Thần học thịnh vượng

Thần học thịnh vượng (Prosperity theology) là một niềm tin trong một số Cơ Đốc nhân Ân tứ rằng phước hạnh tài chính và sự an khang thể chất luôn là ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho họ, và rằng đức tin, những lời xưng nhận Kinh Thánh tích cực, truyền cảm hứng cùng với việc quyên góp cho các mục đích từ thiện và tôn giáo sẽ làm gia tăng sự giàu có vật chất của mỗi một người.[1] Sự thành công về tài phú, vật chất đủ đầy và đặc biệt là phồn thịnh về tài chính được xem là một bằng chứng của ân điển hoặc ân huệ và phước hạnh từ thần thánh, và ở chiều ngược lại (nghèo khó, thanh bần) chính là biểu hiện của sự phán xét. Thần học thịnh vượng bị hầu hết tất cả các giáo phái Cơ Đốc khác coi là tà giáo và đã nhận nhiều chỉ trích từ phía các nhà lãnh đạo tinh thần của nhiều hệ phái Cơ Đốc, bao gồm cả các phong trào Ngũ Tuần và Ân tứ, những người khẳng định rằng giáo lý này là vô trách nhiệm, cổ xúy thờ ngẫu tượng, và đi ngược lại với Kinh Thánh.[2] Các nhà quan sát thế tục cũng như theo Cơ Đốc giáo cũng đã chỉ trích một số phiên bản của thần học thịnh vượng là mang tính bóc lột người nghèo. Các hoạt động thực hành của một số nhà truyền giáo đã vướng vào bê bối và một số người đã bị buộc tội gian lận tài chính. Thần học thịnh vượng hay thần học phồn thịnh đôi khi được gọi là phúc âm thịnh vượng, hay phúc âm sức khỏe và sự giàu có, hoặc phúc âm thành công, cũng như phúc âm hạt giống đức tin, hay phong trào Đức tin, hoặc phong trào Lời Đức tin.[3] Thần học thịnh vượng coi Kinh Thánh như một giao ước hợp đồng giữa Đức Chúa Trời và con người, theo đó nếu con người có đức tin nơi Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ ban sự an toàn và thịnh vượng.[4] Giáo lý này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự trao quyền cá nhân, cho rằng ý muốn của Đức Chúa Trời là để con người được ban phước để vui thỏa về vật chất. Sự đền tội thay (sự hòa giải với Đức Chúa Trời) được diễn giải là bao gồm cả việc giảm nhẹ bệnh tật và nghèo đói, những thứ được xem là các lời nguyền cần bị phá vỡ từ ân điển và đức tin. Theo nhà sử học Kate Bowler, phúc âm thịnh vượng được hình thành từ sự giao thoa của ba hệ tư tưởng khác nhau gồm Phong trào Ngũ Tuần, Tư tưởng Mới, và "một phúc âm của người Mỹ về chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và sự thăng tiến xã hội".[5]
Đại cương
Nguồn gốc thần học của Thần học thịnh vượng bắt đầu cùng với phong trào Tư tưởng Mới (New Thought) bắt đầu vào thế kỷ XIX. Giáo lý thịnh vượng sau đó đã đóng vai trò nổi bật trong phong trào Lời Đức tin (Word of Faith) và truyền giáo trên truyền hình những năm 1980. Vào những năm 1990 và 2000, nó đã được chấp nhận từ các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng trong phong trào Ngũ Tuần và phong trào Ân tứ tại Hoa Kỳ và đã lan rộng ra toàn thế giới. Các nhà lãnh đạo nổi bật trong sự phát triển của thần học thịnh vượng bao gồm David Oyedepo, Todd White, Michael Pitts, Benny Hinn, E. W. Kenyon,[6] Oral Roberts,[7] A. A. Allen,[8] Robert Tilton,[9] T. L. Osborn,[10] Joel Osteen, Creflo Dollar, Kenneth Copeland,[11] Reverend Ike,[12] Kenneth Hagin,[13] và Jesse Duplantis.[14] Trong các cuộc Phục hưng Chữa lành vào những năm 1950, thần học thịnh vượng mới lần đầu tiên trở nên nổi bật tại Hoa Kỳ. "Phúc âm Mỹ" này được minh họa rõ nét từ cuốn Phúc âm của sự giàu có của Andrew Carnegie và bài giảng Những cánh đồng kim cương của Russell Conwell (Acres of Diamonds/Acres là một mẫu), trong đó Conwell đánh đồng nghèo đói với tội lỗi và khẳng định rằng bất kỳ ai cũng có thể trở nên giàu có thông qua làm việc chăm chỉ. Tuy nhiên, phúc âm của sự giàu có này là biểu hiện và hiểu thành công là kết quả của nỗ lực cá nhân thay vì sự can thiệp của thần thánh.[15]
