Tiểu văn hóa
| Một phần của |
| Xã hội học |
|---|
|
Trong xã hội học văn hoá, tiểu văn hóa hay nhóm văn hóa là một nhóm người thuộc một xã hội văn hóa tự tách biệt mình với nền văn hóa đại chúng, mặc dù vẫn lưu giữ những nguyên tắc cơ bản của nó[1] Các tiểu văn hoá thường tự phát triển chuẩn mực và giá trị riêng mà không dựa trên bất kỳ yếu tố văn hoá, chính trị hay tính dục nào[1]. Các tiểu văn hóa cùng tồn tại trong xã hội chính thống trong khi vẫn giữ nguyên những đặc điểm riêng biệt của mình[1].
Kể từ khi ra đời ở thế giới nói tiếng Anh (chủ yếu là Bắc Mỹ và Vương quốc Anh) trong những năm 1940–1950, khái niệm và nghiên cứu về các tiểu văn hóa đã được phát triển trong các lĩnh vực học thuật về xã hội học, nghiên cứu truyền thông và nghiên cứu văn hóa[1]. Ví dụ về các tiểu văn hóa bao gồm punk, skinhead, Teddy Boys, mod, rocker, tổ lái, hip-hop, và nhiều hơn nữa[1]. Tiểu văn hóa khác với phản văn hóa[1].
Định nghĩa
Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, tiểu văn hoá là "một nhóm nhỏ có thể nhận dạng được trong một xã hội hoặc một nhóm người, đặc biệt là nhóm có niềm tin hoặc sở thích khác biệt với nhóm lớn hơn; những ý tưởng, thực tiễn hoặc lối sống đặc trưng của nhóm nhỏ đó."[2] Một số tiểu văn hóa được hình thành bởi các thành viên có đặc điểm hoặc sở thích khác biệt so với đa số xã hội, những người thường có sở thích về việc sửa đổi cơ thể như xăm hình, xỏ khuyên và một số hình thức phẫu thuật thẩm mỹref>Niosi, Andrea (ngày 25 tháng 6 năm 2021). "Subcultures". https://opentextbc.ca/introconsumerbehaviour/chapter/subcultures/ (bằng tiếng Anh). {{Chú thích tập san học thuật}}: Liên kết ngoài trong (trợ giúp)</ref>.|journal=
Khác với mối quan hệ văn hoá đại chúng, các cộng đồng tiểu văn hóa được đặc trưng bởi tính tạm thời, không chính thức và thiếu các mối quan hệ thân tộc xã hội điển hình[3].
Ngay từ năm 1950, David Riesman đã phân biệt giữa đa số, "những người thụ động chấp nhận các phong cách và ý nghĩa được cung cấp về mặt thương mại, và một 'tiểu văn hóa' chủ động tìm kiếm một phong cách thiểu số ... và diễn giải nó theo các giá trị mang tính lật đổ"[4]. Trong cuốn sách Tiểu văn hóa: Ý nghĩa của phong cách xuất bản năm 1979, Dick Hebdige lập luận rằng tiểu văn hóa là sự lật đổ đối với sự bình thường. Ông viết rằng các tiểu văn hóa có thể bị coi là tiêu cực do bản chất phê phán tiêu chuẩn xã hội thống trị của chúng. Hebdige lập luận rằng tiểu văn hóa tập hợp những cá nhân có cùng chí hướng, những người cảm thấy bị bỏ rơi bởi các tiêu chuẩn xã hội và cho phép họ phát triển ý thức về bản sắc[5].
