Tu chính án thứ 20 Hiến pháp Hoa Kỳ
| Hợp chúng quốc Hoa Kỳ |
Bài này là một phần trong loạt bài: |
| Văn bản gốc Hiến pháp Hoa Kỳ |
|---|
| Lời mở đầu Các điều khoản Hiến pháp |
| Các tu chính án Hiến pháp |
| Tuyên ngôn nhân quyền I ∙ II ∙ III ∙ IV ∙ V VI ∙ VII ∙ VIII ∙ IX ∙ X Các tu chính án sau |
Tu chính án thứ 20 của Hiến pháp Hoa Kỳ dời thời điểm bắt đầu và kết thúc nhiệm kỳ của tổng thống và phó tổng thống từ ngày 4 tháng 3 lên ngày 20 tháng 1 và của các nghị Quốc hội từ ngày 4 tháng 3 lên ngày 3 tháng 1, đồng thời quy định trình tự, thủ tục trong trường hợp không có tổng thống đắc cử. Tu chính án thứ 20 được ban hành vào ngày 23 tháng 1 năm 1933.[1]
Tu chính án thứ 20 rút ngắn thời gian chuyển tiếp tổng thống và giai đoạn "vịt què", là khoảng thời gian Quốc hội và tổng thống sắp mãn nhiệm làm nhiệm vụ trước khi hết nhiệm kỳ sau bầu cử. Tu chính án này quy định nhiệm kỳ của Quốc hội bắt đầu trước nhiệm kỳ của tổng thống và Quốc hội khóa mới, thay vì Quốc hội khóa cũ, tổ chức bầu cử tổng thống bất thường trong trường hợp Đại cử tri Đoàn không bầu được tổng thống hoặc phó tổng thống.
Toàn văn
Khoản 1. Nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng thống sẽ kết thúc vào đúng trưa ngày 20 tháng giêng, và nhiệm kỳ của các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ kết thúc vào đúng trưa của ngày 3 tháng giêng của năm mà những nhiệm kỳ trên sẽ kết thúc, nếu điều khoản này vẫn chưa được phê chuẩn và nhiệm kỳ của những người kế nhiệm họ sẽ bắt đầu từ thời điểm đó.
Khoản 2. Quốc hội sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và kỳ họp sẽ bắt đầu vào giữa trưa ngày 3 tháng giêng, trừ trường hợp họ có thể căn cứ vào luật để xác định một ngày khác.
Khoản 3. Nếu vào thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống đắc cử qua đời, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ trở thành Tổng thống. Nếu trước thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống chưa đắc cử hoặc Tổng thống đã đắc cử nhưng không đủ tư cách, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ đảm đương cương vị Tổng thống cho đến khi Tổng thống được xác định là có đủ tư cách. Quốc hội có thể căn cứ vào luật để quyết định về trường hợp khi cả Tổng thống đắc cử và Phó Tổng thống đắc cử đều không đủ điều kiện, tuyên bố ai sẽ đứng ra đảm đương quyền Tổng thống hoặc xác định cách thức để chọn người đảm đương chức vụ Tổng thống cho đến khi Tổng thống hay Phó Tổng thống có đủ tư cách.
Khoản 4. Quốc hội có thể căn cứ vào luật để quy định trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Hạ viện có thể chọn làm Tổng thống khi Hạ viện được trao quyền lựa chọn đó; và trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Thượng viện có thể chọn làm Phó Tổng thống khi Thượng viện được trao quyền lựa chọn đó.
Khoản 5. Khoản 1 và khoản 2 sẽ có hiệu lực bắt đầu vào ngày 15 tháng 10 sau khi điều khoản này được phê chuẩn.
Khoản 6. Điều này của Hiến pháp sẽ không có hiệu lực trừ phi được phê chuẩn như những tu chính án của Hiến pháp bởi cơ quan lập pháp của ba phần tư các tiểu bang trong 7 năm kể từ ngày được đệ trình.
Bối cảnh
Nguyên văn Hiến pháp Hoa Kỳ
Đoạn 2, Khoản 4, Điều Một Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Quốc hội mỗi năm họp ít nhất một kỳ. Kỳ họp của Quốc hội bắt đầu vào thứ Hai đầu tiên của tháng 12, trừ phi Quốc hội ấn định một ngày khác. Tổng thống có quyền triệu tập kỳ họp bất thường của Quốc hội.