Phong trào "Xưng nhận Tích cực" hay "Lời Đức tin" này dạy rằng một Cơ Đốc nhân có đức tin có thể nói để gọi vào sự hiện hữu bất cứ điều gì phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời.[16] Kenneth Hagin được ghi nhận là có vai trò then chốt trong sự mở rộng của thần học thịnh vượng. Ông thành lập Trung tâm Huấn luyện Kinh Thánh RHEMA vào năm 1974, và trong 20 năm tiếp theo, trường đã đào tạo hơn 10.000 sinh viên về thần học của ông.[17] Phong trào Tân-Ngũ Tuần một phần được đặc trưng từ sự nhấn mạnh vào thần học thịnh vượng,[18] giáo lý đã được chấp nhận rộng rãi hơn trong Cơ Đốc giáo Ân tứ vào cuối những năm 1990.[19] Vào những năm 2000, các hội thánh Phúc Âm-Ngũ Tuần giảng dạy thần học thịnh vượng đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể ở các nước thuộc Nam Bán Cầu và Thế giới thứ ba.[20][21][22][23] Theo Philip Jenkins thuộc Pennsylvania State University, những công dân nghèo của các quốc gia bần cùng thường thấy giáo lý này hấp dẫn do sự yếu thế về mặt kinh tế của họ và việc giáo lý nhấn mạnh vào phép lạ.[24] Một khu vực đang chứng kiến sự bùng phát là Tây Phi, đặc biệt là Nigeria.[20][22] Tại Philippines, phong trào El Shaddai, một phần của Phong trào Cảnh tân Đặc sủng Công giáo đã lan truyền thần học thịnh vượng ra ngoài phạm vi Cơ Đốc giáo Kháng Cách.[25] Một hội thánh thịnh vượng ở Hàn Quốc, Nhà thờ Phúc âm Toàn vẹn Yoido đã thu hút sự chú ý vào những năm 1990 khi tuyên bố là hội chúng lớn nhất thế giới.[26]
Các nhân vật
Phần này không có nguồn tham khảo nào. |
Sự ảnh hưởng của các tác giả và diễn giả truyền cảm hứng làm giàu có nền tảng từ thần học thịnh vượng đã được lan rộng. Sự giao thoa giữa vai trò truyền giáo và hình ảnh của một diễn giả truyền cảm hứng giúp họ mở rộng tầm ảnh hưởng ra khỏi ranh giới của các giáo hội truyền thống, tiếp cận đại chúng thông qua những thông điệp hứa hẹn về sự giàu có và thành công cá nhân, sự ra mắt các bản dịch sách của những nhân vật đại diện như Joel Osteen hay Joyce Meyer trên thị trường xuất bản, mang theo thông điệp về tư duy tích cực, sự thịnh vượng và thành đạt cá nhân, những nguyên lý về sức mạnh tâm trí và quy luật hấp dẫn tài chính đã hòa tấu cùng trào lưu sách tự lực (self-help) đang thịnh hành, tạo ra một bộ phận độc giả tìm kiếm sự thăng tiến vật chất thông qua việc thực hành tư duy và ngôn từ. Tuy nhiên cũng có những chỉ trích về việc thương mại hóa niềm tin, cổ xúy chủ nghĩa vật chất, thực dụng và lối sống xa hoa, những lối suy nghĩ gieo rắc kỳ vọng quá mức, phớt lờ thực tế, khiến người đọc dễ rơi vào ảo tưởng hoặc tự trách bản thân nếu không thành công. Các nhân vật có thể kể đến như:
- Andrew Carnegie với tác phẩm Phúc âm của sự giàu có (The Gospel of Wealth)
- Russell Conwell với tác phẩm "Những cánh đồng kim cương" (Acres of Diamonds)
- Charles Fillmore
- E. W. Kenyon
- A. A. Allen
- Oral Roberts
- T. L. Osborn
- Reverend Ike
- Kenneth Hagin
- Kenneth Copeland
- Robert Tilton
- Benny Hinn
- Jim Bakker
- Creflo Dollar
- Joel Osteen với cuốn Your Best Life Now, được xuất bản tại Việt Nam dưới nhiều phiên bản tiêu đề khác nhau như "Sống trọn vẹn từng ngày" hoặc "Mỗi ngày là một ngày tuyệt vời".
