Soyuz-2.1v
| Soyuz‑2.1v | |
|---|---|
Soyuz‑2.1v chuẩn bị phóng vệ tinh quân sự Kosmos 2511 và 2512 vào tháng 12 2015 | |
| Chức năng | Tên lửa đẩy cỡ nhỏ |
| Hãng sản xuất | RKTs Progress |
| Quốc gia xuất xứ | Nga |
| Kích cỡ | |
| Chiều cao | 44 m (144 ft) |
| Đường kính | 3 m (9,8 ft) |
| Khối lượng | 158.000 kg (348.000 lb) |
| Tầng tên lửa | 2 |
| Sức tải | |
| Tải đến LEO | |
| Độ cao | 200 km (120 mi) |
| Độ nghiêng quỹ đạo | 51.8° |
| Khối lượng | 2.850 kg (6.280 lb) |
| Tải đến LEO | |
| Độ cao | 200 km (120 mi) |
| Độ nghiêng quỹ đạo | 62.8° |
| Khối lượng | 2.800 kg (6.200 lb) |
| Tên lửa liên quan | |
| Họ tên lửa | R-7 (Soyuz) |
| Dựa trên | Soyuz-2 |
| Các tên lửa tương đương | Long March 2C PSLV |
| Lịch sử | |
| Hiện tại | Ngừng hoạt động |
| Nơi phóng | Plesetsk, Site 43/4 |
| Tổng số lần phóng | 13 |
| Số lần phóng thành công | 12 |
| Số lần phóng khác | 1 |
| Ngày phóng đầu tiên | 28 tháng 12, 2013 |
| Tầng thứ nhất | |
| Chiều cao | 27,77 m (91,1 ft) |
| Đường kính | 2,95 m (9 ft 8 in) |
| Khối lượng | 11.000 kg (24.000 lb) |
| Khối lượng tổng | 129.000 kg (284.000 lb) |
| Cung cấp bởi |
|
| Lực đẩy tối đa |
|
| Xung lực riêng |
|
| Thời gian đốt | 225 giây |
| Nhiên liệu | LOX / RP-1 |
| Tầng thứ hai – Block I | |
| Chiều cao | 7,95 m (26,1 ft) |
| Đường kính | 3 m (9,8 ft) |
| Khối lượng | 2.380 kg (5.250 lb) |
| Khối lượng tổng | 25.380 kg (55.950 lb) |
| Cung cấp bởi | 1 × RD-0124 |
| Lực đẩy tối đa | 294 kN (66.000 lbf) |
| Xung lực riêng | 359 s (3,52 km/s) |
| Thời gian đốt | 275 giây |
| Nhiên liệu | LOX / RP-1 |
| Tầng thứ ba (tùy chọn) – Volga[1] | |
| Chiều cao | 1,025 m (3 ft 4,4 in) |
| Đường kính | 3,2 m (10 ft) |
| Khối lượng | 840 kg (1.850 lb) |
| Khối lượng nhiên liệu | 300–900 kg (660–1.980 lb) |
| Cung cấp bởi | 1 × 17D64[2] |
| Lực đẩy tối đa | 2,94 kN (660 lbf) |
| Xung lực riêng | 307 s (3,01 km/s) |
| Thời gian đốt | 410 giây |
| Nhiên liệu | N 2O 4 / UDMH |
Soyuz‑2.1v (tiếng Nga: Союз‑2.1в, n.đ. 'Liên hiệp‑2.1c',[a] mã định danh GRAU: 14A15) là một tên lửa đẩy hạng nhẹ dùng một lần của Nga, được phát triển như biến thể của dòng Soyuz-2 Điểm đáng chú ý là tên lửa này không sử dụng bốn tầng đẩy phụ gắn bên vốn là đặc trưng của các tên lửa thuộc họ R-7, khiến nó trở thành biến thể R-7 đầu tiên không có các tầng đẩy phụ này.
Tên lửa được phát triển bởi Trung tâm Tên lửa – Vũ trụ Tiến bộ (RKTs Progress) ở Samara; trong giai đoạn đầu, nó còn được biết đến với tên Soyuz-1. Các vụ phóng Soyuz-2.1v được thực hiện từ sân bay vũ trụ Plesetsk ở tây bắc Nga; ban đầu dự kiến sẽ có phóng từ sân bay vũ trụ Vostochny ở vùng Viễn Đông Nga[3] và từ sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan, nhưng cuối cùng không vụ phóng nào diễn ra tại hai địa điểm này.[4]
Thiết kế và cấu hình

Soyuz‑2.1v thể hiện một bước thay đổi đáng kể so với các cấu hình Soyuz trước đó. Không giống những biến thể tiền nhiệm, nó không sử dụng bốn tầng đẩy phụ. Thay vào đó, tầng lõi đơn được trang bị một động cơ NK-33, loại động cơ hiệu năng cao được chế tạo từ thập niên 1970 cho tên lửa N1 của Liên Xô. Do cấu hình cố định, tầng lõi còn sử dụng thêm động cơ vernier RD-0110R, gồm bốn buồng đốt có khả năng quay (gimbal) để điều khiển hướng bay và đồng thời cung cấp lực đẩy khoảng 230,5 kilônewtơn (51.800 lbf).[5]
Số lượng động cơ NK-33 còn lại khá hạn chế, nên đã có kế hoạch thay thế bằng RD-193, một động cơ mới hơn phát triển từ RD-191 của tên lửa Angara, mà bản thân RD-191 lại là biến thể của RD-170 dùng trên tên lửa Zenit. Tuy nhiên, đến nay việc chuyển đổi hoàn toàn sang RD-193 vẫn chưa diễn ra.[6]
Tầng hai của Soyuz-2.1v giống hệt tầng ba của Soyuz-2.1b, sử dụng một động cơ RD-0124. Phần lớn các nhiệm vụ còn dùng thêm tầng trên Volga, được phát triển từ hệ thống động lực của vệ tinh trinh sát Yantar. Volga là lựa chọn nhẹ hơn và tiết kiệm chi phí hơn so với tầng trên Fregat thường dùng trên các biến thể Soyuz-2 khác.
