Xenanthias fourmanoiri
| Xenanthias fourmanoiri | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Actinopterygii |
| Bộ: | Perciformes |
| Họ: | Anthiadidae |
| Chi: | Xenanthias |
| Loài: | X. fourmanoiri |
| Danh pháp hai phần | |
| Xenanthias fourmanoiri (Randall, 1980) | |
| Các đồng nghĩa | |
| |
Xenanthias fourmanoiri là một loài cá biển thuộc chi Xenanthias trong họ Anthiadidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1980.
Phân loại
Theo nghiên cứu của Tang và Chen (2025), chi Plectranthias trước đây bao gồm 7 nhánh riêng biệt. Dựa trên kết quả phân tích bộ gen, Plectranthias fourmanoiri được chuyển sang chi Xenanthias.[2]
Từ nguyên
Từ định danh fourmanoiri được đặt theo tên của Pierre Fourmanoir (1924–2007), nhà ngư học người Pháp, người nhận ra rằng đó là một loài chưa được mô tả nhưng đã tốt bụng nhường lại công việc đó cho tác giả Randall.[3]
Phân bố và môi trường sống
Từ đảo Giáng Sinh và rạn Holmes (Úc),[4] X. fourmanoiri có phân bố trải dài về phía đông đến quần đảo Pitcairn, băng qua Indonesia và Philippines, ngược lên phía bắc đến quần đảo Mariana và quần đảo Ryukyu.[5]
X. fourmanoiri sống trên rạn san hô trong đầm phá và vùng nước gần bờ, độ sâu trong khoảng 5–44 m.[6]
Mô tả
Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở X. fourmanoiri là 4,7 cm.[6] Thân có màu trắng hoặc đỏ nhạt, lốm đốm các chấm vàng khắp cơ thể. Hai bên thân có 5 sọc dọc màu nâu. Có 4 đốm đen đặc trưng trên cơ thể: một ở giữa (lớn nhất) và một ở cuối vây lưng, một ở cuối vây hậu môn, một ở ngay trước hậu môn.[7]
Gai vây lưng: 10; Tia vây lưng: 16–18; Gai vây hậu môn: 3; Tia vây hậu môn: 7; Tia vây ngực: 12–13.[8]
Tham khảo
- ↑ Williams, J. T.; Carpenter, K. E.; Lawrence, A. & Myers, R. (2016). "Plectranthias fourmanoiri". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2016: e.T69588014A69592422. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T69588014A69592422.en. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ Tang, Chi-Ngai; Chen, Wei-Jen (2025). "A 40-year taxonomic enigma: multigene phylogeny resolves the polyphyly of Plectranthias (Perciformes: Anthiadidae) and supports a revised taxonomy". Zoological Journal of the Linnean Society. Quyển 205 số 3. tr. zlaf148. doi:10.1093/zoolinnean/zlaf148. ISSN 0024-4082.
- ↑ Christopher Scharpf, biên tập (2026). "Order Perciformes (part 4)". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
- ↑ Gill, Anthony C.; Pogonoski, John J.; Moore, Glenn I.; Johnson, Jeffrey W. (2021). "Review of Australian species of Plectranthias Bleeker and Selenanthias Tanaka (Teleostei: Serranidae: Anthiadinae), with descriptions of four new species". Zootaxa. Quyển 4918 số 1. tr. 1–116. doi:10.11646/zootaxa.4918.1.1. ISSN 1175-5334. PMID 33756685.
(Xem phần: "Plectranthias fourmanoiri Randall".{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp)) - ↑ Tashiro, Satokuni; Motomura, Hiroyuki (2017). "First Japanese Record of the Barred Perchlet Plectranthias fourmanoiri (Actinopterygii: Perciformes: Serranidae) from the Ryukyu Islands". Species Diversity. Quyển 22 số 1. tr. 81–85. doi:10.12782/sd.22_81.
- 1 2 Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Plectranthias fourmanoiri trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2025.
- ↑ Bray, D. J. (2021). "Fourmanoir's Basslet, Plectranthias fourmanoiri Randall 1980". Fishes of Australia. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Randall, John E. (1980). "Revision of the fish genus Plectranthias (Serranidae: Anthiinae) with descriptions of 13 new species" (PDF). Micronesica. Quyển 16. tr. 125–129.