Bước tới nội dung

Chủ nghĩa đế quốc văn hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Những trẻ em da đỏ bản địa đã bị tách khỏi cha mẹ và đưa vào một trường nội trú theo phong cách phương Tây, nhằm mục đích xóa bỏ ngôn ngữ và văn hóa Bản địa và thay thế nó bằng tiếng Anh và tín ngưỡng Cơ Đốc giáo

Chủ nghĩa đế quốc văn hóa (Cultural imperialism) hay còn gọi là Chủ nghĩa thực dân văn hóa (Cultural colonialism) là việc một quốc gia, cộng đồng thống trị áp đặt nền văn hóa của chính mình lên một quốc gia, cộng đồng khác.[1] Những kẻ theo chủ nghĩa đế quốc có thể sử dụng sự giàu có thịnh vượng tài phú, sức mạnh truyền thông và bạo lực để thiết lập quyền bá chủ văn hóa (Bá quyền văn hóa). Chủ nghĩa đế quốc văn hóa có thể mang nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như một thái độ, một chính sách chính thức hoặc hành động quân sự, miễn là mỗi hình thức này củng cố quyền bá chủ văn hóa của đế chế. Nghiên cứu về chủ đề này diễn ra trong các chuyên ngành học thuật, và đặc biệt phổ biến trong các nghiên cứu về truyền thông và phương tiện thông tin đại chúng,[2][3][4] giáo dục,[5] chính sách đối ngoại,[6] lịch sử,[7] quan hệ quốc tế,[8] ngôn ngữ học,[9] văn học,[10] chủ nghĩa hậu thực dân,[11][12] khoa học,[13] xã hội học,[14] lý thuyết xã hội,[15] chủ nghĩa môi trường,[16] và thể thao.[17]

Chủ nghĩa đế quốc văn hóa biểu hiện ở Thế giới phương Tây dưới hình thức hệ thống pháp lý bao gồm việc thương mại hóa và tiếp thị các nguồn tài nguyên bản địa (ví dụ như y tế, tinh thần hoặc nghệ thuật) và tài nguyên di truyền (ví dụ như DNA người).[18] Chủ nghĩa đế quốc văn hóa có thể đề cập đến sự tiếp biến văn hóa cưỡng bức của một nhóm dân cư lệ thuộc, hoặc sự tự nguyện tiếp nhận một nền văn hóa nước ngoài bởi những cá nhân làm như vậy theo ý chí tự do của riêng họ. Vì đây là hai đối tượng tham chiếu rất khác nhau, nên tính hợp lệ của thuật ngữ này đã bị đặt dấu hỏi. Ảnh hưởng văn hóa có thể được nền văn hóa "tiếp nhận" coi là mối đe dọa hoặc là sự làm phong phú thêm cho bản sắc văn hóa của mình. Do đó, có vẻ hữu ích khi phân biệt giữa chủ nghĩa đế quốc văn hóa như một thái độ thượng đẳng (chủ động hoặc thụ động), với quan điểm của một nền văn hóa hoặc một nhóm tìm cách bổ sung cho quá trình sản xuất văn hóa của chính mình, vốn được coi là khiếm khuyết một phần, bằng các sản phẩm nhập khẩu. Bản thân các sản phẩm hoặc dịch vụ nhập khẩu có thể đại diện, hoặc gắn liền với, những giá trị nhất định (chẳng hạn như chủ nghĩa tiêu dùng), người ta lập luận rằng trong khi "các công ty Mỹ bị cáo buộc là muốn kiểm soát 95% người tiêu dùng trên thế giới", "chủ nghĩa đế quốc văn hóa liên quan đến nhiều thứ hơn là hàng hóa tiêu dùng đơn thuần, nó liên quan đến việc phổ biến các nguyên tắc của Mỹ như tự do và dân chủ", một quá trình "có vẻ hấp dẫn" nhưng "che giấu một sự thật đáng sợ: nhiều nền văn hóa trên thế giới đang biến mất do ảnh hưởng quá lớn của các tập đoàn và văn hóa Mỹ".[19]

Đại cương Chủ nghĩa đế quốc văn hóa

Đối với Herbert Schiller, chủ nghĩa đế quốc văn hóa đề cập đến "các thiết chế áp đặt và dụ dỗ của Đế quốc Mỹ, và khả năng của chúng trong việc đẩy mạnh và phổ quát hóa lối sống của Mỹ ở các quốc gia khác mà không có bất kỳ sự đền đáp nào về ảnh hưởng".[20] Theo Schiller, chủ nghĩa đế quốc văn hóa đã "gây áp lực, ép buộc và mua chuộc" các xã hội để hội nhập với mô hình tư bản chủ nghĩa bành trướng của Hoa Kỳ nhưng cũng kết hợp chúng bằng sự thu hút và thuyết phục bằng cách giành được "sự đồng thuận chung, thậm chí là sự khẩn cầu của các nhà cai trị bản địa". Ông tiếp tục nhận xét rằng nó là "tổng hợp các quá trình mà qua đó một xã hội được đưa vào hệ thống thế giới hiện đại [lấy Hoa Kỳ làm trung tâm] và cách tầng lớp thống trị của nó bị thu hút, gây áp lực, ép buộc và đôi khi bị mua chuộc để định hình các thể chế xã hội sao cho tương ứng với, hoặc thậm chí thúc đẩy, các giá trị và cấu trúc của các trung tâm thống trị của hệ thống. Các phương tiện truyền thông đại chúng là ví dụ hàng đầu về các doanh nghiệp hoạt động được sử dụng trong quá trình thâm nhập. Đối với sự thâm nhập ở quy mô đáng kể, bản thân các phương tiện truyền thông phải bị thâu tóm bởi quyền lực thống trị/thâm nhập. Điều này xảy ra chủ yếu thông qua việc thương mại hóa phát thanh truyền hình".[21]

