Bước tới nội dung

Yulii Borisovich Khariton

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Yulii Khariton
Юлий Харитон
Yulii Borisovich Khariton trên một con tem bưu chính của Nga được phát hành nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông.
Sinh(1904-02-27)27 tháng 2 năm 1904
Saint Petersburg, Đế quốc Nga
Mất18 tháng 12 năm 1996(1996-12-18) (92 tuổi)
Sarov, Nga
Tư cách công dân Nga
Trường lớpLeningrad Polytechnical Institute, Soviet Union
University of Cambridge, United Kingdom
Nổi tiếng vìDự án vũ khí hạt nhân của Liên Xô
Giải thưởngHero of Socialist Labour (1949, 1951, 1954)
Lenin Prize (1956)
Sự nghiệp khoa học
NgànhVật lý
Nơi công tácPhòng thí nghiệm số 2
Institute of Chemical Physics
Luận ánScintillation produced by alpha-particles (1928)
Người hướng dẫn luận án tiến sĩErnest Rutherford
Cố vấn nghiên cứu khácAbram Ioffe

Yulii Borisovich Khariton (tiếng Nga: Юлий Борисович Харитон; 27 tháng 2 năm 1904 – 18 tháng 12 năm 1996) là một nhà vật lý người Nga, đồng thời là nhà khoa học chủ chốt trong chương trình vũ khí hạt nhân của Liên Xô.[1][2]

Kể từ khi Joseph Stalin khởi xướng chương trình phát triển bom nguyên tử của Liên Xô vào năm 1943, Khariton giữ vai trò “tổng công trình sư vũ khí hạt nhân” và gắn bó với chương trình này trong gần bốn thập kỷ. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông vào năm 2004, hình ảnh của ông đã được in trên tem bưu chính của Nga do chính phủ Nga phát hành.[3]

Tiểu sử

Gia đình, thời niên thiếu và học vấn

Yulii Borisovich Khariton sinh ngày 27 tháng 2 năm 1904 tại Saint Petersburg, thuộc Đế quốc Nga, trong một gia đình Do Thái Nga trung lưu.:xii[4] Cha ông, Boris Osipovich Khariton, là một nhà báo chính trị, biên tập viên và nhà xuất bản, tốt nghiệp luật tại Đại học Kiev (Ukraine).:xlii:xii[4][5] Ông làm việc cho tờ báo Rech, cơ quan ngôn luận chính của Đảng Dân chủ Lập hiến, và là một nhân vật có tiếng trong giới chính trị Nga.[5] Sau Cách mạng Nga 1917 lật đổ chế độ chuyên chế Sa hoàng, Boris Khariton đã xảy ra xung đột với phe Bolshevik do phản đối hệ tư tưởng Xô viết của Vladimir Lenin.:xlii[4] Năm 1922, ở tuổi 46, ông bị lưu đày khỏi Nga sang các nước vùng Baltic cùng với nhiều giáo sư và nhà báo trên một trong những chuyến tàu được gọi là “tàu triết gia”, sau đó làm việc cho một tờ báo của cộng đồng di cư tại Latvia.[6]

Ông tiếp tục sống tại đó cho đến khi Latvia bị sáp nhập vào Liên Xô năm 1940. Khi 64 tuổi, ông bị NKVD bắt giữ và kết án 7 năm lao động cưỡng bức trong Gulag, nơi ông qua đời.:xlii[4]

Mẹ của Yulii, Mirra Yakovlevna Burovskaya, là một nữ diễn viên sân khấu từng biểu diễn tại Nhà hát Nghệ thuật Moskva. Bà rời Nga năm 1910 để điều trị bệnh tại các khu nghỉ dưỡng ở châu Âu.:xlii[4] Khi đó Yulii mới 6 tuổi và được một phụ nữ người Estonia chăm sóc — người được cha ông thuê khi đang sống lưu vong tại Latvia.:134[7] Mẹ ông không bao giờ trở lại Nga, ly hôn với cha ông và sau đó kết hôn với bác sĩ tâm thần Max Eitingon.:xli[4]

Sau khi sống ở Đức, bà Mirra chuyển đến Tel Aviv (Palestine) vào năm 1933 và ở đó cho đến khi qua đời.:xlii[4] Bà được chôn cất tại Jerusalem.:xlii[4]

Yulii Borisovich Khariton bị cấm liên lạc với cha mẹ sau khi bắt đầu tham gia các công việc mật tại Liên Xô. Việc đi lại của ông bị hạn chế nghiêm ngặt bởi Liên Xô và sau này là Nga.[8]

Yulii được giáo dục tại nhà bởi người quản gia gốc Estonia do cha ông thuê, người đã dạy ông tiếng Đức.:xliii[4] Năm 11 tuổi, ông bắt đầu theo học tại trường phổ thông.:xliii[4] Tại Saint Petersburg, ông theo học một trường dạy nghề, tốt nghiệp khi 15 tuổi và làm việc tại một xưởng cơ khí địa phương, nơi ông học cách vận hành nhiều loại máy móc với tư cách là thợ cơ khí.:xlii[4]

