Bước tới nội dung

Soyuz-2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Soyuz-2.1a)
Soyuz2 (2.1a / 2.1b)
Ở phía trên là một tên lửa Soyuz-2.1a mang tàu vũ trụ Soyuz MS-26 đến ISS, trong khi một bên là Soyuz-2.1a mang tàu tiếp tế Progress MS-12, và bên còn lại là Soyuz-2.1b phóng một cặp vệ tinh Ionosfera-M lên quỹ đạo.
Chức năngTên lửa đẩy hạng trung
Hãng sản xuấtRKTs Progress
Quốc gia xuất xứNga
Chi phí phóng35 triệu đô la Mỹ (2018, 2.1b không có tầng thứ tư)[1][2]
Kích cỡ
Chiều cao46,3 m (152 ft)[3]
Đường kính10,3 m (33 ft 10 in)
Khối lượng312.000 kg (688.000 lb)
Tầng tên lửa3 hoặc 4
Sức tải
Tải đến LEO
Độ cao240 km (150 mi)
Độ nghiêng quỹ đạo
  • 51.6° từ Baikonur và Vostochny
  • 72° từ Plesetsk
Khối lượng
  • From Baikonur:
  • A: 7.430 kg (16.380 lb)
  • B: 8.670 kg (19.110 lb)
  • From Plesetsk:
  • A: 6.800 kg (15.000 lb)
  • B: 7.730 kg (17.040 lb)
  • From Vostochny:
  • A: 7.460 kg (16.450 lb)
  • B: 8.600 kg (19.000 lb)
Tải đến Quỹ đạo cực
Độ cao240 km (150 mi)
Độ nghiêng quỹ đạo98°
Khối lượng
  • From Baikonur:
  • A: 5.830 kg (12.850 lb)
  • B: 7.030 kg (15.500 lb)
  • From Plesetsk:
  • A: 6.130 kg (13.510 lb)
  • B: 7.270 kg (16.030 lb)
  • From Vostochny:
  • A: 6.070 kg (13.380 lb)
  • B: 7.260 kg (16.010 lb)
Tải đến TLI[a]
Khối lượngB: 2.350 kg (5.180 lb)[2]
Tên lửa liên quan
Họ tên lửaR-7 (Soyuz)
Dựa trênSoyuz-FG
Phiên bảnSoyuz-ST
Soyuz-2.1v
Lịch sử
Hiện tạiĐang hoạt động
Nơi phóng
Tổng số lần phóng156 (A: 76, B: 80)
Số lần phóng thành công151 (A: 73, B: 78)
Số lần phóng thất bại4 (A: 2, B: 2)
Số lần phóng khác1 (A: 1, B: 0)
Ngày phóng đầu tiên
  • A: 8 tháng 11, 2004
  • B: 27 tahnsg 12, 2006
Các vật trong tên lửa
  • CoRoT
  • MetOp
  • GLONASS
  • Progress MS
  • Resurs-P
  • Arktika-M
  • Ionosfera-M
  • Meteor-M
  • Soyuz MS
  • OneWeb
Tầng tách (Tầng đầu tiên) – Block B, V, G & D[b]
No. boosters4
Chiều cao19,6 m (64 ft 4 in)
Đường kính2,68 m (8 ft 10 in)
Khối lượng3.784 kg (8.342 lb)
Khối lượng tổng44.413 kg (97.914 lb)
Khối lượng nhiên liệu