Nguyên văn Hiến pháp quy định nhiệm kỳ của tổng thống, Hạ viện, Thượng viện, nhưng không xác định thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc nhiệm kỳ. Tháng 9 năm 1788, sau khi đủ chín tiểu bang cần thiết đã phê chuẩn Hiến pháp Hoa Kỳ, Quốc hội Hợp bang ấn định ngày 4 tháng 3 năm 1789 là ngày chính quyền liên bang mới đi vào hoạt động. Mặc dù cho đến tháng 4 Quốc hội và chính phủ mới chính thức hoạt động, ngày 4 tháng 3 trở thành ngày bắt đầu nhiệm kỳ của tổng thống, Quốc hội. Hiến pháp không quy định ngày bầu cử liên bang. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1792, Quốc hội thông qua luật quy định các đại cử tri tổng thống phải được bầu xong vào tháng 11 hoặc đầu tháng 12.[2] Năm 1845, Quốc hội khóa 28 xác định thời gian bổ nhiệm đại cử tri tổng thống và phó tổng thống tại mỗi tiểu bang là thứ Ba sau thứ Hai đầu tiên của tháng 11. Bầu cử Quốc hội thường được tổ chức vào cùng ngày.
Vấn đề
Hệ quả của lịch trình này là một khoảng thời gian vịt què kéo dài bốn tháng giữa cuộc bầu cử tổng thống và khi tổng thống mới nhậm chức. Tình hình đối với Quốc hội còn khó xử hơn vì Hiến pháp quy định Quốc hội mỗi năm họp vào tháng 12, nhưng trong trường hợp bầu Quốc hội khóa mới thì Quốc hội khóa mới phải đợi đến tháng 12 năm sau thì mới được họp, trong khi Quốc hội khóa cũ thì rơi vào tình trạng vịt què trong thời gian đợi hết nhiệm kỳ. Quốc hội đôi khi tổ chức kỳ họp đặc biệt sớm hơn trong năm, nhưng việc này chưa bao giờ trở thành thông lệ, mặc dù Hiến pháp cho phép. Trên thực tế, Quốc hội thường họp một kỳ họp dài bắt đầu vào tháng 12 vào những năm lẻ, và một kỳ họp ngắn vào tháng 12 vào những năm chẵn.[3]
Năm 1916, trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Tổng thống Woodrow Wilson lập một phương án nhằm tránh khoảng thời gian “vịt què” và cho phép Charles Evans Hughes, đối thủ thuộc Đảng Cộng hòa, nắm quyền tổng thống ngay lập tức nếu ông trúng cử. Phương án của Wilson là bổ nhiệm Hughes làm Bộ trưởng Ngoại trưởng, người đứng thứ hai trong thứ kế nhiệm tổng thống theo Luật Kế nhiệm tổng thống năm 1886, sau đó Wilson và Phó Tổng thống Thomas R. Marshall đều sẽ từ chức, cho phép Hughes giữ quyền tổng thống. Phương án này không được thực hiện vì Wilson tái cử tổng thống.[4]
Đề xuất và phê chuẩn
Tu chính án thứ 20, Cục Văn thư và Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ |
|---|
Quốc hội khóa 72 đề xuất Tu chính án thứ 20 vào ngày 2 tháng 3 năm 1932.[5] Tu chính án thứ 20 được ban hành vào ngày 23 tháng 1 năm 1933, sau khi 36 tiểu bang, chiếm ba phần tư trong số 48 tiểu bang khi đó của Hoa Kỳ, phê chuẩn tu chính án.
