U-233 (tàu ngầm Đức)
Tàu ngầm U-233 sắp bị đánh chìm tại Bắc Đại Tây Dương, ngày 5 tháng 7 năm 1944 | |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | U-233 |
| Đặt hàng | 7 tháng 12, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Germaniawerft, Kiel |
| Số hiệu xưởng đóng tàu | 663 |
| Đặt lườn | 15 tháng 8, 1941 |
| Hạ thủy | 8 tháng 5, 1943 |
| Nhập biên chế | 22 tháng 9, 1943 |
| Tình trạng | Bị các tàu chiến Hải quân Hoa Kỳ đánh chìm trong Đại Tây Dương, 5 tháng 7, 1944 [1] |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu ngầm rải mìn |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | |
| Sườn ngang | |
| Chiều cao | 10,20 m (33 ft 6 in) [2] |
| Mớn nước | 4,71 m (15 ft 5 in) [2] |
| Công suất lắp đặt | |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | |
| Độ sâu thử nghiệm | 220 m (720 ft) [2] |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 5 sĩ quan, 47 thủy thủ |
| Vũ khí | |
| Thành tích phục vụ[1][4] | |
| Một phần của: |
|
| Mã nhận diện: | M 54 276 |
| Chỉ huy: |
|
| Chiến dịch: |
|
| Chiến thắng: | Không |
U-233 là một tàu ngầm rải mìn Lớp Type X được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1943, nó chỉ thực hiện được một chuyến tuần tra duy nhất và không đánh chìm được mục tiêu nào, trước khi bị các tàu hộ tống khu trục USS Baker (DE-190) và USS Thomas (DE-102) của Hải quân Hoa Kỳ thả mìn sâu, bắn hải pháo và húc chìm trong Đại Tây Dương ngoài khơi Halifax, Nova Scotia vào ngày 5 tháng 7, 1944.
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Tàu ngầm Type X nguyên được thiết kế đặc biệt để rải kiểu thủy lôi neo dưới đáy biển Schachtmine A (SMA).[5] Với trọng lượng choán nước lên đến 1.763 t (1.735 tấn Anh) khi nổi và 2.177 t (2.143 tấn Anh) khi lặn, chúng là những tàu U-boat lớn nhất từng được Hải quân Đức chế tạo trong Thế Chiến II.[6] Con tàu có chiều dài chung 89,80 m (294 ft 7 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 70,90 m (232 ft 7 in), mạn tàu rộng 9,20 m (30 ft 2 in), chiều cao 10,20 m (33 ft 6 in) và mớn nước 4,71 m (15 ft 5 in).[6]
Chúng trang bị hai động cơ diesel Germaniawerft F 46 A9PU siêu tăng áp 9-xy lanh 4 thì cung cấp công suất 4.800 PS (3.500 kW; 4.700 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,90 m (6,2 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 16,4–17 kn (30,4–31,5 km/h), và tầm hoạt động tối đa 18.450 nmi (34.170 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h).[6] Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện AEG GU 720/8-287 công suất 1.100 PS (810 kW; 1.100 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7 kn (13 km/h), và tầm hoạt động 93 nmi (172 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h).[6] Con tàu có khả năng lặn sâu đến 220 m (720 ft).[6]
Trong vai trò tàu ngầm rải mìn, thủy lôi SMA được chứa bên trong tàu bằng sáu ống thẳng đứng bố trí ở phía trước của thân tàu, có thể mang tối đa 18 quả mìn,[7] và thêm 48 quả mìn chứa trong 12 trục, bố trí trong các thùng chứa dạng yên ngựa hai bên mạn tàu. Sau này khi được sử dụng như tàu ngầm vận tải, các thùng chứa hàng được đặt trong trục rải mìn. Tàu ngầm Type XB chỉ có hai ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), tất cả được đặt ở phía đuôi tàu, và mang theo tối đa 15 quả ngư lôi.[6] Vũ khí trên boong chỉ có một hải pháo 10,5 cm (4,1 in) SK C/32 với 200 quả đạn.[3] Thủy thủ đoàn bao gồm 52 sĩ quan và thủy thủ.[6]
Chế tạo
U-233 được đặt hàng vào ngày 7 tháng 12, 1940,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Friedrich Krupp Germaniawerft ở Kiel vào ngày 15 tháng 8, 1941.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 5, 1943,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 22 tháng 9, 1943[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân Hans Steen.[1]