  • LOX: 27.900 kg (61.500 lb)
  • RP-1: 11.260 kg (24.820 lb)
Cung cấp bởi1×RD-107A
Lực đẩy tối đaSL: 838,5 kN (188.500 lbf)
vac: 1.021,3 kN (229.600 lbf)
Xung lực riêngSL: 262 s (2,57 km/s)
vac: 319 s (3,13 km/s)[4]
Thời gian đốt118 giây
Nhiên liệuLOX / RP-1
Tầng thứ hai (lõi) – Block A
Chiều cao27,1 m (88 ft 11 in)
Đường kính2,95 m (9 ft 8 in)
Khối lượng6.545 kg (14.429 lb)
Khối lượng tổng99.765 kg (219.944 lb)
Khối lượng nhiên liệu
  • LOX: 63.800 kg (140.700 lb)
  • RP-1: 26.300 kg (58.000 lb)
Cung cấp bởi1×RD-108A
Lực đẩy tối đaSL: 792,5 kN (178.200 lbf)
vac: 990,2 kN (222.600 lbf)
Xung lực riêngSL: 255 s (2,50 km/s)
vac: 319 s (3,13 km/s)[4]
Thời gian đốt286 giây
Nhiên liệuLOX / RP-1
Tầng thứ ba – Block I
Chiều cao6,7 m (22 ft 0 in)
Đường kính2,66 m (8 ft 9 in)
Khối lượng2.355 kg (5.192 lb)
Khối lượng tổng27.755 kg (61.189 lb)
Khối lượng nhiên liệu
  • LOX: 17.800 kg (39.200 lb)
  • RP-1: 7.600 kg (16.800 lb)
Cung cấp bởiA: 1×RD-0110
B: 1×RD-0124
Lực đẩy tối đaA: 298,03 kN (67.000 lbf)
B: 294,3 kN (66.200 lbf)[5]
Xung lực riêngA: 325 s (3,19 km/s)
B: 359 s (3,52 km/s)[6]
Thời gian đốtA: 250 giây
B: 270 giây
Nhiên liệuLOX / RP-1
Tầng Fourth (tùy chọn) – Fregat / Fregat-M[7]
Chiều caoFregat: 1,875 m (6 ft 1,8 in)
Fregat-M: 1,945 m (6 ft 4,6 in)
Đường kínhFregat: 3,44 m (11 ft 3 in)
Fregat-M: 3,8 m (12 ft 6 in)
Khối lượngFregat: 945 kg (2.083 lb)
Fregat-M: 1.035 kg (2.282 lb)
Khối lượng tổngFregat: 6.235 kg (13.746 lb)
Fregat-M: 7.640 kg (16.840 lb)
Khối lượng nhiên liệuFregat: 5.307 kg (11.700 lb)
Fregat-M: 6.650 kg (14.660 lb)
Cung cấp bởi1×S5.92
Lực đẩy tối đa13,93–19,85 kN (3.130–4.460 lbf)
Xung lực riêng320–333,2 s (3,14–3,27 km/s)
Thời gian đốtUp to 1,100 giây (up to 7 starts)
Nhiên liệuN
2
O
4
/ UDMH
Tầng Fourth (tùy chọn) – Volga[8]
Chiều cao1,025 m (3 ft 4,4 in)
Đường kính3,2 m (10 ft 6 in)
Khối lượng840 kg (1.850 lb)
Khối lượng nhiên liệu300–900 kg (660–1.980 lb)
Cung cấp bởi1×17D64[9]
Lực đẩy tối đa2,94 kN (660 lbf)
Xung lực riêng307 s (3,01 km/s)
Nhiên liệuN
2
O
4
/ UDMH