Năm 1995, Sarah Thornton, dựa trên lý thuyết của Pierre Bourdieu, đã mô tả "vốn văn hóa phụ" là kiến thức văn hóa và hàng hóa mà các thành viên của một tiểu văn hóa có được, nâng cao địa vị của họ và giúp họ phân biệt mình với các thành viên của các nhóm khác[6]. Năm 2007, Ken Gelder đề xuất phân biệt tiểu văn hóa với phản văn hóa dựa trên mức độ hòa nhập vào xã hội[7] . Gelder tiếp tục đề xuất sáu cách chính để xác định tiểu văn hóa thông qua:
- Mối quan hệ thường tiêu cực với công việc (như 'nhàn rỗi', 'ký sinh', vui chơi hoặc giải trí, v.v.);
- Mối quan hệ tiêu cực hoặc mâu thuẫn với giai cấp (vì tiểu văn hóa không 'ý thức giai cấp' và không phù hợp với các định nghĩa giai cấp truyền thống);
- Liên kết với lãnh thổ (đường phố, khu phố, câu lạc bộ, v.v.), hơn là tài sản;
- Di chuyển ra khỏi nhà và tham gia vào các hình thức phi gia đình (tức là các nhóm xã hội khác ngoài gia đình);
- Liên kết về phong cách với sự thái quá và phóng đại (với một số ngoại lệ);
- Từ chối những điều tầm thường của cuộc sống bình thường và sự đại chúng hóa[7].
Các tiểu văn hóa đương đại thường đề cập đến văn hóa đại chúng, bao gồm hoạt hình, truyện tranh, trò chơi điện tử và âm nhạc đại chúng[8].
Xác định

Nghiên cứu về các tiểu văn hóa thường bao gồm việc nghiên cứu biểu tượng gắn liền với quần áo, âm nhạc, kiểu tóc, đồ trang sức và các biểu hiện hữu hình khác của các thành viên thuộc tiểu văn hóa, cũng như cách mà các thành viên của nền văn hóa thống trị diễn giải những biểu tượng tương tự. Dick Hebdige viết rằng các thành viên của một tiểu văn hóa thường thể hiện tư cách thành viên của họ thông qua phong cách đặc trưng và mang tính biểu tượng, bao gồm thời trang, cử chỉ và tiếng lóng[9].

Các tiểu văn hóa có thể tồn tại ở mọi cấp độ của tổ chức, làm nổi bật thực tế rằng có nhiều nền văn hóa hoặc sự kết hợp giá trị thường thấy trong bất kỳ tổ chức nào cũng có thể bổ sung và cũng có thể cạnh tranh với văn hóa tổ chức tổng thể[10]. Trong một số trường hợp, các tiểu văn hóa đã bị luật pháp chống lại, và các hoạt động của chúng bị điều chỉnh hoặc hạn chế[11]. Các tiểu văn hóa giới trẻ Anh bị coi là vấn đề đạo đức cần được xử lý bởi những người bảo vệ nền văn hóa thống trị trong sự đồng thuận hậu chiến[11].
Mối quan hệ với văn hoá đại chúng

Khá khó xác định một số tiểu văn hóa nhất định vì phong cách của chúng (đặc biệt là thời trang và âm nhạc) có thể được văn hóa đại chúng tiếp nhận vì mục đích thương mại. Các doanh nghiệp thường tìm cách khai thác sức hấp dẫn mang tính nổi loạn của các tiểu văn hóa để tìm kiếm sự "cool ngầu" rất có giá trị để bán bất kỳ sản phẩm nào[12]. Quá trình chiếm đoạt văn hóa này thường có thể dẫn đến sự biến mất hoặc tiến hóa của tiểu văn hóa, khi những người thuộc các tiểu văn hoá áp dụng phong cách mới có vẻ xa lạ với xã hội chính thống[13].