Bối cảnh lịch sử, sự lặp lại, tính phức tạp và chính trị của việc lý thuyết hóa nền tảng và thực chất của Schiller về chủ nghĩa đế quốc văn hóa trong các nghiên cứu truyền thông và phương tiện đại chúng quốc tế được thảo luận chi tiết bởi các nhà nghiên cứu kinh tế chính trị học của truyền thông Richard Maxwell,[22] Vincent Mosco,[23] Graham Murdock,[24] và Tanner Mirrlees.[25] Downing và Sreberny-Mohammadi phát biểu: "Chủ nghĩa đế quốc văn hóa biểu thị các chiều kích của quá trình vượt ra ngoài sự bóc lột kinh tế hoặc lực lượng quân sự. Trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân, (tức là hình thức của chủ nghĩa đế quốc trong đó chính quyền của thuộc địa được điều hành trực tiếp bởi người nước ngoài), hệ thống giáo dục và truyền thông của nhiều quốc gia Thế giới thứ ba đã được thiết lập như những bản sao của những hệ thống ở Anh, Pháp hoặc Hoa Kỳ và mang theo các giá trị của họ. Quảng cáo phương Tây đã thâm nhập sâu hơn, cũng như các phong cách kiến ​​trúc và thời trang. Một cách tinh vi nhưng mạnh mẽ, thông điệp thường được đưa vào rằng văn hóa phương Tây vượt trội hơn văn hóa của Thế giới thứ ba".

Trong cuốn Văn hóa và Chủ nghĩa Đế quốc (1993), phần tiếp theo của Đông phương luận, Saïd cho rằng, mặc dù sự kết thúc chính thức của "kỷ nguyên đế quốc" sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939–1945), chủ nghĩa đế quốc thực dân đã để lại một di sản văn hóa cho các dân tộc (trước đây) bị thuộc địa hóa, di sản này vẫn tồn tại trong các nền văn minh đương đại của họ; và rằng chủ nghĩa đế quốc văn hóa của Mỹ nói trên có ảnh hưởng rất lớn trong các hệ thống quyền lực quốc tế.[26] Trong "Can the Subaltern Speak?" (Kẻ bị trị có thể lên tiếng không?), Gayatri Chakravorty Spivak phê phán các hình ảnh đại diện phổ biến ở phương Tây về tục Sati, khi chúng bị kiểm soát hình tượng từ các tác giả không phải là những người tham gia (cụ thể là những kẻ thực dân Anh và các nhà lãnh đạo Hindu). Do đó, Spivak lập luận rằng kẻ bị trị (subaltern), ám chỉ đến các cộng đồng tham gia vào tục Sati, không có khả năng đại diện cho chính mình bằng chính tiếng nói của họ. Spivak cho rằng chủ nghĩa đế quốc văn hóa có sức mạnh làm mất tư cách hoặc xóa bỏ kiến thức và phương thức giáo dục của một số nhóm dân cư nằm ở dưới đáy của hệ thống phân cấp xã hội và kinh tế.[27] Chủ nghĩa đế quốc văn hóa có thể được phân biệt với quá trình tự nhiên của sự khuếch tán văn hóa. Sự lan truyền văn hóa trên toàn thế giới được gọi là toàn cầu hóa văn hóa. Thuật ngữ này chủ yếu đề cập đến việc thực thi quyền lực trong một mối quan hệ văn hóa, trong đó các nguyên tắc, ý tưởng, thực hành và giá trị của một xã hội hùng mạnh, đi xâm lược được áp đặt lên các nền văn hóa bản địa ở các khu vực bị chiếm đóng. Quá trình này thường được sử dụng để mô tả các ví dụ khi các thực hành bắt buộc của các truyền thống văn hóa của nhóm xã hội đế quốc được thực thi đối với một nhóm xã hội bị chinh phục.

Cơ chế Chủ nghĩa đế quốc văn hóa

Đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc văn hóa là việc các nước đế quốc xuất khẩu văn hóa và các mô hình tư bản, bao gồm cả kinh tế, chính trị và giáo dục sang các nước đang phát triển, biến những nước này trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa ngoại lai của tư bản. Các luồng văn hoá ngoại lai này không ngừng mở rộng, thâm nhập sâu vào đời sống xã hội, dần thay thế các giá trị và tư tưởng văn hóa bản địa, từ đó gây ảnh hưởng và định hình các giá trị, tư tưởng văn hóa tại các nước đang phát triển. Mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc văn hóa là quyền thống trị tư tưởng và độc quyền văn hóa toàn cầu.[28]