Soyuz2 (tiếng Nga: Союз2, n.đ.'Liên hiệp2'; mã đạnh danh GRAU: 14A14) là một tên lửa đẩy hạng trung dùng một lần của Nga và là thế hệ lớn thứ bảy trong họ tên lửa Soyuz. So với các phiên bản tiền nhiệm, Soyuz-2 được nâng cấp đáng kể, bao gồm động cơ cải tiến và hệ thống điều khiển bay số, cho phép phóng từ các bệ cố định và sử dụng chóp bảo vệ tải trọng có kích thước lớn hơn.

Được phát triển bởi Trung tâm Tên lửa – Không gian Progress (RKTs Progress) tại Samara, Soyuz-2 chủ yếu dùng để đưa tải trọng lên quỹ đạo Trái Đất thấp (LEO) trong cấu hình tiêu chuẩn, nhưng cũng có thể thực hiện các nhiệm vụ lên quỹ đạo cao hơn với tầng trên bổ sung, phổ biến nhất là tầng Fregat, ngoài ra còn có tầng Volga nhỏ hơn như một lựa chọn tiết kiệm chi phí. Kể từ khi được đưa vào sử dụng năm 2004, Soyuz-2 dần thay thế các biến thể Soyuz trước đó và được phóng từ các cơ sở vốn dùng cho những tên lửa dẫn xuất từ R-7 như bệ 31/6 tại Sân bay vũ trụ BaikonurKazakhstan, các bệ 43/3 và 43/4 tại Sân bay vũ trụ Plesetsk ở vùng tây bắc nước Nga, và từ năm 2016 là bệ 1S tại Sân bay vũ trụ Vostochny ở vùng viễn đông nước Nga.

Gia đình Soyuz-2 bao gồm nhiều biến thể. Mẫu cơ sở Soyuz-2.1a bay lần đầu ngày 8 tháng 11 năm 2004, tiếp theo là Soyuz-2.1b với tầng ba mạnh hơn khoảng 15% vào ngày 27 tháng 12 năm 2006. Một biến thể phái sinh khác là Soyuz-ST được giới thiệu năm 2011, với các điều chỉnh để vận hành tại Trung tâm Vũ trụ Guiana, bãi phóng của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) ở Guiana thuộc Pháp.

Lịch sử

Dự án Soyuz-2 được RKTs Progress khởi động với sự hỗ trợ của chính phủ Nga vào đầu thập niên 1990 dưới tên gọi chương trình “Rus”. Trong bối cảnh Liên Xô tan rã, chương trình này nhằm mục tiêu hợp nhất mạng lưới nhà thầu phụ cho tên lửa đẩy trong phạm vi Liên bang Nga và chuyển sang mô hình sản xuất hoàn toàn trong nước. Dự án sau đó phát triển thành Soyuz-2, đưa vào hàng loạt nâng cấp kỹ thuật để thay thế các biến thể đã lão hóa Soyuz-U (phục vụ từ năm 1973) và Molniya-M (từ năm 1965). Những mẫu trước đó vẫn dựa trên hệ thống dẫn đường, định vị và điều khiển dạng analog do Cục thiết kế chuyên dụng Polisvit của Ukraina phát triển từ thập niên 1960.[10] Nỗ lực hiện đại hóa cũng bao gồm việc nâng cấp động cơ, cho phép cải thiện hiệu năng nhờ các thiết kế mới mạnh hơn.[11]

Các nâng cấp của Soyuz-2 bao gồm hệ thống điều khiển bay hoàn toàn số, các động cơ RD-107A và RD-108A hiện đại hóa với hệ thống phun cải tiến cho cụm booster và tầng lõi, cùng động cơ tầng ba RD-0124 mới sử dụng chu trình đốt giàu oxy. Những cải tiến này nhằm tăng khả năng mang tải thêm khoảng 1.200 kilôgam (2.600 lb).[11]

Việc phát triển hệ thống điều khiển số bắt đầu từ năm 1993 tại NPO Avtomatiki ở Yekaterinburg. Hệ thống mới được trang bị ba bộ xử lý dự phòng và hai con quay hồi chuyển, nâng cao đáng kể độ tin cậy. Theo lời phó giám đốc NPO Avtomatiki, việc tham gia chương trình Soyuz-2 đã giúp “cứu sống” công ty.[11]

Tuy nhiên, tiến độ bị chậm lại do khủng hoảng tài chính trong ngành công nghiệp vũ trụ Nga cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000. Kết quả là kế hoạch nâng cấp được chia thành nhiều giai đoạn. Các động cơ RD-107A và RD-108A được đưa vào trước trong biến thể chuyển tiếp Soyuz-FG, vốn dựa trên Soyuz-U. Phần lớn các thay đổi thiết kế được tích hợp vào Soyuz-2.1a, trong khi việc phát triển RD-0124 bị trì hoãn và cuối cùng được áp dụng trên Soyuz-2.1b.[11]