- Virginia: 4 tháng 3 năm 1932
- New York: 11 tháng 3 năm 1932
- Mississippi: 16 tháng 3 năm 1932
- Arkansas: 17 tháng 3 năm 1932
- Kentucky: 17 tháng 3 năm 1932
- New Jersey: 21 tháng 3 năm 1932
- South Carolina: 25 tháng 3 năm 1932
- Michigan: 31 tháng 3 năm 1932
- Maine: 1 tháng 4 năm 1932
- Rhode Island: 14 tháng 4 năm 1932
- Illinois: 21 tháng 4 năm 1932
- Louisiana: 22 tháng 6 năm 1932
- West Virginia: 30 tháng 7 năm 1932
- Pennsylvania: 11 tháng 8 năm 1932
- Indiana: 15 tháng 8 năm 1932
- Texas: 7 tháng 9 năm 1932
- Alabama: 13 tháng 9 năm 1932
- California: 4 tháng 1 năm 1933
- North Carolina: 5 tháng 1 năm 1933
- North Dakota: 9 tháng 1 năm 1933
- Minnesota: 12 tháng 1 năm 1933
- Arizona: 13 tháng 1 năm 1933
- Montana: 13 tháng 1 năm 1933
- Nebraska: 13 tháng 1 năm 1933
- Oklahoma: 13 tháng 1 năm 1933
- Kansas: 16 tháng 1 năm 1933
- Oregon: 16 tháng 1 năm 1933
- Delaware: 19 tháng 1 năm 1933
- Washington: 19 tháng 1 năm 1933
- Wyoming: 19 tháng 1 năm 1933
- Iowa: 20 tháng 1 năm 1933
- South Dakota: 20 tháng 1 năm 1933
- Tennessee: 20 tháng 1 năm 1933
- Idaho: 21 tháng 1 năm 1933
- New Mexico: 21 tháng 1 năm 1933
- Missouri: 23 tháng 1 năm 1933
Tu chính án được ban hành sau khi có đủ 36 trong số 48 tiểu bang phê chuẩn.[6] Sau đó, những tiểu bang sau phê chuẩn tu chính án: - Georgia: 23 tháng 1 năm 1933
- Ohio: 23 tháng 1 năm 1933
- Utah: 23 tháng 1 năm 1933
- Massachusetts: 24 tháng 1 năm 1933
- Wisconsin: 24 tháng 1 năm 1933
- Colorado: 24 tháng 1 năm 1933
- Nevada: 26 tháng 1 năm 1933
- Connecticut: 27 tháng 1 năm 1933
- New Hampshire: 31 tháng 1 năm 1933
- Vermont: 2 tháng 2 năm 1933
- Maryland: 24 tháng 3 năm 1933
- Florida: 26 tháng 4 năm 1933
Tác động
Khoản 1 Tu chính án thứ 20 quy định nhiệm kỳ của tổng thống và phó tổng thống sẽ bắt đầu và kết thúc vào trưa ngày 20 tháng 1, thay thế cho điều khoản trong Tu chính án thứ 12 quy định Hạ viện phải tiến hành bầu cử tổng thống bất thường vào ngày 4 tháng 3 trong trường hợp không có ứng cử viên tổng thống nào giành được quá nửa tổng số phiếu bầu trong Đại cử tri Đoàn.[7] Thời điểm mới rút ngắn khoảng thời gian giữa ngày bầu cử tổng thống và thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống khoảng sáu tuần.[8] Khoản 1 cũng quy định nhiệm kỳ của Thượng viện và Hạ viện bắt đầu và kết thúc vào trưa ngày 3 tháng 1, trước đó cũng là ngày 4 tháng 3.[9]
Khoản 2 dời ngày bắt đầu kỳ họp hàng năm của Quốc hội từ thứ Hai đầu tiên của tháng 12 sang trưa ngày 3 tháng 1 cùng năm, nhưng Quốc hội vẫn có quyền ấn định một thời điểm khác và tổng thống vẫn có thể triệu tập kỳ họp bất thường của Quốc hội. Thay đổi này loại bỏ tình trạng Quốc hội họp vịt què sau bầu cử Quốc hội khóa mới.[10] Trong trường hợp Đại cử tri Đoàn không bầu được tổng thống hoặc phó tổng thống thì Quốc hội khóa mới, thay vì Quốc hội khóa cũ, sẽ tiến hành bầu cử tổng thống bất thường.[7]
Khoản 3 điều chỉnh Tu chính án thứ 12 bằng cách xác định rằng nếu tổng thống đắc cử qua đời trước thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ thì phó tổng thống đắc cử sẽ trở thành tổng thống và giữ chức vụ trọn nhiệm kỳ bốn năm. Trong trường hợp chưa bầu được tổng thống hoặc tổng thống đắc cử không đủ tư cách trước thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ thì phó tổng thống đắc cử giữ quyền tổng thống cho đến khi tổng thống được bầu hoặc tổng thống đắc cử đủ tư cách; nguyên văn Hiến pháp không quy định về trường hợp Đại cử tri Đoàn bầu một người không đủ tư cách làm tổng thống.
