân biệt giữa nhóm này và Đại sảnh Danh vọng "thực sự".[9]
Chỉ trích
Một số khía cạnh trong quy trình bỏ phiếu của Đại sảnh gây tranh cãi, bao gồm việc ẩn danh cử tri. Trong khi các nhà báo thể thao bình chọn cho Đại sảnh Danh vọng của những môn thể thao lớn khác công khai tranh luận về quyết định của họ, thì quy trình của Đại sảnh Naismith lại không minh bạch.[14] Họ cũng bị chỉ trích vì có xu hướng tiếp nhận các huấn luyện viên đại học còn hoạt động và các cầu thủ ít tên tuổi, nhưng lại bỏ qua một số cầu thủ và huấn luyện viên thành công.[15]
Đại sảnh đã nhận phản ứng dữ dội vì loại trừ những cầu thủ, huấn luyện viên và nhà cải cách như vậy. Ví dụ, luật 24 giây ở Hiệp Hội Bóng Rổ Quốc Gia do Kim Ferris và Danny Biasone phát triển, nhưng chỉ có Biasone được ghi danh. Ferris được liệt kê là ứng cử viên đủ điều kiện từ năm 2017 đến năm 2023.[16] Tim Hardaway là một cầu thủ được xem là bị Đại sảnh "làm ngơ" trong một thời gian dài, có thể là do những bình luận tiêu cực trong quá khứ của anh về cộng đồng LGBT dù có sự ủng hộ từ các đồng nghiệp khi nói đến khả năng thi đấu của anh; anh được vinh danh vào năm 2022.[17] Chín trong số mười huấn luyện viên trưởng NCAA hạng nhất đã thắng 800 trận hiện ở trong Đại sảnh Danh vọng, với Cliff Ellis (894 chiến thắng) là ngoại lệ duy nhất. Leta Andrews, huấn luyện viên thắng nhiều trận nhất mọi thời đại ở Hoa kỳ (1.416 chiến thắng), đã lọt vào vòng chung kết năm lần nhưng chưa bao giờ được vinh danh.[18] Đáng chú ý nhất, Eddie Sutton chờ mười hai năm sau khi nghỉ hưu để được kết nạp.[19] Ken Anderson, huấn luyện viên bóng rổ đại học nắm giữ tỷ lệ chiến thắng cao thứ ba lịch sử, không có tên trong Đại sảnh.
Đại sảnh Bóng rổ khác biệt rõ rệt so với bóng chày và bóng bầu dục, đặc biệt ở quy trình bỏ phiếu và kết nạp. Có nhiều ủy ban bỏ phiếu khác nhau cho Sảnh Danh vọng Bóng rổ: Ủy ban Quốc tế, Ủy ban Bắc Mỹ, Ủy ban Phụ nữ, Ủy ban Bầu chọn Trực tiếp Người đóng góp, Ủy ban Người Mỹ gốc Phi Tiên phong và Ủy ban Cá nhân kỳ cựu. Mỗi ủy ban tự lựa chọn ứng viên của mình. Các thành viên của mỗi ủy ban này có nhiệm kỳ ba năm. Cách thức lựa chọn và danh tính các thành viên hầu như không được công chúng biết đến. Những người được kết nạp không biết ai đã kết nạp họ, và những người kết nạp họ được cho là không bao giờ cho họ biết.[20]
Theo Mark Purdy, một nhà báo thể thao và thành viên ủy ban tuyển chọn của Đại sảnh Danh vọng Bóng chày, Đại sảnh Danh vọng Bóng rổ thiếu độ danh giá. Ông lập luận rằng Đại sảnh Bóng chày bắt đầu kết nạp vào năm 1936, 23 năm trước Bóng rổ, nhưng tính đến năm 2014, Đại sảnh Bóng rổ lại có nhiều thành viên hơn.[21] John Doleva, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Đại sảnh Danh vọng Bóng rổ Tưởng niệm Naismith, phản bác: "Tôi đã quen với việc giải thích điều này và nó khác với bóng bầu dục và bóng chày", Doleva nói. "Bởi vì bóng bầu dục và bóng chày chỉ tiếp nhận các vận động viên nam chuyên nghiệp. Naismith đã phát minh ra môn thể thao này cho tất cả mọi người: nam, nữ, trung học, đại học, chuyên nghiệp, huấn luyện viên, cầu thủ. Chúng tôi thực sự đại diện cho toàn bộ môn thể thao, vì vậy chúng tôi có một nhóm rộng hơn".[20]
