U-119 (tàu ngầm Đức) (1942)
Tàu ngầm U-119 đang bị hai thủy phi cơ Short Sunderland tấn công trong Đại Tây Dương, ngày 29 tháng 4 năm 1943 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-119 |
| Đặt hàng | |
| Xưởng đóng tàu | Germaniawerft, Kiel |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 624 |
| Đặt lườn | 15 tháng 5, 1940 |
| Hạ thủy | 6 tháng 1, 1942[3] |
| Nhập biên chế | 2 tháng 4, 1942[3] |
| Tình trạng | Bị tàu sà lúp Anh HMS Starling đánh chìm trong Đại Tây Dương, 24 tháng 6, 1943[3][2][1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm rải mìn |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 10,20 m (33 ft 6 in) [4] |
| Mớn nước | 4,71 m (15 ft 5 in) [4] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm | 220 m (720 ft) [4] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 5 sĩ quan, 47 thủy thủ |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[2][6] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 43 666 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: |
|
U-119 là một tàu ngầm rải mìn Lớp Type X được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo vào đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, nó đã thực hiện được hai chuyến tuần tra, đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 2.937 GRT, đồng thời gây hư hại cho một chiếc khác tải trọng 7.176 GRT. Trong chuyến tuần tra cuối cùng, U-119 bị tàu sà lúp HMS Starling của Hải quân Hoàng gia Anh thả mìn sâu tấn công và húc chìm trong Đại Tây Dương về phía Tây Bắc Tây Ban Nha vào ngày 24 tháng 6, 1943.[3]
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Tàu ngầm Type X nguyên được thiết kế đặc biệt để rải kiểu thủy lôi neo dưới đáy biển Schachtmine A (SMA).[7] Với trọng lượng choán nước lên đến 1.763 t (1.735 tấn Anh) khi nổi và 2.177 t (2.143 tấn Anh) khi lặn, chúng là những tàu U-boat lớn nhất từng được Hải quân Đức chế tạo trong Thế Chiến II.[8] Con tàu có chiều dài chung 89,80 m (294 ft 7 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 70,90 m (232 ft 7 in), mạn tàu rộng 9,20 m (30 ft 2 in), chiều cao 10,20 m (33 ft 6 in) và mớn nước 4,71 m (15 ft 5 in).[8]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F 46 A9PU siêu tăng áp 9-xy lanh 4 thì cung cấp công suất 4.800 PS (3.500 kW; 4.700 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,90 m (6,2 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 16,4–17 kn (30,4–31,5 km/h), và tầm hoạt động tối đa 18.450 nmi (34.170 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h).[8] Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện AEG GU 720/8-287 công suất 1.100 PS (810 kW; 1.100 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7 kn (13 km/h), và tầm hoạt động 93 nmi (172 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h).[8] Con tàu có khả năng lặn sâu đến 220 m (720 ft).[8]
Trong vai trò tàu ngầm rải mìn, thủy lôi SMA được chứa bên trong tàu bằng sáu ống thẳng đứng bố trí ở phía trước của thân tàu, có thể mang tối đa 18 quả mìn,[9] và thêm 48 quả mìn chứa trong 12 trục, bố trí trong các thùng chứa dạng yên ngựa hai bên mạn tàu. Sau này khi được sử dụng như tàu ngầm vận tải, các thùng chứa hàng được đặt trong trục rải mìn. Tàu ngầm Type XB chỉ có hai ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), tất cả được đặt ở phía đuôi tàu, và mang theo tối đa 15 quả ngư lôi.[10] Vũ khí trên boong chỉ có một hải pháo 10,5 cm (4,1 in) SK C/32 với 200 quả đạn.[5] Thủy thủ đoàn bao gồm 52 sĩ quan và thủy thủ.[8]
Chế tạo
U-119 được đặt hàng vào ngày 31 tháng 1[1] hoặc 7 tháng 8, 1939,[2] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Friedrich Krupp Germaniawerft ở Kiel vào ngày 15 tháng 5, 1940.[2] Nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 1, 1942,[2] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 15 tháng 4, 1942[2] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Alois Zech.[2]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 4, U-119 được điều sang Chi hạm đội U-boat 12 từ ngày 1 tháng 2, 1943 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[2]