Truyền thông

Ban thờ Phật tại chùa Từ Hạnh, lễ vật cúng dườngCoca-Cola thay vì các sản vật truyền thống

Toàn cầu hóa và Internet đang đẩy nhanh quá trình ảnh hưởng văn hóa.[29] Các thuật ngữ "McDonald hóa" (McDonaldization),[30] "Disney hóa" (Disneyization) và "Coca-cola hóa" (Cocacolonization)[31] đã được đặt ra để mô tả sự lan rộng của ảnh hưởng của lối sống và văn hóa phương Tây, đặc biệt là sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Những ảnh hưởng phương Tây này thường có tác động về mặt cá nhân, xã hội, kinh tế và lịch sử đối với người dân trên toàn cầu tùy thuộc vào quốc gia và khu vực. "Gần như tất cả các quốc gia đều đang tiến rõ rệt về phía mô hình của Mỹ, và quá trình này đang tự củng cố", Herman, E. và McChesney, R. (không rõ ngày tháng). "Toàn cầu hóa Truyền thông: Kinh nghiệm và Ảnh hưởng của Hoa Kỳ" (Media Globalization: The US Experience and Influence). Có nhiều quốc gia bị ảnh hưởng bởi Hoa Kỳ và văn hóa đại chúng của họ như ngành công nghiệp điện ảnh ở Nigeria được gọi là "Nollywood" là ngành công nghiệp lớn thứ hai vì nó sản xuất nhiều phim hàng năm hơn cả Hoa Kỳ, phim của họ được trình chiếu trên khắp châu Phi.[32] Một thuật ngữ khác mô tả sự lan rộng của ảnh hưởng văn hóa phương Tây là "Hollywood hóa" (Hollywoodization), đó là khi văn hóa Mỹ được quảng bá thông qua các bộ phim của Hollywood có thể định hình nhận thức, ảnh hưởng về mặt văn hóa đến những người xem phim Hollywood.[2]

Một số người tin rằng nền kinh tế mới được toàn cầu hóa của cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin mới. Loại hình chủ nghĩa đế quốc văn hóa này bắt nguồn từ những gì được gọi là "quyền lực mềm". Lý thuyết về chủ nghĩa thực dân điện tử mở rộng vấn đề sang các vấn đề văn hóa toàn cầu và tác động của các tập đoàn đa phương tiện lớn, từ Paramount, WarnerMedia, AT&T, Disney, News Corp, đến Google và Microsoft với trọng tâm là sức mạnh bá quyền của những gã khổng lồ truyền thông chủ yếu có trụ sở tại Hoa Kỳ này. Cốt lõi của luận điểm chủ nghĩa đế quốc văn hóa được tích hợp với cách tiếp cận truyền thống về kinh tế chính trị trong nghiên cứu hiệu ứng truyền thông. Những người chỉ trích chủ nghĩa đế quốc văn hóa thường cho rằng các nền văn hóa phi phương Tây, đặc biệt là từ Thế giới thứ Ba, sẽ từ bỏ các giá trị truyền thống của họ và đánh mất bản sắc văn hóa khi họ chỉ tiếp xúc với phương tiện truyền thông phương Tây. Tuy nhiên, Michael B. Salwen, trong cuốn sách Critical Studies in Mass Communication (Các Nghiên cứu Phê phán về Truyền thông Đại chúng, 1991) của mình,[33] khẳng định rằng việc xem xét chéo và tích hợp các kết quả thực nghiệm về những ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc văn hóa là rất quan trọng để hiểu được truyền thông đại chúng trong phạm vi quốc tế. Ông nhận ra cả hai bối cảnh mâu thuẫn nhau về những tác động của chủ nghĩa đế quốc văn hóa. Bối cảnh đầu tiên là nơi chủ nghĩa đế quốc văn hóa áp đặt sự phá vỡ về chính trị xã hội lên các quốc gia đang phát triển. Truyền thông phương Tây có thể làm sai lệch hình ảnh của các nền văn hóa nước ngoài và trong một số trường hợp có thể kích động xung đột cá nhân và xã hội tại các quốc gia đang phát triển.[34]

Vẻ đẹp

Sự tôn thờ vẻ đẹp thiên thần da trắng Âu châu

Các học giả đã lập luận rằng chủ nghĩa đế quốc văn hóa cũng vận hành thông qua các ngành công nghiệp mỹ phẩm và truyền thông toàn cầu, nơi các hệ thống phân cấp thuộc địa về chủng tộc và ngoại hình tiếp tục ảnh hưởng đến các giá trị thẩm mỹ.[35][36] Sở thích có làn da sáng hơn và các đường nét khuôn mặt mang đậm phong cách châu Âu (Eurocentric) bắt nguồn từ các hệ thống thuộc địa mà trong lịch sử gắn liền "sự trắng trẻo" với văn minh, trí tuệ và sự vượt trội về mặt xã hội.[37] Trong thời kỳ thuộc địa châu Âu, các hệ thống phân cấp dựa trên sắc tố da đã trở nên thâm căn cố đế, đặt làn da nhợt nhạt như một dấu hiệu của sự thuần khiết và quyền lực trong khi làn da sẫm màu hơn bị coi là thấp kém. Các hệ thống phân cấp này vẫn tồn tại trong thương mại toàn cầu hóa và phương tiện truyền thông đại chúng. Ở nhiều xã hội hậu thuộc địa, làn da sáng hơn vẫn gắn liền với các khái niệm về cái đẹp, đặc quyền và sự thăng tiến trong xã hội. Tại Mexico, di sản thuộc địa và tôn giáo tiếp tục nâng cao "sự trắng trẻo" như một lý tưởng thẩm mỹ trong khi che đậy nạn phân biệt chủng tộc ăn sâu vào trong các tiêu chuẩn này.[38]