Soyuz-2.1v được tối ưu hóa cho các tải trọng nhỏ. Từ Baikonur, nó có thể đưa tối đa khoảng 2.850 kilôgam (6.280 lb) lên độ cao 200 km (120 mi) quỹ đạo Trái Đất thấp (LEO) ở độ nghiêng 51.8°, và khoảng 2.800 kilôgam (6.200 lb) lên cùng độ cao với độ nghiêng 62,8° khi phóng từ Plesetsk..[4][7]
Danh sách các lần phóng
| Chuyến bay | Ngày (UTC) | Bệ phóng | Tầng trên | Tải trọng | Quỹ đạo | Đáng chú ý | Kết quả |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 28 tháng 12, 2013 13:30 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Aist 1, SKRL-756 #1/2 | LEO | Chuyến bay đầu tiên của Soyuz 2.1v | Thành công |
| 2 | 5 tháng 12, 2015 15:08 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Kosmos 2511 & 2512 | LEO | Vệ tinh quan sát trái đất Hiệu chỉnh radar | Partial failure |
| 3 | 23 tháng 6, 2017 18:04 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Kosmos 2519 | LEO | Vệ tinh quân sự, trắc địa Nivelir | Thành công |
| 4 | 29 tháng 3, 2018 17:38 | Plesetsk, Site 43/4 | — | Kosmos 2525 (EMKA) | SSO | Vệ tinh quan sát trái đất | Thành công |
| 5 | 10 tháng 7, 2019 17:14 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Kosmos 2535 đến 2538 | LEO | Trắc địa | Thành công |
| 6 | 25 tháng 11, 2019 17:52 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Kosmos 2542 & 2543 | LEO | Kiểm tra vệ tinh | Thành công |
| 7 | 9 tháng 9, 2021 19:59 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Kosmos 2551 (EO MKA No. 1) | SSO | Vệ tinh trinh sát | Thành công |
| 8 | 1 tháng 8, 2022 20:25 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Kosmos 2558 (Nivelir No. 3) | Quỹ đạo cực | Vệ tinh trinh sát | Thành công |
| 9 | 21 tháng 10, 2022 19:20 | Plesetsk,Site 43/4 | Volga | Kosmos 2561 & 2562[8] | SSO | Vệ tinh trinh sát | Thành công |
| 10 | 29 tháng 3, 2023 19:57 | Plesetsk, Site 43/4 | — | Kosmos 2568 (EO MKA No. 4) | SSO | Vệ tinh trinh sát | Thành công |
| 11 | 27 tháng 12, 2023 07:03 | Plesetsk, Site 43/4 | — | Kosmos 2574 (Razbeg No. 1) | SSO | Vệ tinh trinh sát | Thành công |
| 12 | 9 tháng 2, 2024 07:03 | Plesetsk, Site 43/4 | — | Kosmos 2575 (Razbeg No. 2) | SSO | Vệ tinh trinh sát | Thành công |
| 13 | 5 tháng 2, 2025 03:59 | Plesetsk, Site 43/4 | Volga | Kosmos 2581-2583 (MKA B1-3) | Quỹ đạo cực | Chuyến bay cuối cùng của Soyuz 2.1v | Thành công |
Ghi chú
- ↑ Chữ cái thứ ba trong bảng chữ cái Kirin, «в» (ve), thường được chuyển tự thành “v”. Tuy nhiên, vì tên lửa này là biến thể thứ ba trong họ Soyuz-2, nên nếu dịch theo nghĩa thì hợp lý hơn là dùng chữ cái thứ ba trong bảng chữ cái Latinh, tức là “c”.
Tham khảo
- ↑ "Volga upper stage". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Soyuz-2-1 launches maiden mission from Vostochny". nasaspaceflight.com. ngày 27 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2016.
- ↑ Peslyak, Alexander (ngày 24 tháng 7 năm 2013). "Vostochny Cosmodrome clears the way to deep space". rbth.co.uk. Russia Beyond The Headlines. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013.
- 1 2 ""Soyuz-1" middle class launch vehicle". Samara Space Centre. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009.
- ↑ "Steering engine RD0110R (14D24) Carrier rocket "Soyuz-2.1v"" (bằng tiếng Russian). KBKhA. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "New engine for light rocket "Soyuz" prepare for mass production at the end of the year" (bằng tiếng Russian). Новости космонавтики. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Soyuz-2.1 B". ngày 10 tháng 11 năm 2014.
- ↑ "Ракета «Союз-2.1в» с секретными военными спутниками стартовала с космодрома Плесецк" [Soyuz-2.1v rocket with secret military satellites launched from Plesetsk cosmodrome] (bằng tiếng Nga). ngày 21 tháng 10 năm 2022.