Năm 1920, ông nhập học tại Viện Bách khoa Leningrad để học kỹ thuật cơ khí, nhưng sau đó chuyển sang vật lý, lĩnh vực mà ông thấy hấp dẫn hơn.:xliii[4] Ông học vật lý dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học Nga như Abram Ioffe, Nikolay Semyonov, vàAlexander Friedmann. Khariton đặc biệt bị cuốn hút bởi công trình của Semyonov, người đã áp dụng các phương pháp vật lý vào hóa học — lĩnh vực mà ông gọi là “vật lý hóa học”.:xliii[4] Tài năng của Khariton được Semyonov ghi nhận và ông đã hỗ trợ Khariton trong dự án nghiên cứu về khả năng phát quang của phospho khi kết hợp với oxy, với kết quả được công bố bằng cả tiếng Đức và tiếng Nga.:xliv[4] Năm 1926, Khariton tốt nghiệp chuyên ngành vật lý tại Viện Bách khoa Leningrad và kết thúc dự án nghiên cứu của mình khi chuẩn bị cho chuyến đi nước ngoài đầu tiên tới Anh.:xlv[4]

Trước khi lên đường, ông được Nikolay Semyonov giới thiệu với Pyotr Kapitsa, người sau đó được đề nghị giúp Yulii xin một học bổng tại Phòng thí nghiệm Cavendish ở Anh. Tại Anh, Yulii Borisovich Khariton theo học tại Đại học Cambridge để làm tiến sĩ vật lý dưới sự hướng dẫn của Ernest Rutherford vào năm 1926.:xlv[4] Trong thời gian ở Cambridge, ông làm việc cùng James Chadwick, nghiên cứu về độ nhạy của mắt đối với các xung ánh sáng yếu và bức xạ alpha. Khariton nhận bằng tiến sĩ (PhD) từ Đại học Cambridge vào năm 1928.:xlv[4]

Chương trình hạt nhân của Liên Xô

Năm 1928, Khariton quyết định sang sinh sống tại Đức để ở gần mẹ, nhưng ông cảm thấy kinh hãi và lo ngại trước các hoạt động tuyên truyền chính trị của Đảng Quốc xã, nên đã quay trở lại Liên Xô, trong khi mẹ ông rời đi đến Palestine.:xlv[4]

Năm 1931, ông gia nhập Viện Vật lý Hóa học và sau đó đứng đầu phòng thí nghiệm nổ cho đến năm 1946, làm việc chặt chẽ với Yakov Zeldovich về các phản ứng dây chuyền hóa học tỏa nhiệt.:xlvi[4]

Năm 1935, ông nhận học vị tiến sĩ khoa học vật lý và toán học. Trong giai đoạn này, Khariton và Zeldovich đã tiến hành các thí nghiệm về phản ứng dây chuyền của uranium. Tháng 8 năm 1939, Zeldovich, Khariton và Aleksandr Leipunskii đã trình bày các báo cáo về cơ sở lý thuyết của phản ứng phân hạch hạt nhân dây chuyền tại một hội nghị ở Kharkiv; đây là cuộc thảo luận cuối cùng về phản ứng dây chuyền tại Liên Xô trước chiến tranh.[9][10]

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, kiến thức của Khariton về vật lý của các vụ nổ được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về vũ khí của Liên Xô và nước ngoài, đồng thời ông vẫn tiếp tục lãnh đạo Viện Vật lý Hóa học.[11]

Nhà vật lý Igor Kurchatov đã mời Khariton tham gia dự án nguyên tử của Liên Xô vào năm 1943, tại Phòng thí nghiệm số 2 của Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Tháng 5 năm 1945, với tư cách là thành viên của một nhóm các nhà vật lý được cử tới Berlin để điều tra chương trình bom nguyên tử của Đức Quốc xã, Khariton đã phát hiện 100 tấn uranium oxide, số vật liệu này sau đó được vận chuyển về Moscow, giúp rút ngắn thời gian phát triển plutoni trong nước.

Sau các vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, một Ủy ban Đặc biệt được thành lập với sự tham gia của Kurchatov và Khariton. Khariton được bổ nhiệm làm giám đốc khoa học của KB-11 (Cục thiết kế-11), còn gọi là Arzamas-16, đặt tại thành phố bí mật Sarov, tỉnh Nizhny Novgorod, để phát triển vũ khí hạt nhân Liên Xô (tổ chức này hiện nay là Viện Nghiên cứu Khoa học Toàn Nga về Vật lý Thực nghiệm – VNIIEF).