Các tiểu văn hóa dựa trên âm nhạc đặc biệt dễ bị tổn thương bởi quá trình này; những gì có thể được coi là tiểu văn hóa ở một giai đoạn trong lịch sử của chúng – chẳng hạn như jazz, goth, punk, hip hop và văn hóa quẩy – có thể đại diện cho thị hiếu chính thống trong một thời gian ngắn[14] Ngay cả các nhóm tôn giáo cũng có thể được coi là tiểu văn hóa[15]. Trong nghiên cứu của mình về nhạc punk rock Anh vào cuối những năm 1970, Hebdige đã đưa ra một đề xuất gây tranh cãi vào thời điểm đó: nhạc punk miêu tả toàn bộ lịch sử văn hóa giai cấp công nhân trẻ thời hậu chiến dưới dạng "cắt xén", pha trộn các yếu tố mà ban đầu thuộc về các thời đại hoàn toàn khác nhau[cần dẫn nguồn]. Một số tiểu văn hóa bác bỏ hoặc sửa đổi tầm quan trọng của phong cách, nhấn mạnh tư cách thành viên thông qua việc áp dụng một hệ tư tưởng có thể chống lại sự khai thác thương mại mạnh mẽ hơn nhiều[16]. Phong cách thời trang đặc trưng (và ban đầu gây sốc) của tiểu văn hóa punk đã được các công ty thời trang thị trường đại chúng áp dụng khi tiểu văn hóa này trở thành mối quan tâm của giới truyền thông. Dick Hebdige lập luận rằng tiểu văn hóa punk có cùng "thực tiễn thẩm mỹ cấp tiến" với các phong trào nghệ thuật Dada và Chủ nghĩa siêu thực:
Giống như 'ready mades' của Duchamp - những vật thể được sản xuất sẵn nhưng đủ điều kiện là nghệ thuật vì anh chọn gọi chúng như vậy, những vật dụng tầm thường và không phù hợp nhất - một chiếc kim ghim, một cái kẹp quần áo bằng nhựa, một linh kiện tivi, một lưỡi dao cạo, một băng vệ sinh - đều có thể được đưa vào phạm vi của thời trang (phi) punk ... Những vật dụng được mượn từ những bối cảnh bẩn thỉu nhất đã tìm được chỗ đứng trong trang phục của dân punk; dây xích nhà vệ sinh được vắt thành những vòng cung duyên dáng trên ngực trong túi rác nhựa. Kim băng được lấy ra khỏi bối cảnh 'tiện ích' trong gia đình và được đeo như những đồ trang trí ghê rợn trên má, tai hoặc môi ... những mảnh đồng phục học sinh (áo sơ mi bri-nylon trắng, cà vạt học sinh) được làm ô uế một cách tượng trưng (áo sơ mi bị phủ đầy hình vẽ bậy hoặc máu giả; cà vạt vắt lỏng lẻo) và được đặt cạnh những ống thoát nước bằng da hoặc áo mohair hồng chói mắt[17].
Bộ lạc thành thị
Năm 1985, nhà xã hội học người Pháp Michel Maffesoli đã đặt ra thuật ngữ bộ lạc thành thị hoặc tân bộ lạc. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi sau khi ông xuất bản cuốn sách Thời đại của các bộ lạc (1988)[18]. Năm 1996, cuốn sách này được xuất bản bằng tiếng Anh[19]. Theo Maffesoli, tân bộ lạc là những nhóm nhỏ người có chung sở thích ở khu vực thành thị. Các thành viên của những nhóm này có thế giới quan, phong cách ăn mặc và mô hình hành vi tương tự nhau[20]. Quan hệ xã hội của họ phần lớn xuồng sã và mang nặng cảm xúc, khác với văn hóa tư sản-đoàn thể của chủ nghĩa tư bản muộn, dựa trên logic vô cảm. Maffesoli cho rằng những người theo tiểu văn hoá punk là một ví dụ điển hình của "bộ lạc thành thị"[21].
Trong bối cảnh văn hóa tiêu dùng, khái niệm về các bộ lạc tiêu dùng chỉ ra các nhóm cá nhân tạm thời thường có chung sở thích và chia sẻ một tiểu văn hóa[22]. Không giống như các bộ lạc truyền thống có chung quan hệ họ hàng và ngôn ngữ, các bộ lạc tiêu dùng là tự chọn và tạm thời vì chúng phân tán mà không nhất thiết phải xây dựng các mối quan hệ lâu dài[23]. Các bộ lạc tiêu dùng thường dao động xung quanh một sở thích hoặc mối quan tâm chung nhưng thiếu các mối liên kết xã hội lâu dài để trở thành một cộng đồng thương hiệu[24].
Các tiểu văn hóa dựa trên bản dạng giới tính và xu hướng tính dục

Cuộc Cách mạng Tình dục vào những năm 1960 đã dẫn đến hành động bác bỏ các chuẩn mực giới tính và tính dục đã được thiết lập ở thế giới phương Tây, đặc biệt là ở các khu vực đô thị của châu Âu, Bắc và Nam Mỹ, Úc và Nam Phi. Môi trường xã hội cởi mở hơn ở những khu vực này đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của các tiểu văn hóa tinh dục – những biểu hiện văn hóa của tình dục không theo chuẩn mực. Cũng như các tiểu văn hóa khác, các tiểu văn hóa tình dục đã áp dụng một số phong cách thời trang và cử chỉ nhất định để phân biệt mình với văn hóa phương Tây chính thống[28].