Trên khắp châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, các sản phẩm làm sáng da được tiếp thị rộng rãi như những công cụ để tạo quyền hoặc thành công trong nghề nghiệp, củng cố quan niệm rằng việc tiến gần đến "sự trắng trẻo" sẽ mang lại lợi thế về xã hội và kinh tế.[39][40] Ngành công nghiệp mỹ phẩm toàn cầu có chức năng vừa là một động lực kinh tế vừa là một chất trung gian văn hóa cho những lý tưởng này. Thông qua các chiến lược tiếp thị thúc đẩy việc "làm trắng", "làm sáng", hoặc "tẩy trắng da", ngành này đã thương mại hóa các tiêu chuẩn sắc đẹp theo kiểu châu Âu và trưng bày chúng như những khát vọng mang tính toàn cầu. Ngành công nghiệp truyền thông và quảng cáo góp phần vào sự lan truyền trên toàn cầu các lý tưởng làm đẹp theo kiểu châu Âu thông qua điện ảnh, truyền hình và các nền tảng kỹ thuật số vốn thường coi các thẩm mỹ này là tiêu chuẩn phổ quát của sự hấp dẫn.[41] Những chuẩn mực làm đẹp này vượt ra ngoài tông màu da để bao gồm cả cấu trúc khuôn mặt, kết cấu tóc và hình dáng cơ thể. Các lý tưởng làm đẹp của phương Tây, chẳng hạn như thân hình mảnh khảnh, chiều cao và các đường nét thanh tú, thường được tán thưởng, trong khi những đặc điểm nằm ngoài các chuẩn mực này lại bị gạt ra ngoài lề. Các hoạt động làm đẹp như ép tóc, tạo khối (contouring) và phẫu thuật thẩm mỹ thường cố gắng củng cố những đặc điểm này, làm vững chắc thêm những kỳ vọng hẹp hòi về mặt thẩm mỹ. Các nhà phê bình lập luận rằng việc bình thường hóa "sự trắng trẻo" như một tiêu chuẩn sắc đẹp toàn cầu duy trì hoạt động thuộc địa vốn gán ghép giá trị của một con người vào bản sắc bị phân biệt chủng tộc của họ, cho thấy sự cần thiết phải phi thực dân hóa trong ngành công nghiệp mỹ phẩm.[42]

Căn tính

Sự thống trị về văn hóa cũng có thể được nhìn thấy vào những năm 1930 ở Úc, nơi Chính sách Đồng hóa Thổ dân (Aboriginal Assimilation Policy) đóng vai trò như một nỗ lực nhằm quét sạch những người bản địa Úc. Những người định cư Anh đã cố gắng làm thay đổi về mặt sinh học màu da của người Thổ dân Úc thông qua việc lai giống với người da trắng. Chính sách này cũng nỗ lực ép buộc người Thổ dân phải tuân theo các quan niệm của phương Tây về cách ăn mặc và giáo dục.[43] Năm 2017, Canada đã kỷ niệm 150 năm sự liên minh của ba thuộc địa của Anh. Như Catherine Murton Stoehr chỉ ra trong Origins, một ấn phẩm do các khoa lịch sử của Đại học Tiểu bang Ohio và Đại học Miami đồng tổ chức, dịp này đi kèm với việc tưởng nhớ cách đối xử của Canada đối với những người thuộc Các Quốc gia Thứ nhất (First Nations). Nhiều chính sách tập trung vào người bản địa đã có hiệu lực ngay sau đó. Đáng chú ý nhất là việc sử dụng các trường nội trú trên khắp Canada như một phương tiện để tách những người bản địa khỏi văn hóa của họ và tiêm nhiễm vào họ những niềm tin và giá trị của quyền bá chủ thuộc địa đa số. Các chính sách của những trường học này, như được mô tả bởi Ward Churchill trong cuốn sách của ông Kill the Indian, Save the Man (Giết người Da đỏ, Cứu con người), là cưỡng ép đồng hóa những học sinh thường bị bắt khỏi gia đình bằng bạo lực.