Khariton giữ chức giám đốc khoa học tại đây trong 46 năm. Cùng với các nhà khoa học cấp cao khác, ông được coi là quá quan trọng để di chuyển bằng đường hàng không và có toa tàu riêng phục vụ đi lại. Ông được bầu làm viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1946 và trở thành viện sĩ chính thức vào năm 1953.[11][9]

Năm 1949, ông cùng với Kirill Shchelkin đã báo cáo với Ủy ban Đặc biệt về tiến độ của vũ khí hạt nhân đầu tiên của Liên Xô – RDS-1, được thử nghiệm vào ngày 29 tháng 8 cùng năm. Yulii Borisovich Khariton tỏ ra kính trọng cấp trên về chính trị, nhưng đồng thời bảo vệ các nhà khoa học dưới quyền một cách khéo léo và ngoại giao.

Nhà vật lý kiêm trưởng bộ phận Andrei Sakharov đã nhận xét ông là người “nhiệt huyết và không tiếc bản thân”.[10] Ông đại diện cho các nhà khoa học khi họ chuyển hướng sang phát triển thiết bị hạt nhân hai giai đoạn với cơ chế nén ban đầu từ năm 1954 (RDS-37), và ủng hộ các đề nghị không cho kích nổ RDS-220 (quả bom lớn nhất từng được chế tạo) do số lượng thương vong dự kiến từ bụi phóng xạ lắng đọng.

Tuy nhiên, ông không ủng hộ các đề nghị tương tự nhằm dừng một vụ thử lặp lại bởi Viện Nghiên cứu Khoa học Toàn Nga về Vật lý Kỹ thuật tại Snezhinsk, vì cho rằng điều này mang tính chia rẽ, và cũng không can thiệp vào một số vụ việc cá nhân mang tính chính trị nhạy cảm.[12]

Khả năng ngoại giao của ông đồng nghĩa với việc phải chịu đựng những lời chỉ trích và hạ thấp từ các lãnh đạo chính trị qua nhiều thời kỳ. KB-11 đôi khi bị chế giễu vì có tỷ lệ lớn nhân sự có nguồn gốc Do Thái, trong đó có cả Khariton.

Viện Nghiên cứu Khoa học Toàn Nga về Vật lý Kỹ thuật do Yevgeny Ivanovich Zababakhin đứng đầu có ít người Do Thái hơn, và quan hệ chuyên môn giữa hai bên khá gượng gạo; nó từng bị các chính trị gia gọi đùa là “Ai Cập”, hàm ý so sánh với KB-11, trong khi phòng ăn tại KB-11 lại bị gọi mỉa là “giáo đường Do Thái”.[13]

Giải thưởng

Di sản

Tháng 10 năm 1997, tại Sarov, phố Togliati đã được đổi tên thành phố Viện sĩ Khariton để vinh danh ông. Tháng 2 năm 2004, một tượng bán thân bằng đồng của ông được dựng bên cạnh Nhà Khoa học của VNIIEF.

Năm 2004, một con tem của Nga đã được phát hành nhằm kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông.[14]

Xem thêm

Tham khảo

  1. Sublette, Carey (ngày 19 tháng 12 năm 1996). "Yuli Khariton". nuclearweaponarchive.org. nuclearweaponarchive. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017.
  2. Dalyell, Tam (ngày 23 tháng 12 năm 1996). "Obituary: Yuli Khariton". The Independent. Independent Russia Bureau. Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017.
  3. "Yuli B. Khariton". Atomic Heritage Foundation. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Hargittai, Istvan (2004). Buried Glory: Portraits of Soviet Scientists (bằng tiếng Anh). London, UK: Oxford University Press. tr. clxxii. ISBN 9780199985616. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017.
  5. 1 2 Подвиг Юлия Борисовича Харитона Lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2007 tại Wayback Machine (bằng tiếng Nga)
  6. Человек столетия, или как создавался ядерный щит России Lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại Wayback Machine(bằng tiếng Nga)
  7. Hargittai, Istvan (2010). Judging Edward Teller: A Closer Look at One of the Most Influential Scientists of the Twentieth Century (ấn bản thứ 1). New York: Prometheus Books. tr. 495. ISBN 9781616142698. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2017.
  8. Оппенгеймер и Харитон: параллели жизни Lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2007 tại Wayback Machine (bằng tiếng Nga)
  9. 1 2 Sakharov, Andrei (1990). Memoirs. New York: Alfred A. Knopf. tr. 170. ISBN 0394537408.
  10. 1 2 "Хроника атомной эры [Chronicle of the atomic era]". www.vniief.ru. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2018.
  11. 1 2 "Харитон Юлий Борисович (1904-1996)". www.biblioatom.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2018.
  12. Sakharov, Andrei (1990). Memoirs. New York: Alfred A. Knopf. tr. 78, 137, 182, 218, 226. ISBN 0394537408.
  13. Sakharov, Andrei (1990). Memoirs. New York: Alfred A. Knopf. tr. 153, p184. ISBN 0394537408.
  14. "Их именами названы улицы:Улица Академика Харитона[The streets are named after them: Street Academician Khariton]". www.vniief.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2018.

Liên kết ngoài