Lịch sử hoạt động
Sau khi hoàn tất việc huấn luyện trong thành phần Chi hạm đội U-boat 4, U-233 được điều sang Chi hạm đội U-boat 12 từ ngày 1 tháng 6, 1944 để hoạt động trên tuyến đầu cho đến khi bị mất.[1]
U-220 xuất phát từ cảng Kiel, Đức vào ngày 27 tháng 5, 1944 cho chuyến tuần tra duy nhất trong chiến tranh. Nó đã tiến ra Bắc Hải, rồi băng qua khe GI-UK giữa Iceland và quần đảo Faroe để vòng qua phía Bắc quần đảo Anh, rồi băng qua suốt Đại Tây Dương để hoạt động ngoài khơi bờ biển phía Đông của Canada và Hoa Kỳ,[8] với kế hoạch sẽ rải thủy lôi ngoài khơi cảng Halifax, Nova Scotia, Canada.[1]
Tuy nhiên tại khu vực này vào ngày 5 tháng 7, U-233 bị đội đặc nhiệm tìm-diệt tàu ngầm hình thành chung quanh tàu sân bay hộ tống USS Card (CVE-11) của Hải quân Hoa Kỳ phát hiện qua sonar.[9] Chiếc tàu ngầm bị tàu hộ tống khu trục USS Baker thả mìn sâu tấn công, và bị hư hại đến mức buộc phải trồi lên mặt nước, rồi tiếp tục bị tấn công bằng hải pháo. Cuối cùng nó bị tàu hộ tống khu trục USS Thomas (DE-102) húc chìm tại tọa độ 42°16′B 59°49′T / 42,267°B 59,817°T.[1][10]
32 thành viên thủy thủ đoàn của đã thiệt mạng trong cuộc đụng độ, và có 29 người sống sót được các tàu chiến Hoa Kỳ cứu vớt và bắt làm tù binh chiến tranh.[1] Đại úy Hans Steen hạm trưởng nằm trong số những người được cứu, nhưng ông qua đời do vết thương quá nặng vào ngày hôm sau.[11][12][13]
Xem thêm
Tham khảo
Chú thích
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Helgason, Guðmundur. "The Type XB U-boat U-233". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 Helgason, Guðmundur. "Type XB". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Campbell (1985), tr. 248-249.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-233". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Williamson (2005), tr. 53.
- 1 2 3 4 5 6 7 Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 76-77.
- ↑ Williamson (2005), tr. 54.
- ↑ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-233 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Seekrieg 1944, Juli". www.wlb-stuttgart.de. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Hofmann, Markus. "U 233 – U-Boot-Archiv Wiki". www.ubootarchiv.de. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Blair (2000), tr. 568.
- ↑ Kemp (2000), tr. 201.
- ↑ Niestlé (2014), tr. 145.
Thư mục
- Blair, Clay (2000). Hitler's U-Boat War: The Hunted, 1942-1945. New York: Modern Library. ISBN 0-679-64033-9.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
- Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
- Campbell, John (1985). Naval Weapons of World War II. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-459-4.
- Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
- Kemp, Paul (1999). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1854095153.
- Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
- Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
- Williamson, Gordon (2005). Wolf Pack: The Story of the U-boat in World War II. Osprey. ISBN 1841768723.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "The Type XB boat U-233". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- Hofmann, Markus. "U 233". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
- Tàu ngầm Type X
- Tàu ngầm của Hải quân Đức trong Thế Chiến II
- U-boat bị đánh chìm bởi va chạm
- U-boat bị tàu chiến Hoa Kỳ đánh chìm
- Xác tàu đắm trong Thế chiến II tại Đại Tây Dương
- Sự cố hàng hải năm 1944
- Tàu thủy năm 1943