Những trường này cấm học sinh sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và tham gia vào các thực hành văn hóa của riêng họ. Các trường nội trú phần lớn được điều hành bởi các nhà thờ Cơ Đốc giáo, hoạt động kết hợp với các cơ sở truyền giáo Cơ Đốc với sự giám sát tối thiểu của chính phủ. Cuốn sách, Stolen Lives: The Indigenous peoples of Canada and the Indian Residentials Schools (Những Cuộc đời Bị đánh cắp: Các dân tộc Bản địa của Canada và các Trường Nội trú Dành cho Người Da đỏ),[44] mô tả hình thức hoạt động này: "Chính phủ cung cấp rất ít sự lãnh đạo, và các giáo sĩ phụ trách được để tự quyết định sẽ dạy gì và dạy như thế nào. Ưu tiên của họ là truyền đạt những lời dạy của nhà thờ hoặc dòng tu của họ—không phải để cung cấp một nền giáo dục tốt có thể giúp học sinh trong cuộc sống sau khi tốt nghiệp". Trong một bài xã luận trên tờ New York Times, Gabrielle Scrimshaw mô tả việc ông bà của cô đã bị buộc phải gửi mẹ cô đến một trong những trường học này hoặc có nguy cơ bị phạt tù. Sau khi giấu mẹ cô vào "ngày đón đến trường" để tránh việc gửi con gái họ đến các cơ sở mà sự lạm dụng ở đó đã được biết đến nhiều vào thời điểm bấy giờ (giữa thế kỷ 20). Mẹ của Scrimshaw đã bị bỏ lại với các lựa chọn hạn chế cho việc học cao hơn, cô nói, và kết quả là ngày nay bà không biết chữ.

Gabrielle Scrimshaw giải thích rằng "Bảy thế hệ tổ tiên của tôi đã trải qua những trường học này. Mỗi thành viên mới trong gia đình ghi danh đồng nghĩa với một sự lạm dụng phức tạp và sự đánh mất dần đi bản sắc, văn hóa và hy vọng. Mẹ tôi là thế hệ cuối cùng. Trải nghiệm đó khiến bà suy sụp, và giống như rất nhiều người khác, bà tìm đến các chất gây nghiện để làm tê liệt những nỗi đau này".[45] Một báo cáo, được đăng lại bởi CBC News,[46] ước tính có gần 6.000 trẻ em đã chết trong sự chăm sóc của những trường học này. Quá trình thực dân hóa đối với các dân tộc bản địa ở Bắc Mỹ vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay mặc dù phần lớn các trường nội trú đã bị đóng cửa. Hình thức chủ nghĩa đế quốc văn hóa này tiếp tục trong việc sử dụng người Mỹ bản địa làm linh vật cho các trường học và các đội thể thao. Jason Edward Black, một giáo sư kiêm trưởng Khoa Nghiên cứu Truyền thông tại Đại học Bắc Carolina tại Charlotte, mô tả cách việc sử dụng người Mỹ bản địa làm linh vật làm tăng thêm thái độ thực dân của thế kỷ XVIII và XIX.[47] Trong tác phẩm Deciphering Pocahontas (Giải mã Pocahontas),[48] tác giả Kent Ono và Derek Buescher đã viết: "Văn hóa Âu-Mỹ đã tạo ra một thói quen chiếm đoạt, và định nghĩa lại những gì là 'đặc biệt' và cấu thành nên người Mỹ bản địa".[49]

Hệ lụy Chủ nghĩa đế quốc văn hóa

Một thanh niên với phong cách Punk dị hợm
Lâu đài cổ tích tại Khu Thế giới kỳ ảo ở Vinpearl Phú Quốc minh chứng cho hiện tượng Disney hóa (Disneyization) trong chủ đề công viên giải trí

Quá trình đồng nhất văn hóa cũng hiện diện khi các quốc gia hùng mạnh có khả năng làm tràn ngập không gian thông tin và truyền thông bằng những ý tưởng của họ, hạn chế khả năng cạnh tranh của các quốc gia và cộng đồng và khiến người dân tiếp xúc với nội dung được tạo ra tại địa phương. Chủ nghĩa đế quốc văn hóa đã được gọi là một quá trình nhằm chuyển đổi "các biểu tượng văn hóa của các cộng đồng bị xâm lược từ nước ngoài thành nội địa một cách tự nhiên" như Jeffrey Herlihy-Mera nhận xét.[50] Ông mô tả quá trình này được thực hiện trong ba giai đoạn bởi các thương gia, sau đó là quân đội, rồi đến các chính trị gia. Trong khi giai đoạn thứ ba tiếp tục "vĩnh viễn", chủ nghĩa đế quốc văn hóa có xu hướng "dần dần, bị phản đối (và tiếp tục bị phản đối), và về bản chất là không hoàn thiện. Cấu hình cục bộ và không hoàn hảo của bản thể luận này có một khái niệm ngầm về thực tại và những nỗ lực—và thường thất bại—trong việc loại bỏ các hình thức tồn tại tập thể khác".[51] Để đạt được mục đích đó, các dự án kỹ thuật văn hóa cố gắng "cô lập cư dân trong các quả cầu biểu tượng được xây dựng" sao cho họ (cuối cùng, trong một số trường hợp sau nhiều thế hệ) từ bỏ các nền văn hóa khác và đồng nhất với các biểu tượng mới. "Kết quả dự kiến ​​rộng hơn của những can thiệp này có thể được mô tả như một sự công nhận chung về quyền sở hữu chính mảnh đất đó (thay mặt cho các tổ chức xuất bản và tài trợ cho các hình ảnh)".[51]

