Bước tới nội dung

U-488 (tàu ngầm Đức)

Tàu ngầm U-461, một chiếc Type XIV tiêu biểu, đang di chuyển vào năm 1943
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọiU-488
Đặt hàng17 tháng 7, 1941
Xưởng đóng tàuGermaniawerft, Kiel
Số hiệu xưởng đóng tàu557
Đặt lườn3 tháng 1, 1942
Hạ thủy17 tháng 10, 1942
Nhập biên chế1 tháng 2, 1943
Tình trạngBị các tàu chiến Hải quân Hoa Kỳ thả mìn sâu đánh chìm trong Đại Tây Dương, 26 tháng 4, 1944[1][2]
Đặc điểm khái quát
Kiểu tàuTàu ngầm tiếp liệu
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 67,10 m (220 ft 2 in) (chung) [3]
  • 48,51 m (159 ft 2 in) (lườn áp lực) [3]
Sườn ngang
  • 9,35 m (30 ft 8 in) (chung) [3]
  • 4,90 m (16 ft 1 in) (lườn áp lực) [3]
Chiều cao11,70 m (38 ft 5 in) [3]
Mớn nước6,51 m (21 ft 4 in) [3]
Công suất lắp đặt
  • 2.800–3.200 PS (2.100–2.400 kW; 2.800–3.200 shp) (diesel) [3]
  • 750 PS (550 kW; 740 shp) (điện) [3]
Động cơ đẩy
Tốc độ
  • 14,4–14,9 hải lý trên giờ (26,7–27,6 km/h; 16,6–17,1 mph) (nổi) [3]
  • 6,2 hải lý trên giờ (11,5 km/h; 7,1 mph) (lặn) [3]
Tầm xa
  • 12.350 hải lý (22.870 km; 14.210 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [3]
  • 55 hải lý (102 km; 63 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [3] hoặc
  • 120 hải lý (220 km; 140 mi) ở tốc độ 2 hải lý trên giờ (3,7 km/h; 2,3 mph)
Độ sâu thử nghiệm240 m (790 ft) [3]
Sức chứa
  • 613 tấn dầu mazut
  • 13 tấn dầu bôi trơn
  • 4 × ngư lôi G7 (trong các thùng chứa bên ngoài)
Thủy thủ đoàn tối đa6 sĩ quan, 47 thủy thủ hoặc
Vũ khí
  • 2 × pháo phòng không 3,7 cm SK C/30
  • 1 × pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 nòng đôi [3]
Thành tích phục vụ[2][4]
Một phần của:
  • Chi hạm đội U-boat 4
  • 1 tháng 2 – 30 tháng 4, 1943
  • Chi hạm đội U-boat 12
  • 1 tháng 5, 1943 – 26 tháng 4, 1944
Mã nhận diện:M 49 793
Chỉ huy:
  • Thiếu úy / Trung úy Erwin Bartke
  • 1 tháng 2, 1943 – tháng 2, 1944
  • Trung úy Bruno Studt
  • tháng 2 – 26 tháng 4, 1944
Chiến dịch:
  • 3 chuyến tuần tra:
  • 1: 18 tháng 5 – 10 tháng 7, 1943
  • 2: 7 tháng 9 – 12 tháng 12, 1943
  • 3: 22 tháng 2 – 26 tháng 4, 1944
Chiến thắng:Không

U-488 là một tàu ngầm tiếp dầu Lớp Type XIV có biệt danh bằng tiếng Đức "Milchkuh" (bò sữa) được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó đã thực hiện được ba chuyến tuần tra để tiếp nhiên liệu, thực phẩm, ngư lôi hay trợ giúp y tế cho các tàu U-boat khác, nhưng không đánh chìm được mục tiêu nào. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-488 bị các tàu hộ tống khu trục USS Frost, USS Huse, USS BarberSnowden của Hải quân Hoa Kỳ thả mìn sâu đánh chìm trong Đại Tây Dương vào ngày 26 tháng 4, 1944.[1]

Thiết kế và chế tạo

Thiết kế

Thiết kế của Type XIV được dựa trên kiểu tàu ngầm tuần dương hoạt động tầm xa Type IXD, nhưng với một lườn tàu ngắn hơn và mớn nước sâu hơn. Chúng có trọng lượng choán nước 1.688 t (1.661 tấn Anh) khi nổi và 1.932 t (1.901 tấn Anh) khi lặn. Con tàu có chiều dài chung 67,10 m (220 ft 2 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 48,51 m (159 ft 2 in), mạn tàu rộng 9,35 m (30 ft 8 in), chiều cao 11,70 m (38 ft 5 in) và mớn nước 6,51 m (21 ft 4 in).[5] Chúng trang bị hệ thống động lực tương tự như với Type VII, bao gồm hai động cơ diesel Germaniawerft F46 siêu tăng áp 6-xy lanh 4 thì, cung cấp công suất 3.200 PS (2.400 kW; 3.200 bhp) dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,90 m (6,2 ft) để di chuyển trên mặt nước, cùng hai động cơ/máy phát điện Siemens-Schuckert 2 GU 345/34 công suất 750 PS (550 kW; 740 shp) để di chuyển ngầm.[5][6][7]

