Tân Cương, Thái Nguyên
Tân Cương | ||
|---|---|---|
| Xã | ||
Không gian văn hoá trà Tân Cương | ||
| Hành chính | ||
| Quốc gia | ||
| Vùng | Đông Bắc Bộ | |
| Tỉnh | Thái Nguyên | |
| Địa lý | ||
| Tọa độ: 21°32′22″B 105°46′30″Đ / 21,5394°B 105,7751°Đ | ||
| Diện tích | 40,7 km² | |
| Dân số (2025) | ||
| Tổng cộng | 25.525 người | |
| Mật độ | 627 người/km² | |
| Khác | ||
| Website | tancuong | |
Tân Cương là một xã thuộc tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Rừng tự nhiên bao phủ phần lớn địa bàn xã cho đến đầu thế kỷ 20. Địa phương có vùng chè đặc sản Tân Cương,[1] được nhiều người trong và ngoài nước biết đến.
Địa lý
Xã Tân Cương có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp các phường Tích Lương, Bách Quang và Bá Xuyên
- Phía tây giáp xã Đại Phúc
- Phía nam giáp các phường Phúc Thuận và Bá Xuyên
- Phía bắc giáp phường Quyết Thắng và xã Đại Phúc.
Xã Tân Cương có diện tích 40,7 km², dân số năm 2025 là 25.525 người. Khu vực được định hướng tập trung phát triển thương mại, dịch vụ, nhà ở sinh thái chất lượng cao, nghỉ dưỡng, thể dục thể thao cấp vùng; là khu vực tạo lập không gian liên kết (giao thông và không gian xanh) tại hồ Núi Cốc, sông Công, đồi chè Tân Cương với các khu dân cư đô thị mới; phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm. Hạ tầng giao thông trên địa bàn có các tuyến đường nội thị cùng với các tuyến tỉnh lộ 267, tỉnh lộ 262 kết nối với các khu vực lân cận.[2]
Địa hình xã Tân Cương cũ chủ yếu là gò đồi dạng bát úp, độ cao trung bình từ 30 m đến 100 m so với mực nước biển, có một số ngọn núi cao trên 200m thuộc dãy Mỏ Vàng, Con Phượng. Theo thời gian, cư dân khai phá phần lớn diện tích đất ven bờ sông Công, các con suối ở xung quanh núi Guộc thành những ruộng lúa, nương ngô, đồi chè. Thổ nhưỡng ở xã Tân Cương cũ chủ yếu là đất feralit vàng đỏ và đất phù sa do sông Công bồi đắp tích tụ lâu đời. Loại đất này thích hợp với trồng lúa, màu, cây công nghiệp, đặc biệt là cây chè. Xã Tân Cương cũ có sông Công, suối Đá và suối Cầu Tây. Nhờ có nguồn nước từ hồ Núi Cốc qua kênh đào chảy dọc xã nên diện tích cấy lúa hai vụ ở Tân Cương được tăng lên; cây chè có nước tưới rất thuận lợi cho việc sản xuất, nhất là chè vụ đông.[3]
Xưa kia, vùng đất Tân Cương cũ có diện tích rừng tự nhiên lớn; cuối thế kỷ XIX nơi đây vẫn là những cánh rừng nguyên sinh. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: lim, lát, sến, táu, và nhiều động vật hoang dã quý hiếm. Đến thế kỷ XX, nhất là từ sau năm 1954, người dân khai thác tài nguyên rừng nên diện tích rừng tự nhiên của Tân Cương ngày càng giảm và tài nguyên rừng dần cạn kiệt. Từ năm 1980, người dân Tân Cương chặt phá rừng để lấy đất trồng các loại lúa cạn, và rừng tự nhiên của xã bị mất hết chỉ hai năm sau. Từ năm 1989, các hộ dân được giao đất trồng lại rừng theo Dự án PAM 3352, Chương trình 327, Dự án 661 trồng 5 triệu ha rừng; từ đó, diện tích rừng của xã dần được phục hồi.[3]