Soyuz-2.1a thực hiện chuyến bay thử nghiệm cận quỹ đạo đầu tiên từ Sân bay vũ trụ Plesetsk vào ngày 8 tháng 11 năm 2004. Chuyến bay khai thác đầu tiên diễn ra vào tháng 10 năm 2006, khi nó phóng thành công vệ tinh MetOp-A cho ESA và EUMETSAT. Soyuz-2.1b, được trang bị tầng ba mới, bay lần đầu ngày 27 tháng 12 năm 2006. Theo thời gian, họ tên lửa Soyuz-2 đã thay thế các tiền bối: Molniya-M vào năm 2010,[12] Soyuz-U vào năm 2017 và Soyuz-FG vào năm 2019.[13][14]

Các phiên bản

Soyuz 2.1a

Tiến bộ quan trọng nhất của Soyuz2.1a là hệ thống điều khiển bay kỹ thuật số, thay thế bộ điều khiển analog được dùng trên các mẫu Soyuz trước đó.[2] Hệ thống kỹ thuật số cho phép điều chỉnh quỹ đạo trong khi bay, loại bỏ nhu cầu sử dụng các bệ phóng có khả năng quay. Hệ thống này cũng cho phép sử dụng các chóp bảo vệ tải trọng lớn hơn, nhờ đó có thể phóng những vệ tinh thương mại nặng hơn mà hệ thống tương tự cũ không xử lý được do mất ổn định khí động học do các chóp lớn gây ra.[15]

Tên lửa sử dụng các động cơ RD-107A (tầng đẩy bên) và RD-108A (tầng lõi) đã được nâng cấp, được phát triển cho Soyuz-2 nhưng lần đầu tiên bay trên Soyuz-FG, do tiến độ phát triển động cơ nhanh hơn các hạng mục nâng cấp khác của tên lửa.[16] Các động cơ này dùng hơn 1.000 kim phun đơn cấu phần, thay thế cho 260 kim phun ly tâm hai cấu phần trên RD-107/RD-108 đời trước, dẫn đến quá trình cháy hiệu quả hơn và tăng xung riêng khoảng 5 giây (0,049 km/s), tức khoảng 5%.[2][17][18]

Tầng ba vẫn sử dụng động cơ RD-0110, vốn đã được dùng trên phần lớn các biến thể Soyuz từ thập niên 1960, nhưng chuyển sang dùng kết cấu bình chứa nhiên liệu kiểu mới, dùng chung với Soyuz-2.1b, với các thùng nhiên liệu được mở rộng nhẹ. Khi kết hợp với hệ thống điều khiển bay kỹ thuật số nhẹ hơn nhưng mạnh hơn, những thay đổi này giúp tăng khả năng mang tải thêm khoảng 300 kilôgam (660 lb).[3][15][2]

Soyuz2.1a thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 8 tháng 11 năm 2004, phóng từ tổ hợp phóng 43 (Site 43) của sân bay vũ trụ Plesetsk, mang theo một tải trọng mô phỏng tái hiện một vệ tinh do thám Zenit-8.[2]

Soyuz 2.1b

Soyuz 2.1b giữ lại toàn bộ các nâng cấp của 2.1a và giới thiệu tầng ba mới sử dụng động cơ RD-0124. Động cơ này dùng chu trình đốt phân tầng giàu ôxy, làm tăng xung riêng từ 326 đến 359 giây (3,20 đến 3,52 km/s). Mặc dù lực đẩy cực đại giảm nhẹ từ 298 đến 294 kilônewtơn (67.000 đến 66.000 lbf), nhưng thời gian cháy được kéo dài thêm 20 giây với cùng lượng nhiên liệu, dẫn đến hiệu năng tổng thể cao hơn.