Do hàng hóa được tàu ngầm Type XIV vận chuyển chủ yếu là nhiên liệu nhẹ, trọng lực có thể đặt lên trên lườn áp lực cao hơn. Vì vậy thép dày đến 21,5 mm (0,85 in) được sử dụng cho lườn áp lực thay vì 18,5 mm (0,73 in), nên con tàu có khả năng lặn sâu đến 240 m (790 ft).[5][6] Chiếc tàu ngầm đạt được tốc độ tối đa 14,4–14,9 kn (26,7–27,6 km/h) trên mặt nước, và 6,2 kn (11,5 km/h) khi lặn. Chúng có tầm hoạt động tối đa 12.350 nmi (22.870 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h), và 120 nmi (220 km) khi đi ngầm ở tốc độ 2 kn (3,7 km/h)[5] hoặc 55 hải lý (102 km; 63 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph).[3]

Các con tàu không được trang bị ống phóng ngư lôi hay hải pháo trên boong. Vũ khí để tự vệ bao gồm hai khẩu pháo phòng không 3,7 cm SK C/30 với 2.500 quả đạn, cùng một pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30 nòng đôi với 3.000 quả đạn[3][5] Thủy thủ đoàn bao gồm 53 sĩ quan và thủy thủ.[5]

Chế tạo

U-488 được đặt hàng vào ngày 17 tháng 7, 1941,[2] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Friedrich Krupp Germaniawerft ở Kiel vào ngày 3 tháng 1, 1942.[2] Nó được hạ thủy vào ngày 17 tháng 10, 1942,[2] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 1 tháng 2, 1943[2] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu úy Hải quân Erwin Bartke.[2]

Lịch sử hoạt động

Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 4, U-488 được điều sang Chi hạm đội U-boat 12 từ ngày 1 tháng 5, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[2]

1943

Chuyến tuần tra thứ nhất

U-488 xuất phát từ cảng Kiel, Đức vào ngày 18 tháng 5, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua phía Bắc quần đảo Anh, và hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương. Tại đây chiếc "bò sữa" đã tiếp nhiên liệu cho các tàu U-boat đang hoạt động tại khu vực, rồi kết thúc chuyến tuần tra khi đi ngang phía Tây Bắc quần đảo Azores hướng đến cảng Bordeaux bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 10 tháng 7.[8]

Chuyến tuần tra thứ hai

U-488 khởi hành từ Borseaux vào ngày 7 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ hai, và lại làm nhiệm vụ tiếp nhiên liệu cho các tàu U-boat đang hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương. Trong chuyến đi này hai thủy thủ đã từ trần do bệnh tật.[9] Vào ngày 12 tháng 10, nó bị hai máy bay ném bom-ngư lôi TBF Avenger xuất phát từ tàu sân bay hộ tống USS Card của Hải quân Hoa Kỳ thả ngư lôi dò âm FIDO Mark 24 tấn công. Những chiếc Avenger tự nhận đã đánh chìm được mục tiêu, nhưng U-488 đã không bị hư hại.[2] Sang ngày hôm sau chiếc "bò sữa" tiếp nhận hai bệnh nhân cần chăm sóc y tế từ các tàu ngầm U-193U-530,[9] rồi quay trở lại cảng Borseaux vào ngày 12 tháng 12.[4]

1944

Chuyến tuần tra thứ ba – Bị mất

U-488 xuất phát từ cảng Bordeaux vào ngày 22 tháng 2, 1944 cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hướng xuống phía Tây Nam để hoạt động vùng biển Đại Tây Dương giữa các lục địa Châu PhiNam Mỹ.[10] Ở vị trí về phía Tây quần đảo Cabo Verdevào ngày 26 tháng 4, chiếc tàu ngầm bị các tàu hộ tống khu trục USS Frost, USS Huse, USS BarberSnowden của Hải quân Hoa Kỳ thả mìn sâu đánh chìm tại tọa độ 17°54′B 38°05′T / 17,9°B 38,083°T / 17.900; -38.083.[2][1] Toàn bộ 61 thành viên thủy thủ đoàn của U-488 đều đã tử trận.[2]

"Bầy sói" tham gia

U-488 từng tham gia một bầy sói:

  • Trutz (6 – 12 tháng 6, 1943)

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 Kemp (1999), tr. 185.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type XIV U-boat U-488". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Type XIV". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  4. 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-488". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  5. 1 2 3 4 5 6 Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 79.
  6. 1 2 Rössler (2001), tr. 152.
  7. Möller & Brack (2004), tr. 73.
  8. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-488 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  9. 1 2 Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-488 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  10. Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-488 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.

Thư mục

Liên kết ngoài

  • Helgason, Guðmundur. "The Type XIV boat U-488". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.
  • Hofmann, Markus. "U 488". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2025.