Địa bàn xã Thịnh Đức cũ cũng chủ yếu là gò đồi dạng bát úp, độ cao trung bình từ 30 m đến 100 m so với mực nước biển, thíchhợp để trồng cây công nghiệp như chè, cây ăn quả và cây lấy gỗ. Trước đây, rừng tự nhiên của xã Thịnh Đức có diện tích khá lớn, nhưng đến nay đã giảm nhiều so với trước đây. Nhân dân được giao đất cho để trồng lại rừng, giúp tăng độ che phủ rừng. Xã Thịnh Đức cũ có sông Công, suối La Đà, suối Cầu Tây, suối Cầu Giai và hệ thống các hồ chứa nước như: hồ Ao Sen, hồ Đức Hòa, hồ Ao Miếu, hồ Đầu Phần. Trên địa bàn xã có Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, nghĩa trang Dốc Lim, nghĩa trang sinh thái An Lạc Viên, Ngân Hà Viên, Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc, sinh thái Thái Hải.[4]
Diện mạo của xã Bình Sơn cũ mang đặc trưng của vùng đất trung du, có độ cao trung bình khoảng 25 m so với mực nước biển. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của xã, chủ yếu là núi đất ở độ cao dưới 30 m, có độ mùn che phủ khoảng 10 cm. Suối Bình Định là suối lớn nhất, được tạo thành bởi các khe núi cao ở phía Tây Bắc của xã. Năm 1986, xã đắp đập chặn dòng suối này tại Ghềnh Chè tạo thành hồ chứa, có dung tích 2,4 triệu m³ nước, tưới cho hơn 340 ha lúa. Phần phía Đông tương đối bằng phẳng, nằm bên bờ sông Công, có những cánh đồng rộng. Nửa phần phía Tây có nhiều đồi gò, nhiều khe, suối, ít ruộng lúa nước. Từ đầu thế kỉ XX trở về trước, đất Bình Sơn chủ yếu là rừng tự nhiên, có nhiều loại gỗ và thú quý. Các bãi ven sông Công và những thung khe dưới các chân đồi đều là lau sậy rậm rạp, lầy thụt.[5]
Lịch sử
Năm 1926, vùng đất xã Y Na (cũ) chia thành năm xã: Y Na, Tân Cương, Thịnh Đức, Cương Lăng, Tân Thành. Trong đó, bốn xã Y Na, Tân Cương, Cương Lăng, Tân Thành thuộc tổng Thịnh Đán; xã Thịnh Đức thuộc tổng Túc Duyên; cả hai tổng đều thuộc huyện Động Hỷ.[3]
Dưới triều Nguyễn, xã Bình Sơn cũ bao gồm đất của xã Bá Vân (thuộc tổng Niệm Quang, huyện Đồng Hỷ) và xã Thản Đãng (thuộc tổng Thống Thượng, huyện Phổ Yên).[5]
Tháng 4 năm 1942, thực dân Pháp cơ bản hoàn thành xây dựng căng Bá Vân (camp, trại giam). Họ đưa về đây hơn 200 người, trong đó có 100 người từ Bắc Mê (Hà Giang) và hơn 100 người bị bắt ở Thái Nguyên và một vài tỉnh lân cận. Thành phần tù nhân khá phức tạp, số đông là đảng viên cộng sản và những thanh niên yêu nước.[5]
Đầu năm 1946, các xã Tân Cương, Thịnh Đức, Cương Lăng, Y Na nhập thành xã Đức Tân; các xã Bá Vân, Linh Sơn, Đông Hưng và Xuân Đãng nhập thành xã Bá Sơn. Năm 1951, xã Bá Sơn sáp nhập với xã Đức Tân thành xã Tân Cương. Cuối năm 1953, xã Tân Cương lại được tách ra thành ba xã là Tân Cương, Thịnh Đức và Bình Sơn.[3]
Năm 1973, Chính phủ triển khai xây dựng hệ thống công trình thủy lợi hồ Núi Cốc, có 40 hộ dân với khoảng 200 người của xã Tân Cương cũ phải di chuyển từ vùng lòng hồ đến khu vực Ba Vũng để tái định cư.[3]
Năm 1985, xã Tân Cương và Thịnh Đức tách khỏi huyện Đồng Hỷ để sáp nhập vào thành phố Thái Nguyên.[3] Trong khi đó, xã Bình Sơn được sáp nhập vào huyện Phổ Yên, một phần xóm Tân Sơn được chuyển sang xã Tân Cương.[5]
Năm 1999, xã Bình Sơn chuyển từ huyện Phổ Yên về thị xã Sông Công.[5]
Năm 2004, một phần của xã Thịnh Đức, phường Tân Thịnh và xã Thịnh Đán được hợp thành phường Thịnh Đán.[6]