Những người được kết nạp

Từ năm 1959, 436 huấn luyện viên, cầu thủ, trọng tài, người đóng góp và đội đã được vinh danh,[2] với khóa gần đây nhất kết nạp vào ngày 12 tháng 10 năm 2024.[22] John Wooden, Lenny Wilkens, Bill Sharman, Tom Heinsohn và Bill Russell được bầu chọn với tư cách là cả cầu thủ và huấn luyện viên (Wooden vào các năm 1960 và 1973, Sharman vào các năm 1976 và 2004, Wilkens vào các năm 1989, 1998 và 2010, Heinsohn vào các năm 1986 và 2015, Russell vào các năm 1975 và 2021). John McLendon được ghi nhận với tư cách là cả người đóng góp (năm 1979) và huấn luyện viên (năm 2016).[23]
Có ba lần, Đại sảnh kết nạp khóa mới không bao gồm cầu thủ nào – 1965, 1968 và 2007.[24]
Các giải thưởng khác
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, Đại sảnh Danh vọng Bóng rổ Tưởng niệm Naismith đã tạo ra Giải thưởng Tác động Ice Cube, đặt theo tên rapper Ice Cube, cũng là người nhận giải đầu tiên vào ngày 15 tháng 1 năm 2024.[25]
Cùng với Vòng bán kết của các giải đấu bóng rổ nam và nữ NCAA Hạng Nhất hàng năm, Đại sảnh Naismith trao một số giải thưởng cho các vận động viên bóng rổ đại học.
Đối với nam, Đại sảnh trao giải thưởng cho những cầu thủ xuất sắc nhất ở Hạng Nhất ở mỗi vị trí trong năm vị trí bóng rổ tiêu chuẩn:
- Giải thưởng Bob Cousy, trao tặng từ năm 2004 cho hậu vệ dẫn bóng hàng đầu.[26]
- Giải thưởng Jerry West, trao tặng từ năm 2015 cho hậu vệ ghi điểm hàng đầu.[27]
- Giải thưởng Julius Erving, trao tặng từ năm 2015 cho tiền phong phụ hàng đầu.[28]
- Giải thưởng Karl Malone, trao tặng từ năm 2015 cho tiền phong chính hàng đầu.[29]
- Giải thưởng Kareem Abdul-Jabbar, trao từ năm 2015 cho trung phong hàng đầu.[30]
Đại sảnh phối hợp với Hiệp hội Huấn luyện viên Bóng rổ Nữ trao các giải thưởng tương tự cho những cầu thủ nữ hàng đầu của Hạng Nhất:
- Giải thưởng Nancy Lieberman, trao tặng từ năm 2000 dành cho hậu vệ dẫn bóng hàng đầu.[31]
- Giải thưởng Ann Meyers Drysdale, trao tặng từ năm 2018 cho hậu vệ ghi điểm hàng đầu.[32]
- Giải thưởng Cheryl Miller, trao tặng từ năm 2018 cho tiền phong phụ hàng đầu.[33]
- Giải thưởng Katrina McClain, trao tặng từ năm 2018 cho tiền phong chính hàng đầu.[34]
- Giải thưởng Lisa Leslie, trao tặng từ năm 2018 cho trung phong hàng đầu.[35]
Mỗi người đoạt giải được lựa chọn bởi một ủy ban tuyển chọn của Đại sảnh Danh vọng, cùng với người mang tên giải thưởng.
Đại sảnh cũng từng trao Giải thưởng Frances Pomeroy Naismith cho hai sinh viên năm cuối đại học—một cầu thủ nam cao không quá 72 inch (1,83 m) và một cầu thủ nữ cao không quá 68 inch (1,73 m)—được xác định là những vận động viên sinh viên xuất sắc nhất cả nước. Giải thưởng dành cho nam, trao từ năm 1969, do Hiệp hội Huấn luyện viên Bóng rổ Quốc gia (NABC) bình chọn, và giải thưởng dành cho nữ, trao từ năm 1984, do các thành viên của Hiệp hội Huấn luyện viên Bóng rổ Nữ bình chọn. Cả hai giải thưởng đều đã ngừng trao sau mùa giải 2012–13.
