Đa dạng văn hóa

Đa dạng văn hóa (Cultural diversity) là đặc điểm của các nền văn hóa đa dạng hoặc khác biệt, trái ngược với đơn điệu văn hóa. Đa dạng văn hóa có nhiều ý nghĩa khác nhau trong các bối cảnh khác nhau, đôi khi áp dụng cho các sản phẩm văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật trong bảo tàng hoặc hoạt động giải trí có sẵn trực tuyến, và đôi khi áp dụng cho sự đa dạng của các nền văn hóa hoặc truyền thống của con người trong một khu vực cụ thể, hoặc trên toàn thế giới nói chung. Nó cũng có thể đề cập đến sự bao trùm của các quan điểm văn hóa khác nhau trong một tổ chức hoặc xã hội. Các quốc gia chủ yếu tìm cách bảo vệ sự đa dạng văn hóa bằng cách củng cố khả năng bán hàng hóa hoặc dịch vụ của các ngành công nghiệp văn hóa trong nước.[2] Từ những năm 1990, UNESCO chủ yếu sử dụng "đa dạng văn hóa" cho các khía cạnh quốc tế của sự đa dạng, ưa thích thuật ngữ "đa nguyên văn hóa" hơn cho sự đa dạng trong một quốc gia.[3] Đa dạng văn hóa có thể bị ảnh hưởng từ các yếu tố chính trị như sự kiểm duyệt hoặc việc bảo vệ quyền của các nghệ sĩ, và bởi các yếu tố kinh tế như thương mại tự do hoặc chủ nghĩa bảo hộ trong thị trường hàng hóa văn hóa.
Đại cương Đa dạng văn hóa
Kể từ giữa thế kỷ XX, quốc tế đã có nỗ lực phối hợp quốc tế để bảo vệ sự đa dạng văn hóa, với sự tham gia của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) và các quốc gia thành viên. Điều này liên quan đến các hành động ở cấp độ quốc tế, quốc gia và địa phương. Đa dạng văn hóa cũng có thể được thúc đẩy bởi các cá nhân thông qua những cách thức mà họ chọn để thể hiện hoặc trải nghiệm văn hóa. Các chính phủ và các cơ quan quốc tế sử dụng "đa dạng văn hóa" theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ý nghĩa rộng lấy cảm hứng từ nhân chủng học.[4] Nó bao gồm lối sống, hệ thống giá trị, truyền thống, và niềm tin bên cạnh các tác phẩm sáng tạo. Nó nhấn mạnh một quá trình tương tác và đối thoại liên tục giữa các nền văn hóa.[5][6] Ý nghĩa này đã được UNESCO thúc đẩy đến với cộng đồng quốc tế, kể từ Tuyên ngôn Toàn cầu về Đa dạng Văn hóa năm 2001. Trong thực tế, các chính phủ sử dụng một ý nghĩa hẹp hơn, truyền thống hơn, tập trung vào lĩnh vực kinh tế đã đề cập ở trên.[7] Đại hội đồng của UNESCO đã đưa ra lập trường này vào năm 2001, khẳng định trong Điều 1 của Tuyên ngôn Toàn cầu về Đa dạng Văn hóa rằng "đa dạng văn hóa đối với nhân loại cần thiết như đa dạng sinh học đối với tự nhiên".[1] Các tác giả John Cavanagh và Jerry Mander đã đưa phép loại suy này tiến xa hơn, khi mô tả đa dạng văn hóa như "một loại vốn gen văn hóa để thúc đẩy sự đổi mới hướng tới những mức độ hoàn thiện về tinh thần, trí tuệ và xã hội ngày càng cao hơn".[8]
Một khía cạnh khác của đa dạng văn hóa được đo lường bằng cách đếm số lượng ngôn ngữ được sử dụng trong một khu vực hoặc trên toàn thế giới nói chung. Theo thước đo này, sự đa dạng văn hóa của thế giới đang suy giảm nhanh chóng. Nghiên cứu do David Crystal thực hiện vào những năm 1990 cho thấy vào thời điểm đó, trung bình cứ hai tuần lại có một ngôn ngữ không còn được sử dụng nữa. Ông tính toán rằng nếu tỷ lệ tuyệt chủng ngôn ngữ đó tiếp tục, thì đến năm 2100, hơn 90% các ngôn ngữ hiện đang được sử dụng trên thế giới sẽ tuyệt chủng.[9] Năm 2003, James Fearon thuộc Đại học Stanford đã công bố, trên tạp chí Journal of Economic Growth, một danh sách các quốc gia dựa trên sự đa dạng của sắc tộc, ngôn ngữ, và tôn giáo.[10] Chủ nghĩa thực dân hay Chủ nghĩa đế quốc văn hóa thường bao hàm sự hủy hoại có chủ đích đối với sự đa dạng văn hóa, khi các cường quốc thực dân, đế quốc sử dụng công cụ giáo dục, truyền thông, và bạo lực để thay thế ngôn ngữ, tôn giáo, và các giá trị văn hóa của những dân tộc bị nô dịch, yếu thế bằng chính văn hóa của họ (kẻ thống trị).[8][11][12] Quá trình đồng hóa cưỡng bức này đã được sử dụng nhiều lần trong lịch sử, đặc biệt là bởi các cường quốc thực dân châu Âu từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX, mang hình thức cưỡng bức cải đạo sang tôn giáo của kẻ thực dân, tư nhân hóa tài sản cộng đồng, và thay thế các hệ thống làm việc.[13][14] Việc bảo vệ các quyền của người bản địa trong việc duy trì ngôn ngữ, tôn giáo, và văn hóa của riêng họ đã được ghi nhận trong các hiệp ước bao gồm Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1965 và Công ước về Quyền Trẻ em của Liên Hợp Quốc năm 1989.[15]
Xem thêm Đa dạng văn hóa
- Chỉ trích chủ nghĩa đa văn hóa
- Giao tiếp đa văn hóa
- Nhạy bén văn hóa
- Giữ gìn văn hóa
- Sự an toàn văn hóa
- Quỹ Ngôn ngữ Có nguy cơ tuyệt chủng
- Ngày Di sản (Nam Phi)
- Đối thoại liên văn hóa
- Quan hệ liên văn hóa
- Nồi lẩu thập cẩm
- Mondialogo
- Chủ nghĩa đa văn hóa
- Sự gắn kết xã hội
- Hội nhập xã hội
- Tiểu văn hóa
Chú thích Đa dạng văn hóa
- 1 2 Passer, Juliette (Autumn 2020). "Did You Know That There Is the Universal Declaration on Cultural Diversity? And Why You Should Care?". International In-House Counsel Journal. 13 (53): 6811–6812. SSRN 4012212.