Ở Việt Nam, Ban Tuyên giáo và Dân vận Cần Thơ cho đăng bài viết có tựa đề "Nâng cao cảnh giác trước âm mưu của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” đối với cách mạng Việt Nam" với các luận điểm chính về chủ nghĩa đế quốc văn hóa. Theo Ban tuyên giáo Cần Thơ thì mưu đồ sâu xa của chủ nghĩa đế quốc văn hóa là truyền bá văn hóa ngoại lai, âm thầm gây ảnh hưởng, thâm nhập, nhằm từng bước thay đổi suy nghĩ, tình cảm, tư tưởng người dân, giới trẻ.[52] Các thế lực ngoại bang vẫn dai dẳng thực hiện âm mưu xâm lăng văn hoá, đồng hóa văn hóa các dân tộc yếu thế, các chính thể không đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, thường sử dụng sức mạnh của cải, quyền lực truyền thông để thực hiện bá quyền văn hóa, xâm lăng văn hóa, âm mưu diễn biến hòa bình. Chủ nghĩa đế quốc văn hóa kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa đế quốc truyền thông tiếp cận, xâm nhập tinh vi vào xã hội Việt Nam, tạo ra sự ảnh hưởng rõ nét đối với văn hóa Việt, ở mức độ nhóm cộng đồng, nhóm xã hội thì thứ văn hóa ngoại lai đã tác động vào đời sống xã hội, làm thay đổi và gây hệ lụy tới văn hóa truyền thống.

Thông qua phương tiện truyền thông phương Tây để lan truyền, phóng đại về giá trị văn hóa phương Tây nhằm biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa, phổ biến rộng rãi hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa, tiêm nhiễm lối sống tiêu dùng, cá nhân, thực dụng, gieo rắc văn hóa độc hại, rác rưởi, làm cho văn hóa Việt bị thay đổi, lai căng, ô nhiễm, mai một, đánh mất bản sắc và dần trở thành thuộc địa văn hóa.[53][54] Trong đó, lai căng là một biểu hiện lâm sàng của sự tha hóa, biến chất về văn hóa, đi liền với sùng ngoại, bắt chước mù quáng các yếu tố ngoại bang một cách hời hợt, lố lăng, kệch cỡm, tạo ra những thứ hỗn tạp, rỗng tuếch, mất gốc, biến tướng, ngoại lai, làm biến dạng bản sắc, căn tính, vùi lấp, thủ tiêu giá trị truyền thống. Đây là một trong những nguy cơ lớn nhất đối với các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa, trong đó có Việt Nam, chính là nguy cơ mai một, mất bản sắc văn hóa dân tộc.[55] Quan điểm này kiến nghị xây dựng chính sách văn hóa nhằm bảo vệ các giá trị văn hóa trong nước, chống sự xâm lăng văn hóa ngoại lai, chú trọng phản bác, đấu tranh phòng, chống xâm lăng văn hóa, đề kháng các luồng thông tin xấu độc đối với văn hoá truyền thống và văn hóa cách mạng Việt Nam, tăng cường phản biện xã hội, phê phán thói sùng ngoại, lai căng, dị hợm, quái đản của người dân, giới trẻ, chú trọng gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, các di tích lịch sử văn hóa, văn vật, bảo tồn, phát huy, lan toả các giá trị văn hóa tốt đẹp, xây dựng môi trường văn hóa, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần.[56][57] Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục... Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”.[58]