Tháng 6 năm 2025, xã Tân Cương được thành lập trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Tân Cương (diện tích tự nhiên là 14,59 km²; dân số là 6.475 người); xã Thịnh Đức (diện tích tự nhiên là 16,15 km²; dân số là 9.213 người) của thành phố Thái Nguyên; xã Bình Sơn (diện tích tự nhiên là 27,18 km²; dân số là 9.837 người) của thành phố Sông Công. Trụ sở làm việc của xã nằm tại trụ sở xã Thịnh Đức cũ.[2]
Nhân khẩu

Vùng đất Tân Cương xưa kia là nơi dân cư thưa thớt. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp cho phép 89 gia đình lính đến xã Y Na lập 3 ấp di thực là: Tân Cương, Thịnh Đức, Tân Thành. Những năm từ 1930 đến 1945, do cuộc sống khó khănnên nhiều hộ nông dân nghèo khổ từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng di cư đến Thái Nguyên, trong đó khu vực Tân Cương để tìm kế sinh nhai, rồi định cư tại đây.[3]
Sau giảm tô, xã Tân Cương có 2.323 người; sau cải cách ruộng đất (tháng 1/1955), xã Tân Cương có 555 hộ, 2.310 người. Kết quả cuộc điều tra dân số năm 1973 cho thấy xã Tân Cương có 2.518 người. Cư trú trên địa bàn xã Tân Cương cũ có 11 dân tộc, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh với tỷ lệ 92,7%. Ở Tân Cương cũ có hai tôn giáo là đạo Phật và đạo Thiên chúa. Số người theo đạo Thiên chúa chiếm khoảng 35%; người quy theo đạo Phật chiếm khoảng 20%.[3]
Xã Thịnh Đức tại thời điểm năm 1953 có số dân 1.408 người.[4] Dân trong vùng xưa kia chủ yếu là dân tộc Sán Dìu, Sán Chay, về sau do quá trình di cư nên có thêm các dân tộc khác. Năm 1968, xã ThịnhĐức có dân số 2.271 người, gồm các dân tộc: Kinh 1.882 người, Nùng 477 người, Sán Dìu 81 người, Tày 20 người, Ngái 11 người. Năm 1985, khi chuyển về thành phố Thái Nguyên, toàn xã có 791 hộ với 3.999 ngƣời. Năm 2019, xã Thịnh Đức có 2.312 hộ với 8.707 nhân khẩu (gồm 4.337 nam và 4.370 nữ) thuộc 16 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh 6.480 người, Nùng 1.272 người, Sán Dìu 439 người, Tày 369 người còn lại 147 người là các dân tộc khác. Trên địa bàn xã có 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo với tổng số 455 tín đồ, chiếm 5,6% dân số.[4]
Vào thế kỷ XVIII, người Nùng và người Sán Chay từ phía bắc di cư đến xã Bình Sơn, nhưng họ không thể trụ lại và phải chuyển đến nơi khác. Trong 70 năm đầu thế kỷ 20, có các đợt di dân từ miền xuôi đến địa bàn xã Bình Sơn. Dân số xã Bình Sơn tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2005 có 7.740 người, đa số là dân tộc Kinh. Tuyệt đại bộ phận nhân dân trong xã giữ tục lệ thờ cúng tổ tiên.[5]
Trà Tân Cương
Ông Vũ Văn Hiệt (1883-1945) đã đưa hạt giống chè về trồng tại ấp Tân Cương. Do thổ nhưỡng ở Tân Cương phù hợp nên cây chè phát triển nhanh, giữa các luống chè đượctrồng xen canh khoai, sắn, đậu, lạc. Khi diện tích chè thu hoạch tăng lên, Vũ Văn Hiệt đãlấy nhãn hiệu “Con Hạc” để đặt tên cho sản phẩm chè của ông và mở hiệu bán buôn, bán lẻ trà ở khu vực Thái Nguyên, đồng thời bắt đầu quảng bá trà Tân Cương ra cả nước. Năm 1935, trà “Con Hạc” đoạt giải Nhất trong cuộc thi ở Đấu Xảo (Hà Nội), mở ra một thời kỳ phát triển mới cho cây chè Tân Cương. Sau cuộc thi, danh xưng “Tân Cương đệ nhất danh trà” được lan rộng.[3]