- Bruce Wilkinson (và David Kopp) với tác phẩm Lời cầu nguyện của Gia-bê (The Prayer of Jabez)
- T. D. Jakes
- Joyce Meyer
- Paula White
- John Avanzini
- Jesse Duplantis
- David Oyedepo
- Matthew Ashimolowo
- Zig Ziglar với tác phẩm trứ danh See You at the Top (được dịch thuật với tựa đề Hẹn bạn trên đỉnh thành công)
- Rhonda Byrne với cuốn sách "Bí Mật" (The Secret)
- James Allen với tác phẩm "Khi người ta tư duy" (tên gốc: As a Man Thinketh)
- Florence Littauer với tác phẩm Dám ước mơ (Dare to Dream)
- Cho Yong-gi
Tham khảo
- Cohen, Benyamin (2009). My Jesus Year: A Rabbi's Son Wanders the Bible Belt in Search of His Own Faith. HarperOne. ISBN 978-0-061-24518-3.
- Mitchem, Stephanie Y. (2007). Name It and Claim It?: Prosperity Preaching in the Black Church. The Pilgrim Press. ISBN 978-0-8298-1709-6.
- Fortner, Michael D. (2011). The Prosperity Gospel Exposed; and Other False Doctrine. ISBN 978-1463737986.
- Balmer, Randall Herbert (2002). Encyclopedia of Evangelicalism. Westminster John Knox Press. ISBN 978-0-664-22409-7.
- Billingsley, Scott (2008). It's a New Day: Race and Gender in the Modern Charismatic Movement. University of Alabama Press. ISBN 978-0-8173-1606-8.
- Bowler, Kate (2013). Blessed: A History of the American Prosperity Gospel. Oxford University Press. ISBN 978-0199827695.
- Brown, Candy Gunther (2011). Global Pentecostal and Charismatic Healing. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-539341-5.
- Ciampa, Roy E.; Rosner, Brian S. (2010). The First Letter to the Corinthians. William B. Eerdmans Publishing Company. ISBN 978-0-8028-3732-5.
- Clifton, Shane (2009). Pentecostal Churches in Transition: Analysing the Developing Ecclesiology of the Assemblies of God in Australia. Global Pentecostal and Charismatic Studies. Quyển 3. Brill Academic Publishers. ISBN 978-90-04-17526-6.
- Coleman, Simon (2016). "The Prosperity Gospel: Debating Charisma, Controversy, and Capitalism". Trong Hunt, Stephen J. (biên tập). Handbook of Global Contemporary Christianity: Movements, Institutions, and Allegiance. Brill Handbooks on Contemporary Religion. Quyển 12. Leiden: Brill Publishers. tr. 276–296. doi:10.1163/9789004310780_014. ISBN 978-90-04-26539-4. ISSN 1874-6691.
- Coleman, Simon (2000). The Globalisation of Charismatic Christianity: Spreading the Gospel of Prosperity. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-66072-3.
- Elisha, Omri (2011). Moral Ambition: Mobilization and Social Outreach in Evangelical Megachurches. University of California Press. ISBN 978-0-520-26751-0.