Chú thích Chủ nghĩa đế quốc văn hóa

  1. "Cultural Imperialism definition". britannica.com. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
  2. 1 2 Schiller, Herbert I. (1992). Mass communications and American empire (ấn bản thứ 2). Boulder: Westview Press. ISBN 0-8133-1439-9. OCLC 25874095.
  3. Media imperialism : continuity and change. Oliver Boyd-Barrett, Tanner Mirrlees. Lanham, Maryland. 2020. ISBN 978-1-5381-2154-2. OCLC 1112788649.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  4. Mirrlees, Tanner (2016). Hearts and mines : the US empire's culture industry. Vancouver. ISBN 978-0-7748-3014-0. OCLC 907657359.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  5. Carnoy, Martin (1974). Education as cultural imperialism. New York: D. McKay Co. ISBN 0-679-30246-8. OCLC 934515.
  6. Wagnleitner, Reinhold (1994). Coca-colonization and the Cold War : the cultural mission of the United States in Austria after the Second World War. Chapel Hill: University of North Carolina Press. ISBN 0-585-02898-2. OCLC 42329416.
  7. Rydell, Robert W. (2013). Buffalo Bill in Bologna : the Americanization of the world, 1869-1922. Rob Kroes . Chicago, Ill.: University of Chicago Press. ISBN 978-0-226-00712-0. OCLC 806198432.
  8. Davis, G. Doug (2019). Cultural imperialism and the decline of the liberal order : Russian and Western soft power in Eastern Europe. Michael O. Slobodchikoff. Lanham, Maryland. ISBN 978-1-4985-8586-6. OCLC 1050960744.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  9. Phillipson, Robert (1992). Linguistic imperialism. Oxford [England]: Oxford University Press. ISBN 0-19-437146-8. OCLC 30978070.
  10. Cultures of United States imperialism. Amy Kaplan, Donald E. Pease. Durham: Duke University Press. 1993. ISBN 0-8223-1413-4. OCLC 28113815.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết)
  11. Said, Edward W. (1994). Culture and imperialism (ấn bản thứ 1). New York. ISBN 0-679-75054-1. OCLC 29600508.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  12. Young, Robert (2003). Postcolonialism : a very short introduction. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-280182-1. OCLC 51001171.
  13. Teresa A. Meade; Mark Walker, biên tập (tháng 1 năm 1991). Science, Medicine and Cultural Imperialism. New York: Palgrave Macmillan. ISBN 978-1-349-12447-3. OCLC 1017909068.
  14. Cultural imperialism : essays on the political economy of cultural domination. Bernd Hamm, Russell Smandych. Peterborough, Ontario. 2005. ISBN 978-1-4426-0209-0. OCLC 180772881.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  15. Tomlinson, John (1991). Cultural imperialism : a critical introduction. Baltimore, Md.: Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-4249-2. OCLC 24142273.
  16. Shah, Parth; Maitra, Vidisha (2005). Terracotta Reader: A Market Approach to the Environment (bằng tiếng Anh). Academic Foundation. ISBN 978-81-7188-426-1.
  17. Besnier, Niko; Brownell, Susan; Carter, Thomas F. (ngày 8 tháng 12 năm 2017). Two. Sport, Colonialism, and Imperialism (bằng tiếng Anh). University of California Press. doi:10.1525/9780520963818-005. ISBN 978-0-520-96381-8. S2CID 226765698.
  18. "western cultural imperialism: Topics by WorldWideScience.org". worldwidescience.org. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
  19. Sayre, Shay; Cynthia King (2010). Entertainment and Society: Influences, Impacts, and Innovations (ấn bản thứ 2). Oxon, New York: Routledge. tr. 31. ISBN 978-0-415-99806-2.
  20. Mirrlees, Tanner (2015). "U.S. Empire and Communications Today: Revisiting Herbert I. Schiller". The Political Economy of Communication. 3 (2): 6.
  21. Schiller, Herbert I. (1976). Communication and cultural domination. White Plains, N.Y.: International Arts and Sciences Press. ISBN 0-87332-079-4. OCLC 2615596.
  22. Maxwell, Richard (2003). Herbert Schiller. Lanham, Md.: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-1847-7. OCLC 52134906.
  23. Mosco, Vincent (ngày 21 tháng 6 năm 2010), "Schiller, Herbert I.", trong Donsbach, Wolfgang (biên tập), The International Encyclopedia of Communication (bằng tiếng Anh), Chichester, UK: John Wiley & Sons, Ltd, tr. wbiecs131, doi:10.1002/9781405186407.wbiecs131, ISBN 978-1-4051-8640-7, truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2022
  24. Murdock, Graham (ngày 1 tháng 7 năm 2006). "Notes from the Number One Country". International Journal of Cultural Policy. Quyển 12 số 2. tr. 209–227. doi:10.1080/10286630600813727. ISSN 1028-6632. S2CID 142100032.
  25. Mirrlees, Tanner (ngày 14 tháng 1 năm 2016). "U.S. Empire and Communications Today: Revisiting Herbert I. Schiller". The Political Economy of Communication (bằng tiếng Anh). Quyển 3 số 2. ISSN 2357-1705.
  26. Saïd, Edward. 1993. Culture and Imperialism New York: Pantheon Books
  27. Spivak, Gayatri Chakravorty. 1988. "Can the Subaltern Speak" Lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2012 tại Wayback Machine
  28. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” đối với cách mạng Việt Nam (Báo Cần Thơ)
  29. Rothkopf, David, "In Praise of Cultural Imperialism", Foreign Affairs, Summer 1997, Volume 107, pp. 38–53; all descriptions of Rothkopf's points and his quotes are from this article Lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2008 tại Wayback Machine
  30. George Ritzer (2009). The McDonaldization of Society. Los Angeles, USA: Pine Forge Press.
  31. Mark Pendergrast (ngày 15 tháng 8 năm 1993). "Viewpoints; A Brief History of Coca-Colonization". The New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014.
  32. Martin, Judith N.; Nakayama, Thomas K. (ngày 19 tháng 4 năm 2011), "Intercultural Communication and Dialectics Revisited", The Handbook of Critical Intercultural Communication, Oxford, UK: Wiley-Blackwell, tr. 59–83, doi:10.1002/9781444390681.ch5, ISBN 978-1-4443-9068-1, truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020
  33. Salwen, Michael B. (tháng 3 năm 1991). "Cultural imperialism: A media effects approach". Critical Studies in Media Communication. Quyển 8 số 1. tr. 29–38. doi:10.1080/15295039109366778.
  34. Tan, Alexis S.; Tan, Gerdean K.; Tan, Alma S. (1987). "American TV in the Philippines: A Test of Cultural Impact". Journalism Quarterly. 64: 65–144. doi:10.1177/107769908706400108. S2CID 145405598.
  35. Mire, Amina (2014). "'Skin Trade': Genealogy of Anti-ageing 'Whiteness Therapy' in Colonial Medicine". Medicine Studies. 4: 119–129. doi:10.1007/s12376-014-0007-1.
  36. Khan, Yasmin; Khan, Samina (2022). "The Complex History of the Motivations Behind Skin Lightening: An Intersection of Sex, Class, Race and Colonialism". British Journal of Dermatology. 187: 191. doi:10.1111/bjd.21794.
  37. Mire, Amina (2014). "'Skin Trade': Genealogy of Anti-ageing 'Whiteness Therapy' in Colonial Medicine". Medicine Studies. 4: 119–129. doi:10.1007/s12376-014-0007-1.
  38. Krozer, Alice; Gómez, Andrea (2023). "Not in the Eye of the Beholder: Racialization, Whiteness, and Beauty Standards in Mexico". Latin American Research Review. 58: 422–439. doi:10.1353/lar.2023.0029.
  39. Mire, Amina (2014). "'Skin Trade': Genealogy of Anti-ageing 'Whiteness Therapy' in Colonial Medicine". Medicine Studies. 4: 119–129. doi:10.1007/s12376-014-0007-1.
  40. Khan, Yasmin; Khan, Samina (2022). "The Complex History of the Motivations Behind Skin Lightening: An Intersection of Sex, Class, Race and Colonialism". British Journal of Dermatology. 187: 191. doi:10.1111/bjd.21794.
  41. Mire, Amina (2014). "'Skin Trade': Genealogy of Anti-ageing 'Whiteness Therapy' in Colonial Medicine". Medicine Studies. 4: 119–129. doi:10.1007/s12376-014-0007-1.
  42. Khan, Yasmin; Khan, Samina (2022). "The Complex History of the Motivations Behind Skin Lightening: An Intersection of Sex, Class, Race and Colonialism". British Journal of Dermatology. 187: 191. doi:10.1111/bjd.21794.
  43. Caruso, Jennifer (2012). "Turn This Water into Wine". Australian Feminist Studies. 27 (73): 279–287. doi:10.1080/08164649.2012.705575. S2CID 146125147.
  44. "Stolen Lives: The Indigenous Peoples of Canada and the Indian Residential Schools". Facing History and Ourselves. ngày 23 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2020.
  45. Scrimshaw, Gabrielle (ngày 30 tháng 6 năm 2017). "Opinion | Canada's Hidden History, My Mother and Me". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2020.
  46. Schwartz, Daniel. "Residential School Students Had Same Odds of Dying as Soldiers in WW II". CBC News. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2020.
  47. Black, Jason Edward (2002). "The "Mascotting" of Native America: Construction, Commodity, and Assimilation". American Indian Quarterly. 26 (4): 605–622. doi:10.1353/aiq.2004.0003. ISSN 0095-182X. JSTOR 4128504. S2CID 162211313.
  48. Ono, Kent A.; Buescher, Derek T. (2001). "Deciphering Pocahontas: Unpackaging the commodification of a native American woman". Critical Studies in Media Communication. 18: 23–43. doi:10.1080/15295030109367122. S2CID 143685050.
  49. Ono, Kent A.; Buescher, Derek T. (2001). "Deciphering Pocahontas: Unpackaging the commodification of a native American woman". Critical Studies in Media Communication. 18: 23–43. doi:10.1080/15295030109367122. S2CID 143685050.
  50. Herlihy-Mera, Jeffrey (2018). "After American Studies: Rethinking the Legacies of Transnational Exceptionalism |". Routledge. tr. 23. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019.
  51. 1 2 Herlihy-Mera, Jeffrey (2018). "After American Studies: Rethinking the Legacies of Transnational Exceptionalism |". Routledge. tr. 24. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  52. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” đối với cách mạng Việt Nam (Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Cần Thơ)
  53. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” đối với cách mạng Việt Nam (Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Cần Thơ)
  54. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” đối với cách mạng Việt Nam (Báo Cần Thơ)
  55. Đừng để văn hóa nước nhà lâm nguy trước làn sóng sùng ngoại, lai căng (Báo Quân đội Nhân dân)
  56. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” đối với cách mạng Việt Nam (Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Cần Thơ)
  57. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” đối với cách mạng Việt Nam (Báo Cần Thơ)
  58. Đừng để văn hóa nước nhà lâm nguy trước làn sóng sùng ngoại, lai căng (Báo Quân đội Nhân dân)