Những người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới và queer (LGBT) thể hiện bản thân thông qua văn hóa LGBT, được coi là tiểu văn hóa tính dục lớn nhất của thế kỷ 20 và 21[29]. Với thái độ chấp nhận cộng đồng đồng tính luyến ái ngày càng tăng vào đầu thế kỷ 21, bao gồm cả sự thể hiện của cộng đồng này trong thời trang, âm nhạc và thiết kế, văn hóa đồng tính không còn có thể được coi là một tiểu văn hóa ở nhiều nơi trên thế giới, mặc dù một số khía cạnh của văn hóa đồng tính như tiểu văn hoá đồ da, gấu và chub được coi là tiểu văn hóa trong chính phong trào đồng tính[28] Bản sắc hoặc vai trò butch và femme trong cộng đồng người đồng tính nữ cũng tạo ra tiểu văn hóa riêng của họ với trang phục mang tính khuôn mẫu, ví dụ như drag king[28]. Phong trào queer, phát triển vào cuối những năm 1980, có thể được coi là một tiểu văn hóa đại diện cho hành động bác bỏ chuẩn mực dị tính trong hành vi tình dục đồng thời chấp nhận việc tự nhận dạng phi nhị nguyên và/hoặc các hình thức quan hệ thân mật đa phối ngẫu[30], và các thành viên trong tiểu văn hoá tôn vinh sự hiện diện và hoạt động vì quyền LGBTQ[29]. Phong trào càng lớn, mối quan tâm học thuật đối với xã hội học nữ quyền, nghiên cứu queer và lý thuyết queer càng tăng[29].
Các khía cạnh của tiểu văn hóa tình dục có thể khác nhau tùy theo các khía cạnh văn hóa khác. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, "down-low" là một thuật ngữ lóng được sử dụng cụ thể trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi[31] để chỉ những người đàn ông da đen thường tự nhận mình là người dị tính nhưng chủ động tìm kiếm các cuộc gặp gỡ và quan hệ tình dục với những người đàn ông khác, tìm kiếm bạn tình đồng tính và thường mặc một loại trang phục hip-hop cụ thể trong hoạt động này[28][32]. Họ tránh chia sẻ thông tin này ngay cả khi họ có bạn tình nữ, hoặc đã kết hôn với một người phụ nữ, hoặc độc thân [33][34][35][36].
Truyền thông đại chúng
Trong một nghiên cứu năm 2011, Brady Robards và Andy Bennett cho biết rằng việc thể hiện bản sắc trực tuyến lan rộng qua các cộng đồng trực tuyến thời kỳ đầu, bao gồm các diễn đàn và nhóm Usenet, đã được giải thích là thể hiện các đặc điểm của tiểu văn hóa. Tuy nhiên, họ lập luận rằng nó phù hợp hơn với chủ nghĩa tân bộ lạc hơn là tiểu văn hóa. Dịch vụ mạng xã hội đang nhanh chóng trở thành hình thức giao tiếp và phương tiện được sử dụng nhiều nhất để phân phối thông tin và tin tức[37]. Chúng cho phép những người có cùng hoàn cảnh, lối sống, nghề nghiệp hoặc sở thích kết nối với nhau[37]. Theo một người đồng sáng lập và chiến lược gia sáng tạo điều hành của RE-UP, khi công nghệ trở thành "lực lượng sống", các tiểu văn hóa trở thành điểm mấu chốt gây tranh cãi đối với các thương hiệu khi mạng xã hội phát triển thông qua sự pha trộn văn hóa, hiện tượng lan truyền và meme trên internet[38].
Liên quan đến mạng xã hội, dường như các nhà sản xuất truyền thông ngày càng quan tâm đến việc sử dụng các tiểu văn hóa để xây dựng thương hiệu. Thể hiện rõ nhất trên các nền tảng mạng xã hội dựa trên nội dung do người dùng tạo, chẳng hạn như Facebook, Instagram, TikTok, Twitter và YouTube[37]. Do đó, các tiểu văn hóa có thể đã bị các công ty đặt mục tiêu thành công cho mục đích thương mại. Một loạt các nghiên cứu học thuật về văn hóa tiêu dùng cho thấy nhiều cách mà các công ty và doanh nghiệp nhắm mục tiêu vào các tiểu văn hóa bằng các sản phẩm thương mại[39][40].