Khoản 3 cũng cho phép Quốc hội quyết định người giữ quyền tổng thống nếu tổng thống và phó tổng thống mới chưa được bầu vào thời điểm nhậm chức. Căn cứ điều khoản này, Quốc hội bổ sung người đủ tư cách làm tổng thống mới có thể kế nhiệm tổng thống trong Luật Kế nhiệm tổng thống năm 1947.[11][12] Nguyên văn Hiến pháp không quy định về trường hợp này, suýt gây ra khủng hoảng hiến pháp trong hai lần: khi Hạ viện dường như không thể phá vỡ bế tắc cuộc bầu cử tổng thống năm 1800 và khi Quốc hội dường như không thể giải quyết cuộc bầu cử tổng thống năm 1876.[13][14]
Khoản 4 cho phép Quốc hội quy định về trường hợp Hạ viện phải bầu tổng thống và một trong những ứng cử viên mà Hạ viện có thể chọn qua đời và trường hợp Thượng viện phải bầu phó tổng thống và một trong những ứng cử viên mà Thượng viện có thể chọn qua đời. Tính đến năm 2025, Quốc hội chưa thông qua luật về những trường hợp này.[12][15]
Tham khảo
- ↑ "Constitution of the United States: Amendments 11-27". Archives.gov. ngày 4 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2020.
- ↑ The bill originally specified a thirty-day period for the states to choose their electors. Annals of Congress, House of Representatives, 2nd Congress, 1st Session, p. 278 Lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine
- ↑ Ackerman, Bruce (2005). The Failure of the Founding Fathers: Jefferson, Marshall, and the Rise of Presidential Democracy. The Belknap Press of Harvard University Press. tr. 119. ISBN 9780674018662.
- ↑ Jackson, Michael W. (ngày 22 tháng 10 năm 2013). "If Woodrow Wilson had lost the 1916 election". Political theory and practice: Thinking and doing. The University of Sydney, Australia. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Constitution of the United States of America: Analysis and Interpretation" (PDF). United States Government Printing Office, Library of Congress. ngày 26 tháng 8 năm 2017. tr. 3–44. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "'Lame Ducks' Doom Sealed"—Missouri Is 36th State To Ratify 20th Amendment To Constitution" Lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine, Pittsburgh Post-Gazette, January 24, 1933, p1
- 1 2 Whitaker, L. Paige; Neale, Thomas H. (ngày 5 tháng 11 năm 2004). "The Electoral College: An Overview and Analysis of Reform Proposals" (PDF). Congressional Research Service, The Library of Congress. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018 – qua University of North Texas Libraries Government Documents Department; UNT Digital Library. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "LPW20004THN" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ↑ Halchin, L. Elaine (ngày 17 tháng 5 năm 2017). "Presidential Transitions: Issues Involving Outgoing and Incoming Administrations" (PDF). Congressional Research Service, Library of Congress. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "The Significance of March 4". Secretary of the US Senate. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "The First Inauguration after the Lame Duck Amendment: January 20, 1937". Office of the Historian, US House of Representatives. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2018.
- ↑ Larson, Edward J.; Shesol, Jeff. "The Twentieth Amendment". The Interactive Constitution. The National Constitution Center. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018.
- 1 2 "The Continuity of the Presidency: The Second Report of the Continuity of Government Commission" (PDF). Preserving Our Institutions. Continuity of Government Commission. tháng 6 năm 2009. tr. 31. Bản gốc (PDF) lưu trữ tháng 3 4, 2016. Truy cập tháng 5 23, 2012 – qua WebCite."The Continuity of the Presidency: The Second Report of the Continuity of Government Commission" (PDF). Preserving Our Institutions. Washington, DC: Continuity of Government Commission. June 2009. p. 31. Archived from the original (PDF) on March 4, 2016. Retrieved May 23, 2012 – via WebCite. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "CoG2P" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ↑ Bomboy, Scott (ngày 11 tháng 8 năm 2017). "Five little-known men who almost became president". Constitution Daily. National Constitution Center. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018.
- ↑ Ackerman, Bruce (2005). The Failure of the Founding Fathers: Jefferson, Marshall, and the Rise of Presidential Democracy. The Belknap Press of Harvard University Press. tr. 77ff. ISBN 9780674018662.
- ↑ Kalt, Brian C. (ngày 26 tháng 10 năm 2017). "Of Death and Deadlocks: Section 4 of the Twentieth Amendment". Michigan State University College of Law: 18–19. SSRN 2635633.