Tham khảo
- 1 2 Markovits, Andrei; Rensmann, Lars (tháng 12 năm 2013). Gaming the World: How Sports Are Reshaping Global Politics and Culture. Princeton University Press. ISBN 9780691162034. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
- 1 2 "The Naismith Memorial Basketball Hall of Fame :: Hall Of Famers". www.hoophall.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.
- 1 2 3 "The Naismith Memorial Basketball Hall of Fame :: History of The Naismith Memorial Basketball Hall of Fame". www.hoophall.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Goldaper, Sam (ngày 30 tháng 6 năm 1985). "Home of Basketball Memories". The New York Times. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Where is the national basketball Hall of Fame located? – The Basketball Fans". The Basketball Fans (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018.
- ↑ "Riverfront Park and Stearns Square Reopen After Major Renovations". Northeast Public Radio. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2020.
- ↑ Linn, Charles (tháng 1 năm 2003), "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame", Architectural Record, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2008
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Announces 12 Finalists for 2011 Election" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 18 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
- 1 2 3 "Guidelines For Nomination and Election Into the Naismith Memorial Basketball Hall of Fame". Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
- 1 2 "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Announces 12 Finalists for 2013 Election" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 15 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "Hall of Fame Announces Modifications to its Enshrinement Process". Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 14 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015.
- 1 2 3 "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Announces Modifications to its Enshrinement Process Beginning with the Class of 2018" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 19 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2018.
- 1 2 3 "Guidelines For Nomination and Election". Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015.
- ↑ Aschburner, Steve. "Hall of Fame selection process leaves much to be desired". NBA.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2014.
- ↑ Ziller, Tom (ngày 30 tháng 3 năm 2010). "Fans to Vote for Basketball Hall of Fame Inductees". AOL News. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame announces eligible candidates for Class of 2022". NBA.com. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Aston, Ryan (ngày 19 tháng 2 năm 2022). "Heat Rumors: Hardaway Gets Another HOF Shot". Heavy.com. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Engel, Mac (ngày 28 tháng 3 năm 2022). "Basketball Hall of Fame's ongoing snub of winningest high school coach reeks of sexism". Fort Worth Star-Telegram. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2022.
- ↑ Kolok, Jeremy (ngày 13 tháng 2 năm 2020). "Column: Eddie Sutton's exclusion from Hall of Fame a disgrace to basketball". ocolly.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2020.
- 1 2 Washburn, Gary (ngày 5 tháng 9 năm 2019). "Naismith Basketball Hall of Fame Voting a Secret Society". Boston Globe .
- ↑ Purdy, Mark (ngày 8 tháng 4 năm 2014). "Purdy: The Non-Exclusive Hall of Fame". Oakland Tribune.
- ↑ "Naismith Basketball Hall of Fame announces 13 inductees for Class of 2024". NBA.com. ngày 24 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Johnson, Claude (ngày 8 tháng 9 năm 2016). "Basketball legend 'Coach Mac,' John McLendon, finally in Hall of Fame as coach". Andscape. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2018.
- ↑ "Year By Year Enshrinees into the Naismith Memorial Basketball Hall of Fame". www.hoophall.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Naismith Basketball Hall of Fame and Ice Cube Announced Inaugural Ice Cube Impact Award". Naismith Basketball Hall of Fame (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Narrows Watch List for 2018 Bob Cousy Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 5 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Narrows Watch List for 2018 Jerry West Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 6 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Narrows Watch List for 2018 Julius Erving Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 7 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Narrows Watch List for 2018 Karl Malone Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 8 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame Narrows Watch List for 2018 Kareem Abdul-Jabbar Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 6 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame, Women's Basketball Coaches Association Narrow Watch List for 2018 Nancy Lieberman Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 29 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame, Women's Basketball Coaches Association Narrow Watch List for 2018 Ann Meyers Drysdale Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 30 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame, Women's Basketball Coaches Association Narrow Watch List for 2018 Cheryl Miller Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 31 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame, Women's Basketball Coaches Association Narrow Watch List for 2018 Katrina McClain Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 1 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ "Naismith Memorial Basketball Hall of Fame, Women's Basketball Coaches Association Narrow Watch List for 2018 Lisa Leslie Award" (Thông cáo báo chí). Naismith Memorial Basketball Hall of Fame. ngày 2 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.