Chuyến tuần tra thứ nhất
Vào đầu tháng 8, 1942, U-119 có chuyến đi ngắn khứ hồi giữa cảng Kiel, Đức và Frederikshavn, Đan Mạch.[6] Sau đó nó khởi hành từ Kiel vào ngày 6 tháng 2, 1943 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Con tàu đã tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua eo biển Đan Mạch giữa Iceland và Greenland để vòng qua phía Bắc quần đảo Anh, và hoạt động tại khu vực Trung tâm Bắc Đại Tây Dương. Ở vị trí về phía Tây Nam Iceland, nó đã rải một bãi 66 quả thủy lôi SMA ngoài khơi Reykjavík, Iceland vào ngày 20 tháng 2, nhưng đã không đánh chìm được mục tiêu nào. Nó kết thúc chuyến tuần tra và và đi đến cảng Lorient, bên bờ Đại Tây Dương của Pháp đã bị Đức chiếm đóng, đến nơi vào ngày 1 tháng 4.[11]
Chuyến tuần tra thứ hai – Bị mất
Dưới quyền chỉ huy của hạm trưởng mới, Đại úy Hải quân Horst-Tessen von Kameke, U-119 xuất phát từ cảng Lorient vào ngày 25 tháng 4 cho chuyến tuần tra thứ hai, cũng là chuyến cuối cùng. Chiếc tàu ngầm đã băng qua suốt Đại Tây Dương để hoạt động ngoài khơi bờ Đông của Canada và Hoa Kỳ. Trong chặng đi vào ngày 29 tháng 4, nó bị một thủy phi cơ Short Sunderland thuộc Liên đội 461 Không quân Hoàng gia Australia tấn công trong vịnh Biscay; chiếc tàu ngầm đã không bị hư hại, nhưng một thủy thủ đã thiệt mạng.[12]
Đến ngày 1 tháng 6 U-119 đã rải một bãi 66 quả thủy lôi SMA ngoài khơi Halifax, Nova Scotia, Canada.[12] Bãi thủy lôi này đã đánh chìm chiếc tàu buôn Panama Halma 2.937 GRT vào ngày 3 tháng 6,[13] và đến ngày 28 tháng 7 đã gây hư hại cho chiếc tàu Liberty Hoa Kỳ John A. Poor 7.176 GRT.[14]
Trong chặng quay trở về vào ngày 24 tháng 6, chiếc tàu ngầm bị tàu sà lúp HMS Starling của Hải quân Hoàng gia Anh bắn hải pháo và thả mìn sâu tấn công, rồi húc chìm trong vịnh Biscay về phía Tây Bắc mũi Ortegal, Tây Ban Nha, tại tọa độ 44°59′B 12°24′T / 44,983°B 12,4°T.[3][2] Toàn bộ 57 thành viên thủy thủ đoàn của U-119 đều đã tử trận.[2]
Tóm tắt chiến công
U-119 đã đánh chìm được một tàu buôn tải trọng 2.937 GRT, đồng thời gây hư hại cho một chiếc khác tải trọng 7.176 GRT:
| Ngày | Tên tàu | Quốc tịch | Tải trọng[Ghi chú 1] | Số phận[15] |
|---|---|---|---|---|
| 3 tháng 6, 1943 | Halma | 2.937 | Bị đánh chìm (mìn) | |
| 28 tháng 7, 1943 | John A. Poor | 7.176 | Bị hư hại (mìn) |
Xem thêm
Tham khảo
Ghi chú
- ↑ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.
Chú thích
- 1 2 3 Hofmann, Markus. "U 119". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type XB U-boat U-119". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 Kemp (1999), tr. 126.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 Helgason, Guðmundur. "Type XB". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Campbell (1985), tr. 248-249.
- 1 2 Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-119". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Williamson (2005), tr. 53.
- 1 2 3 4 5 6 Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 76-77.
- ↑ Williamson (2005), tr. 54.
- ↑ Gröner (1991), tr. 76-77.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-119 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-119 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Halma – Panamanian Motor merchant". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "John A. Poor – American Steam merchant". Ships hit by U-boats - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-119". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
Thư mục
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Campbell, John (1985). Naval Weapons of World War II. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-459-4.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1999). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1854095153.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
- Williamson, Gordon (2005). Wolf Pack: The Story of the U-boat in World War II. Osprey. ISBN 1841768723.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type XB boat U-119". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 119". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2025.