- General Council of the Assemblies of God (1980). The Believer and Positive Confession (PDF). Assemblies of God. OCLC 15063312. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2012.
- Harrell, David Edwin (1975). All Things are Possible: the Healing & Charismatic Revivals in Modern America. Indiana University Press. ISBN 978-0-253-10090-0.
- Harris, Marvin (1981). America Now: the Anthropology of a Changing Culture. Simon & Schuster. ISBN 978-0-671-43148-8.
- Hughes, R. Kent (1989). Mark: Jesus, Servant and Savior. Quyển 2. Crossway Books. ISBN 978-0-89107-537-0.
- Hunt, Stephen (2000). "'Winning Ways': Globalisation and the Impact of the Health and Wealth Gospel". Journal of Contemporary Religion. 15 (3): 332. doi:10.1080/713676038. S2CID 145184658.
- Hwa, Yung (1997). Mangoes or bananas?: the Quest for an Authentic Asian Christian Theology. Regnum International. ISBN 978-1-870345-25-5.
- Jenkins, Philip (2006). The new Faces of Christianity: Believing the Bible in the Global South. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-530065-9.
- Jenkins, Philip (2011). The Next Christendom: The Coming of Global Christianity. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-976746-5.
- Jones, David; Woodbridge, Russell (2011). Health, Wealth & Happiness: Has the Prosperity Gospel Overshadowed the Gospel of Christ?. Kregel Publications. ISBN 978-0-8254-2930-9.
- Klassen, Michael J. (2009). Strange Fire, Holy Fire: Exploring the Highs and Lows of Your Charismatic Experience. Baker Publishing Group. ISBN 978-0-7642-0549-1.
- Lindberg, Carter (2010). The European Reformations (ấn bản thứ 2). Wiley-Blackwell. ISBN 978-1-4051-8067-2.
- Maddox, Marion (2012). Farhadian, Charles E. (biên tập). Introducing World Christianity. John Wiley & Sons. ISBN 978-1-4051-8248-5.
- McNeill, John T. (1954). The History and Character of Calvinism. London: Oxford University Press. tr. 222. ISBN 9780199727995.
- Patterson, Eric; Rybarczyk, Edmund John (2007). The Future of Pentecostalism in the United States. Lexington Books. ISBN 978-0-7391-2103-0.
- Poloma, Margaret (1989). The Assemblies of God at the Crossroads: Charisma and Institutional Dilemmas. University of Tennessee Press. ISBN 978-0-87049-607-3.
- Posner, Sarah; Conason, Joe (2008). God's Profits: Faith, Fraud, and the Republican Crusade for Values Voters. Polipoint Press. ISBN 978-0-9794822-1-2.
- Robins, R. G. (2010). Pentecostalism in America. ABC-CLIO. ISBN 978-0-313-35294-2.
- Robbins, Joel (2010). Allan Anderson (biên tập). Studying Global Pentecostalism: Theories and Methods. Michael Bergunder, André Droogers, and Cornelis van der Laan. University of California Press. ISBN 978-0-520-26662-9.
- Smith, James K. A. (2010). Thinking in Tongues: Pentecostal Contributions to Christian Philosophy. William B. Eerdmans Publishing. ISBN 978-0-8028-6184-9.
- Walton, Jonathan L. (2009). Watch This! The Ethics and Aesthetics of Black Televangelism. NYU Press. ISBN 978-0-8147-9417-3.
- Wiegele, Katharine L. (2005). Investing in Miracles: El Shaddai and the Transformation of Popular Catholicism in the Philippines. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-2861-5.
- Wilson, J. Matthew (2007). From Pews to Polling Places: Faith and Politics in the American Religious Mosaic. Georgetown University Press. ISBN 978-1-58901-172-4.
- Hill, Edward (2019). Prosperous Christian: 10 Commandments of Godly Prosperity. Pensacola: Best Seller Publishing. ISBN 978-1-949535-38-9.
- Lindsay, Gordon (1960). God's Master Key to Prosperity. Dallas: Christ for the Nations Institute. ISBN 978-0-89985-001-6.