Phân biệt đối xử
Hành vi quấy rối và bạo lực dựa trên phân biệt đối xử đôi khi nhắm vào một người hoặc một nhóm dựa trên văn hóa hoặc tiểu văn hóa của họ[41][42][43][44]. Tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, khái niệm tiểu văn hóa luôn là công cụ giải thích chính cho sự hiểu biết về mặt xã hội học và tội phạm học về hành vi lệch lạc[45]. Năm 2013, Cảnh sát khu vực Đại Manchester ở Vương quốc Anh bắt đầu phân loại các vụ tấn công vào các tiểu văn hóa như goth, emo, punk và metalhead là tội ác thù hận, giống như cách họ ghi nhận hành vi bạo hành loài người vì tôn giáo, chủng tộc, khuyết tật, khuynh hướng tình dục hoặc bản dạng giới của họ[44]. Quyết định này được đưa ra sau vụ giết Sophie Lancaster và đánh đập bạn trai của cô vào năm 2007, những người bị tấn công vì họ là goth[43]. Năm 2012, các nhà hoạt động nhân quyền đã lên án việc xảy ra các vụ giết người emo ở Iraq, bao gồm ít nhất 6 đến 70 thiếu niên nam bị bắt cóc, tra tấn và sát hại ở Baghdad và những nơi khác ở Iraq, vì bị nhắm mục tiêu do ăn mặc theo phong cách emo "Tây hóa"[41][42].
Xem thêm
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 Cutler, Cecelia (2006). "Subcultures and Countercultures". Trong Brown, Keith (biên tập). Encyclopedia of Language & Linguistics (ấn bản thứ 2). Amsterdam, Netherlands: Elsevier. tr. 236–239. doi:10.1016/B0-08-044854-2/01312-2. ISBN 978-0-08-044854-1. [Một trong những giả định ngầm ẩn trong thuật ngữ "tiểu văn hóa" là địa vị thấp kém, lệ thuộc hoặc lệch lạc của các nhóm xã hội được gắn nhãn này. Nhiều nhóm được dán nhãn là tiểu văn hóa có địa vị xã hội thấp hơn do giai cấp, dân tộc, nền tảng ngôn ngữ hoặc các yếu tố xã hội khác (ví dụ: người nghèo và tầng lớp lao động, các dân tộc thiểu số). Trong các trường hợp khác, các nhóm được coi là tiểu văn hóa tự coi mình hoặc bị người khác coi là lệch lạc (ví dụ: người đồng tính nam và nữ, người sử dụng ma túy). Không giống như cộng đồng, tiểu văn hóa được đặc trưng bởi tính tạm thời, tính không chính thức và sự thiếu vắng các mối quan hệ thân tộc đặc trưng của cộng đồng. Chúng thường được coi là thể hiện lập trường đối lập với các lý tưởng chuẩn mực của xã hội người lớn chính thống. [...] Vào những năm 1990 và 2000, thuật ngữ tiểu văn hóa được sử dụng theo nghĩa rộng hơn nhiều để mô tả bất kỳ nhóm người nào hướng đến các chuẩn mực về hành vi, giá trị, niềm tin, mô hình tiêu dùng và lựa chọn lối sống khác biệt ở các mức độ khác nhau so với văn hóa chủ đạo, chính thống.]
- ↑ "subculture". Oxford English Dictionary (ấn bản thứ 3). Oxford University Press. tháng 9 năm 2005. (yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)
- ↑ "Subcultures - an overview | ScienceDirect Topics". www.sciencedirect.com. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2024.
- ↑ Middleton 1990
- ↑ Hebdige, Dick (1979). "Subculture: the meaning of style" (PDF).
- ↑ Thornton 1995
- 1 2 Gelder 2007
- ↑ "What is subculture?". FutureLearn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2024.
