Bước tới nội dung

Vinh Lộc (xã)

Vinh Lộc
Bãi biển Vinh Hiền nhìn từ trên cao
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngBắc Trung Bộ
Thành phốHuế
Thành lập16/6/2025
Địa lý
Tọa độ: 16°22′00″B 107°51′49″Đ / 16,366656825227°B 107,86367862319°Đ / 16.366656825226904; 107.86367862318697
Vinh Lộc trên bản đồ Việt Nam
Vinh Lộc
Vinh Lộc
Vị trí xã Vinh Lộc trên bản đồ Việt Nam
Diện tích66,53 km²
Dân số (2025)
Tổng cộng36.350 người
Khác
Websitevinhloc.hue.gov.vn

Vinh Lộc là một thuộc thành phố Huế, Việt Nam.

Địa lý

Xã Vinh Lộc có vị trí địa lý:

Địa hình

Là xã nằm ven biển nên chủ yếu là đất cát, có hai ngọn núi nhỏ là Linh Thái cao 150m và Tuý Vân cao 60m so với mực nước biển, phía Đông Nam có cửa biển Tư Hiền. Do nằm bên đoạn cuối của hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai nên đa phần thủy sản vùng nước lợ nơi đây được mệnh danh là ''ngon nhất'' Việt Nam dưới thời vua chúa Nhà Nguyễn.

Khí hậu

Gió: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 hư­ớng gió chính là gió mùa đông bắc về mùa đông và gió mùa tây nam về mùa hè. Đồng thời cũng chịu tác động của bão, gió biển và gió đất liền theo chu kỳ ngày đêm.

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình/năm: 25,2 °C. Tháng nóng nhất tháng 6, tháng 7 với 41,3 °C và tháng lạnh nhất là tháng 12 với nhiệt độ là 18 °C.

Thủy triều

Chế độ thủy triều bán nhật triều.

Thủy văn

Khu vực Vinh Hiền có đầm Cầu Hai rộng khoảng 11.200 ha thông với Biển Đông qua cửa Tư Hiền. Ngoài ra còn có con rạch nhỏ từ đầm Cầu Hai chảy ra địa phận xã Vinh Hải (nay là xã Giang Hải). Từ xa xưa, khi cửa Tư Hiền chưa có thì đoạn rạch này là nơi đầm Cầu Hai thoát nước ra biển qua cửa Ma Á-Vinh Hải. Về sau do sự dịch chuyển dòng hải lưu, cửa Ma Á-Vinh Hải bị bồi lấp đồng thời mở ra cửa biển mới và tồn tại đến ngày nay (chính là cửa Tư Hiền).

Lịch sử

Địa bàn xã Vinh Lộc trước kia thuộc huyện Phú Lộc, thành phố Huế

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1675/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Huế.[1] Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Vinh Hưng, Vinh Mỹ, Giang Hải và Vinh Hiền (huyện Phú Lộc) thành xã mới có tên gọi là xã Vinh Lộc.

Văn hóa - du lịch

Nơi đây, có bãi biển Hàm Rồng, bãi biển Hải Bình (Lộc Bình) khá đẹp, nhưng chưa có các nhà đầu tư khai thác tiềm năng du lịch nên các bãi biển ở đây còn khá hoang sơ, với một số di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Di tích lịch sử

Chùa Thánh Duyên

Theo "Bóng cũ hồn xưa" của Ngô Hoàng Long thì chùa Thánh Duyên là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia được công nhận năm 1996. Từ thế kỷ XVII dưới thời các Chúa Nguyễn, trên núi Túy Vân đã có dựng chùa và sau này trở thành quốc tự khi vua Minh Mạng cho xây dựng quy mô vào thế kỷ XIX.

Tháp Điều Ngự

Chuyện xưa kể rằng khi xây dựng chùa, vua Minh Mạng đã cho trồng 108 cây ngụ ý ngọn núi "Lương Sơn Bạc" của 108 vị hảo hán và đặt tên hai tảng đá hai bên là đá chuông, đá mỏ theo hình dạng. Ông cũng phong cái giếng vuông trong vắt dưới chân núi là giếng Cam Lồ. Đến thời Thiệu Trị, vị vua thi sĩ sau nhiều lần du ngoạn đã tinh ý khi "xếp hạng" núi Tuý Vân là cảnh sắc thứ chín trong số 20 cảnh đẹp đất kinh kỳ qua bài thơ Vân Sơn thắng tích...

Từ tháp Điều Ngự nằm ngay đỉnh núi với độ cao gần 60m nhìn xuống là đầm Cầu Hai với hàng nghìn nò sáo, thuyền đò của ngư dân nổi lên trên màu xanh của nước, hòa vào nền xanh núi non và nền trời làm khung cảnh vừa thoáng rộng vừa kỳ vĩ đẹp đến nao lòng.

Rời chùa Thánh Duyên, băng qua cầu Tư Hiền bắc ngang đầm Cầu Hai là khu vực cửa biển Tư Dung xưa nối đầm Cầu Hai với biển cả. Có quá khứ cả nghìn năm, lúc bồi lúc mở, có lúc chạy dài suốt 5 km mới tới được biển, cửa biển Tư Hiền nay tương đối nhỏ và cạn, chỉ những thuyền nhỏ mới vào ra được. Dấu tích cửa Tư Dung xưa chính là vịnh Hải Bình, một lạch nước tuyệt đẹp chạy dài giữa biển và dãy núi Ngũ Phong, nơi nuôi trai lấy ngọc từ nhiều năm nay.

Vịnh Hải Bình từng lưu dấu nàng Huyền Trân trong cuộc hôn phối lịch sử để đưa phần đất Ô - Rí về cho nước Đại Việt 700 năm trước. Lưu truyền trên đường xuất giá sang Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân đã có một đêm "tha thiết" trên thuyền ở vùng cửa biển, sau đó bái vọng tổ tiên trước lúc lên đường. Cái tên Tư Dung được đặt để tưởng nhớ vị công chúa đã quên mình cho đất nước,... Về sau cửa Tư Dung do trùng tên huý kỵ nên đã đổi thành cửa Tư Hiền.

Hình ảnh

Chú thích

Tham khảo