- ↑ De Beukelaer, Christiaan; Pyykkönen, Miikka (2015). "Confusing Culture, Polysemous Diversity: "Culture" and "Cultural Diversity" in and after the Convention". Trong Beukelaer, Christiaan; Pyykkönen, Miikka; Singh, J. P. (biên tập). Globalization, culture and development: the UNESCO Convention on Cultural Diversity. Houndmills, Basingstoke, Hampshire: Palgrave Macmillan. tr. 24–26. ISBN 978-1-137-39763-8.
- ↑ Saouma, Galia; Isar, Yudhishthir Raj (2015). ""Cultural Diversity" at UNESCO: A Trajectory". Trong Beukelaer, Christiaan; Pyykkönen, Miikka; Singh, J. P. (biên tập). Globalization, culture and development: the UNESCO Convention on Cultural Diversity. Houndmills, Basingstoke, Hampshire: Palgrave Macmillan. tr. 61. ISBN 978-1-137-39763-8.
- ↑ Stamatopoulou, Elsa (2007). Cultural Rights in International Law: Article 27 of the Universal Declaration of Human Rights and Beyond (bằng tiếng Anh). Leiden: BRILL. tr. 77–79. ISBN 978-90-04-15752-1.
- ↑ Garner, Ben (2011). "Globalisation, Cultural Diversity and the Search for a New Global Ethics". Trong Garner, Ben; Pavlenko, Sonia; Shaheen, Salma; Wolanski, Alison (biên tập). Cultural and Ethical Turns: Interdisciplinary Reflections on Culture, Politics and Ethics (PDF). Oxford: Inter-Disciplinary Press. tr. 26–27. OCLC 1289758860. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
- ↑ Adubra, Edem (2009). "Keynote address". International Journal of African Renaissance Studies – Multi-, Inter- and Transdisciplinarity (bằng tiếng Anh). 4 (1): 96–101. doi:10.1080/18186870903102048. ISSN 1818-6874. S2CID 214653220. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
- ↑ De Beukelaer, Christiaan; Pyykkönen, Miikka (2015). "Confusing Culture, Polysemous Diversity: "Culture" and "Cultural Diversity" in and after the Convention". Trong Beukelaer, Christiaan; Pyykkönen, Miikka; Singh, J. P. (biên tập). Globalization, culture and development: the UNESCO Convention on Cultural Diversity. Houndmills, Basingstoke, Hampshire: Palgrave Macmillan. tr. 17. ISBN 978-1-137-39763-8.
- 1 2 Cavanagh, John; Mander, Jerry (2004). Alternatives to Economic Globalization: A Better World Is Possible. Berrett-Koehler Publishers. tr. 89. ISBN 978-1-60509-409-0.
- ↑ Crystal, David (2007). Language death. Canto . Cambridge: Cambridge Univ. Press. ISBN 978-0-521-01271-3.
- ↑ Fearon, James (2003). "Ethnic and Cultural Diversity by Country". Journal of Economic Growth. Quyển 8 số 2. tr. 195–222. doi:10.1023/A:1024419522867. S2CID 152680631.
- ↑ Simmons, Caleb (2020). "Subtle subversions: resisting colonialism through religion". Religion (bằng tiếng Anh). 50 (2): 191–195. doi:10.1080/0048721X.2020.1713510. ISSN 0048-721X.
- ↑ Jinadu, L. Adele (1976). "Language and Politics: On the Cultural Basis of Colonialism (Langue et politique: sur les bases culturelles du colonialisme)". Cahiers d'Études Africaines. 16 (63/64): 603–614. doi:10.3406/cea.1976.2517. ISSN 0008-0055. JSTOR 4391483.
- ↑ Prine Pauls, Elizabeth (ngày 21 tháng 11 năm 2023). "Assimilation | Definition, History, & Facts". Britannica. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Hibbard, Michael (tháng 2 năm 2022). "Indigenous Planning: From Forced Assimilation to Self-determination". Journal of Planning Literature (bằng tiếng Anh). 37 (1): 18. doi:10.1177/08854122211026641. ISSN 0885-4122. S2CID 237728337.
- ↑ Kälin, Walter (2020). "Assimilation, Forced". Max Planck Encyclopedia of Public International Law. Oxford University Press. ISBN 9780199231690.
Tham khảo Đa dạng văn hóa
- Tierney, Stephen, biên tập (2007). Accommodating cultural diversity. Applied legal philosophy. Aldershot: Ashgate. ISBN 978-0-7546-2603-9.