- ↑ Hebdige 1981
- ↑ Anheier, Helmut K., Stefan Toepler and Regina List, eds., International Encyclopedia of Civil Society, (Springer, 2010)
- 1 2 Hall, Stuart, Tony Jefferson, Resistance Through Rituals: Youth Subcultures in Post-War Britain (Routledge, 1993).
- ↑ Howes, David. Cross-cultural consumption: global markets, local realities. New York: Routledge, 1996. Print.
- ↑ Goldstein-Gidoni, Ofra. "Producers of 'Japan' in Israel: Cultural appropriation in a non-colonial context." Ethnos:Journal of Anthropology 68.3 (2003): 365. Print.
- ↑ Blair, M. Elizabeth, "Commercialization of Rap Music Youth Subculture." Journal of Popular Culture 27.3 (1993): 21–33. Print.
- ↑ Reddy-Best, Kelly L. (ngày 1 tháng 8 năm 2020). Dress, Appearance, and Diversity in U.S. Society (bằng tiếng Anh). Iowa State University Digital Press. doi:10.31274/isudp.2020.9.
- ↑ Lewin, Phillip, J. Patrick Williams. "Reconceptualizing Punk through Ideology and Authenticity". Conference Papers--American Sociological Association. 2007 Annual Meeting, 2007.
- ↑ Dick Hebdige p.106-12
- ↑ Frehse, Fraya (tháng 2 năm 2006). "As realidades que as 'tribos urbanas' criam" [The realities that 'urban tribes' create]. Revista Brasileira de Ciências Sociais (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 21 (60). doi:10.1590/S0102-69092006000100012.
- ↑ Maffesoli, Michel (ngày 27 tháng 2 năm 1996). The Time of the Tribes: The Decline of Individualism in Mass Society. ISBN 080398474X.
- ↑ "'Urban tribes' thriving in modern society". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017.
- ↑ Maffesoli 1996
- ↑ Canniford, Robin (ngày 1 tháng 12 năm 2011). "How to manage consumer tribes". Journal of Strategic Marketing. 19 (7): 591–606. doi:10.1080/0965254X.2011.599496. ISSN 0965-254X. S2CID 167613824.
- ↑ Ruiz, Carlos A. Diaz (ngày 13 tháng 6 năm 2024), "Consumer Tribes", Elgar Encyclopedia of Consumer Behavior, Edward Elgar Publishing, tr. 113–115, doi:10.4337/9781803926278.ch36, ISBN 978-1-80392-627-8, truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2024
- ↑ Diaz Ruiz, Carlos A.; Penaloza, Lisa; Holmqvist, Jonas (ngày 1 tháng 1 năm 2020). "Assembling tribes: An assemblage thinking approach to the dynamics of ephemerality within consumer tribes". European Journal of Marketing. 54 (5): 999–1024. doi:10.1108/EJM-08-2018-0565. ISSN 0309-0566. S2CID 216399732.
- ↑ Goicichea, Julia (ngày 16 tháng 8 năm 2017). "Why New York City Is a Major Destination for LGBT Travelers". The Culture Trip. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2019.
- ↑ Rosenberg, Eli (ngày 24 tháng 6 năm 2016). "Stonewall Inn Named National Monument, a First for the Gay Rights Movement". The New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Workforce Diversity The Stonewall Inn, National Historic Landmark National Register Number: 99000562". National Park Service, U.S. Department of the Interior. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016.
- 1 2 3 4 Hovey, Jaime (2007). "Sexual subcultures". Trong Malti-Douglas, Fedwa (biên tập). Encyclopedia of Sex and Gender. Macmillan Social Science Library. Quyển 4. Farmington Hills, Michigan: Macmillan Reference USA. tr. 1372–1374. ISBN 9780028661155. OCLC 922889305.
- 1 2 3 Green, Amy E.; Taliaferro, Lindsay A.; Price, Myeshia N. (2021). "Understanding Risk and Protective Factors to Improve Well-Being and Prevent Suicide Among LGBTQ Youth". Trong Miranda, Regina; Jeglic, Elizabeth L. (biên tập). Handbook of Youth Suicide Prevention: Integrating Research into Practice. Cham, Switzerland: Springer Nature. tr. 177–194. doi:10.1007/978-3-030-82465-5_11. ISBN 978-3-030-82465-5.