Thời kỳ đầu, sản xuất chè còn manh mún, việc thu hái, chế biến rất đơn giản, năng suất, sản lượng thấp. Đến thập niên 1970-1980, người trồng chè Tân Cương tăng mật độ cây chè để tăng năng suất và để chống xói mòn đất, và chuyển sang phương thức thâmcanh tăng vụ. Nông dân Tân Cương từng bước hoàn thiện phương pháp trồng vàchăm bón, cải tiến công cụ sản xuất. Việc thu hái chè đòi hỏi sự khéo léo, tỷ mỉ và đúng kỹ thuật, do vậy vẫn được tiến hành bằng phương pháp thủ công và chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm.[3]
Do trồng chè có thu nhập cao và ổn định nên nông dân Tân Cương chuyển đổi những diện tích cây trồng hiệu quả thấp sang trồng chè, vì vậy diện tích chè của xã tăng lên. Đến năm 2020, toàn xã có 349,8 hanchè; sản lượng ước đạt 1.000 tấn chè búp khô/năm. Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên trước đây từng tiến hành quy hoạch vùng chè đặc sản Tân Cương giai đoạn 2011-2015 bao gồm cácxã: Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân. Nhiều xóm của Tân Cương đã trở thành những làng nghề nổi tiếng về sản xuất, chế biến chè. Xã Tân Cương cũ có trên 95% số hộ làm nghề trồng chè.[3]
Hành chính
Đến cuối năm 2001, xã Tân Cương có 16 xóm là: Đội Cấn, Gò Pháo, Guộc, Hồng Thái I, Hồng Thái II, Y Na I, Y Na II, Lam Sơn, Nam Thái, Nam Hưng, Nam Đồng, Nam Tiến, Nam Tân, Nhà Thờ, Soi Vàng và Tân Thái. Năm 2020, xã Tân Cương sáp nhập xóm Y Na I với xóm Y Na II thành xóm Y Na; xóm Nam Tân với xóm Nam Đồng thành xóm Nam Đồng; xóm Nam Tiến với xóm Nam Hưng thành xóm Nam Hưng; xóm Nhà Thờ với xóm Guộc thành xóm Guộc.[3]
Đến năm 2019, xã Thịnh Đức có 25 xóm gồm: Tân Đức 1, Tân Đức 2, Ao Miếu, Ao Sen, Bến Đò, Cầu Đá, Cây Thị, Đà Tiến, Đầu Phần, Đồng Chanh, Đức Hòa, Hòa Bắc, Hợp Thành, Khánh Hòa, Lâm Trường, Làng Cả, Lò Gạch, Lượt I, Lượt II, xóm Mới, Mỹ Hào, Nhân Hòa, Phúc Hòa, Phúc Trìu, Xuân Thịnh. Từ năm 2020, xã Thịnh Đức tiến hành sáp nhập còn 12 xóm: Nhân Hòa, Phúc Hòa, Đức Hòa, Xóm Phú, Xóm Cừờng, Xóm Thịnh, Cương Lăng, Tân Đức, Xóm Lượt, Làng Mon, Đầu Phần.[4]
Trước năm 1999, xã Bình Sơn gồm các xóm: Bình Định, Tân Sơn, Tiền Tiến, Bá Vân, Long Vân, Đông Hưng, Xuân Đãng, Cây Lá, Linh Sơn, Phú Sơn, Phúc Sơn (gồm Kim Long, Khe Lim, Lát Đá). Sau năm 1999, xã được chia nhỏ thành 25 xóm.[5]
Chú thích
- ↑ Chè Tân Cương Thái Nguyên được bảo hộ chỉ dẫn địa lý: Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã quyết định cấp chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý "Tân Cương" cho sản phẩm chè Tân Cương (Thái Nguyên).
- 1 2 "Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Thái Nguyên (mới) năm 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 "Lịch sử Đảng bộ xã Tân Cương (1946 - 2020)". Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.
- 1 2 3 4 "Lịch sử Đảng bộ xã Thịnh Đức (1946 - 2020)". Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.
- 1 2 3 4 5 6 7 "Lịch sử Đảng bộ xã Bình Sơn (1946 - 2006)". Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.
- ↑ Nghị định 14/2004/NĐ-CP về việc thành lập phường Thịnh Đán và đổi tên xã Thịnh Đán thành xã Quyết Thắng thuộc thành phố Thái Nguyên