- Osteen, Joel (2004). Your Best Life Now: 7 Steps to Living at Your Full Potential. New York: FaithWords. ISBN 978-0-446-53275-4.
- Roberts, Oral; Montgomery, G. H. (1966). God's Formula for Success and Prosperity. Tulsa: Abundant Life Publication. OCLC 4654539.
- Wilkinson, Bruce; Kopp, David (2000). The Prayer of Jabez: Breaking Through to the Blessed Life. Colorado Springs, CO: Multnomah Books. ISBN 978-1-57673-733-0.
- Ziglar, Zig (1975). See You at the Top. Gretna, La.: Pelican Pub. Co. ISBN 0-88289-126-X.
- Ziglar, Zig (2006). Better Than Good: Creating a Life You Can't Wait to Live. Nashville: Thomas Nelson Publishers. ISBN 978-0-7852-8919-7.
- Ziglar, Zig; Ziglar, Tom (2012). Born to Win: Find Your Success Code. Dallas: SUCCESS Media. ISBN 9780983156512.
Chú thích
- ↑ Wilson 2007, tr. 140–142.
- ↑ Coleman 2016, tr. 276–296.
- ↑ Devaka Premawardhana (tháng 5 năm 2012). "Transformational Tithing: Sacrifice and Reciprocity in a Neo-Pentecostal Church" (PDF). Nova Religio. 15 (4). University of California Press: 85–109. doi:10.1525/nr.2012.15.4.85. JSTOR 10.1525/nr.2012.15.4.85.
- ↑ Walton 2009, tr. 94.
- ↑ Bowler 2013, tr. 11.
- ↑ Bowler 2013, tr. 14–16.
- ↑ Coleman 2000, tr. 41.
- ↑ Robins 2010, tr. 85.
- ↑ Robins 2010, tr. 129.
- ↑ Harrell 1975, tr. 171.
- ↑ Coleman 2000, tr. 30.
- ↑ Harrell 1975, tr. 234–235.
- ↑ Brown 2011, tr. 152.
- ↑ Willingham, A. J. (ngày 30 tháng 5 năm 2018). "This televangelist is asking his followers to buy him a $54 million private jet". CNN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Bowler 2013, tr. 31–32.
- ↑ Robins 2010, tr. 131.
- ↑ Coleman 2000, tr. 29–30.
- ↑ Coleman 2000, tr. 23.
- ↑ Coleman 2000, tr. 27.
- 1 2 Smith, Daniel J. (tháng 3 năm 2021). "The Pentecostal prosperity gospel in Nigeria: Paradoxes of corruption and inequality". Journal of Modern African Studies. 59 (1). Cambridge: Cambridge University Press: 103–122. doi:10.1017/S0022278X2000066X. ISSN 1469-7777. LCCN 2001-227388. OCLC 48535892. PMC 10312994. PMID 37398918. S2CID 232223673.
- ↑ Haynes, Naomi (tháng 3 năm 2012). "Pentecostalism and the morality of money: Prosperity, inequality, and religious sociality on the Zambian Copperbelt" (PDF). Journal of the Royal Anthropological Institute. 18 (1). Wiley-Blackwell on behalf of the Royal Anthropological Institute: 123–139. doi:10.1111/j.1467-9655.2011.01734.x. ISSN 1467-9655. JSTOR 41350810. S2CID 142926682. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2021.
- 1 2 Jenkins 2011, tr. 99.
- ↑ Freston, Paul (2008). "The Changing Face of Christian Proselytization: New Actors from the Global South". Trong Hackett, Rosalind I. J. (biên tập). Proselytization Revisited: Rights Talk, Free Markets, and Culture Wars (ấn bản thứ 1). New York và London: Routledge. tr. 109–138. ISBN 9781845532284. LCCN 2007046731.
- ↑ Jenkins 2006, tr. 95.
- ↑ Wiegele 2005, tr. 7.
- ↑ Jenkins 2006, tr. 91.
- Tà giáo
- Cơ Đốc giáo