- ↑ Kelberga (Kelberg), Anna; Martinsone, Baiba (tháng 9 năm 2022). "Motivation of non-monogamous adults to engage in sex with their different partners". Frontiers in Psychology. 13. Lausanne: Frontiers Media. doi:10.3389/fpsyg.2022.961949. ISSN 1664-1078. PMC 9533024. PMID 36211920.
- ↑ Green, Jonathon (2006). Cassell's Dictionary of Slang. Sterling Publishing. tr. 893. ISBN 978-0-304-36636-1. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2008.
down low n. [1990s+] (US Black) a state of secrecy. down low adj. [1990s+] () covert, secret (i.e. keeping a low profile)
- ↑ Bond, Lisa; Wheeler, Darrell P.; Millett, Gregorio A.; LaPollo, Archana B.; Carson, Lee F.; Liau, Adrian (tháng 4 năm 2009). Morabia, Alfredo (biên tập). "Black Men Who Have Sex With Men and the Association of Down-Low Identity With HIV Risk Behavior". American Journal of Public Health. 99 (Suppl 1). American Public Health Association: S92 – S95. doi:10.2105/AJPH.2007.127217. eISSN 1541-0048. ISSN 0090-0036. PMC 2724949. PMID 19218177. S2CID 40119540.
- ↑ King, J.L.; Courtney Carreras (ngày 25 tháng 4 năm 2006). "Coming Up from the Down Low: The Journey to Acceptance, Healing and Honest Love". Three Rivers Press. tr. 36. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009.
- ↑ Johnson, Jason (ngày 1 tháng 5 năm 2005). "Secret gay encounters of black men could be raising women's infection rate". San Francisco Chronicle. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009.
- ↑ Mutua, Athena (ngày 28 tháng 9 năm 2006). Progressive Black Masculinities. New York and London: Routledge. tr. 169. ISBN 978-0-415-97687-9. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009.
- ↑ Bennett, Jessica (ngày 19 tháng 5 năm 2008). "Outing Hip-Hop". Newsweek. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2009.
- 1 2 3 Cho, H.; Cannon, J.; Lopez, R.; Li, W. (tháng 3 năm 2022). "Social media literacy: A conceptual framework". New Media & Society. 26 (2). Thousand Oaks, California: SAGE Publications: 941–960. doi:10.1177/14614448211068530. ISSN 1461-7315. S2CID 263283915.
- ↑ François, Laurent (ngày 25 tháng 5 năm 2013). "Subcultures: Big Opportunity for Social Brands to Generate Value". www.socialmediatoday.com. Newton, Massachusetts: Informa TechTarget. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017.
- ↑ Diaz Ruiz, Carlos A.; Kjellberg, Hans (tháng 4 năm 2020). "Feral segmentation: How cultural intermediaries perform market segmentation in the wild". Marketing Theory. 20 (4). Thousand Oaks, California: SAGE Publications: 429–457. doi:10.1177/1470593120920330. ISSN 1470-5931. S2CID 219027435.
- ↑ Schouten, John W.; McAlexander, James H. (tháng 6 năm 1995). "Subcultures of Consumption: An Ethnography of the New Bikers". Journal of Consumer Research. 22 (1). Oxford and New York: Oxford University Press: 43–61. doi:10.1086/209434. ISSN 1537-5277. JSTOR 2489699.
- 1 2 Rasheed, Ahmed; Ameer, Mohammed (ngày 10 tháng 3 năm 2012). "Iraq militia stone youths to death for "emo" style". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2022.
- 1 2 "Iraqi 'emo' youths reportedly killed by conservative militias". BBC News. ngày 11 tháng 3 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2022.
- 1 2 Sedgwick, Mark (ngày 4 tháng 4 năm 2013). "How are goths and emos defined?". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2022.
- 1 2 "Attacks on goths, punks, and emos are 'hate crimes'". Channel 4 News. ngày 4 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2022.
- ↑ Blackman, Shane (ngày 3 tháng 6 năm 2013). "Subculture Theory: An Historical and Contemporary Assessment of the Concept for Understanding Deviance". Deviant Behavior (bằng tiếng Anh). 35 (6): 496–512. doi:10.1080/01639625.2013.859049. ISSN 0163-9625.