Tham khảo Chủ nghĩa đế quốc văn hóa

  • Dunch, Ryan (2002). "Beyond Cultural Imperialism: Cultural Theory, Christian Missions, and Global Modernity". History and Theory. 41 (3): 301–325. doi:10.1111/1468-2303.00208. JSTOR 3590688. S2CID 143267711.
  • Hamm, Bernd; Russell Charles Smandych (2005). Cultural imperialism: essays on the political economy of cultural domination. Reference, Information and Interdisciplinary Subjects Series. University of Toronto Press. ISBN 978-1-55111-707-2.
  • Lechner, Frank; John Boli (2009). The Globalization Reader. Wiley-Blackwell.
  • Lechner, Frank; John Boli (2012). The Globalization Reader. John Wiley & Sons. ISBN 978-0-470-65563-4.
  • Tomlinson, John (1991). Cultural imperialism: a critical introduction . Continuum International Publishing Group. ISBN 978-0-8264-5013-5.
  • White, Livingston A. (Spring–Summer 2001). "Reconsidering cultural imperialism theory". Transnational Broadcasting Studies (6). The Center for Electronic Journalism at the American University in Cairo and the Centre for Middle East Studies, St. Antony's College, Oxford.

Liên kết ngoài Chủ nghĩa đế quốc văn hóa