Tầng ba mới này tăng đáng kể khả năng mang tải trọng. Ví dụ, khả năng mang tải lên quxy đạo Trái Đất thấp từ Sân bay vũ trụ Baikonur tăng từ khoản 7.430 kilôgam (16.380 lb) đ 8.670 kilôgam (19.110 lb), khi so với 2.1a.[19][20]

Vụ phóng đầu tiên của Soyuz-2.1b được thực hiện từ tổ hợp phóng 43 tại Sân bay vũ trụ Plesetsk vào ngày 26 tháng 7 năm 2008, mang theo một tải trọng quân sự mật.[21]

Các sửa đổi cho Vostochny

Dòng tên lửa Soyuz-2 đã được chỉnh sửa riêng để phục vụ phóng từ Sân bay vũ trụ Vostochny, với mục tiêu cải thiện độ tin cậy, khả năng tương thích với hạ tầng mặt đất và độ an toàn:[22][23]

  • 'Tăng cường độ bền: Tên lửa được sửa đổi để có thể duy trì trạng thái nạp nhiên liệu trên bệ phóng tới 100 giờ và chịu được quá trình vận chuyển trên quãng đường lên tới 10.000 kilômét (6.200 mi) từ nhà máy chế tạo ở Samara tới vùng Viễn Đông Nga.
  • Thích nghi với lắp ráp theo phương thẳng đứng: Các thay đổi về kết cấu và hệ thống ống dẫn cho phép lắp ráp tải trọng theo phương thẳng đứng và xả an toàn lượng nhiên liệu dư ra bên ngoài Tháp Dịch vụ Di động, giảm thiểu sự tích tụ hơi oxy bên trong giàn phóng.
  • Máy tính nâng cấp: Hệ thống điều khiển mới có hiệu năng cao gấp sáu lần, khối lượng giảm và dây dẫn được đơn giản hóa nhờ sử dụng ghép kênh và bus dữ liệu dùng chung.[24][25][26]
  • Ắc-quy cải tiến: Các ắc-quy niken–cadimi mới loại bỏ nhu cầu phải có trạm nạp chuyên dụng.

Ngày 1 tháng 10 năm 2015, người ta phát hiện một số bộ phận của tổ hợp lắp ráp tại Vostochny đã được thiết kế cho một biến thể tên lửa khác, khiến một số kết cấu quá nhỏ để có thể chứa được Soyuz-2. Vấn đề này làm dấy lên nghi ngờ đối với kế hoạch thực hiện vụ phóng khai trương vào tháng 12 năm 2015.[27] Vụ phóng đầu tiên cuối cùng đã diễn ra thành công vào ngày 28 tháng 4 năm 2016.[28]

Các nhiệm vụ đáng chú ý

Bay thử nghiệm dưới quỹ đạo

Ngày 8 tháng 11 năm 2004, lúc 18:30 UTC, tên lửa Soyuz-2 đầu tiên, ở cấu hình Soyuz-2.1a, được phóng từ Sân bay vũ trụ Plesetsk (Nga). Tên lửa bay theo quỹ đạo dưới quỹ đạo, với tầng ba và mô hình thử nghiệm rơi xuống Thái Bình Dương.

Chuyến bay đầu tiên

Nỗ lực đầu tiên phóng một tên lửa Soyuz-2 lên quỹ đạo cùng vệ tinh MetOp-A diễn ra ngày 17 tháng 7 năm 2006. Vụ phóng bị hủy hai giờ trước thời điểm dự kiến do chuỗi điều khiển tự động dừng lại khi máy tính trên khoang không kiểm tra được góc phương vị phóng. Khi đó việc nạp nhiên liệu cho tên lửa đang diễn ra và toàn bộ thiết bị của tổ hợp phóng cùng các kiểm tra sơ bộ trên khoang đều không ghi nhận sự cố. Tên lửa được giữ nguyên trong trạng thái đã nạp nhiên liệu trên bệ phóng để chờ lần thử tiếp theo ngày 18 tháng 7 năm 2006. Vụ phóng cuối cùng được thực hiện vào ngày 19 tháng 10 năm 2006.

Chuyến bay có người lái đầu tiên

Vụ phóng có người lái đầu tiên của Soyuz-2 diễn ra ngày 9 tháng 4 năm 2020, đưa tàu Soyuz MS-16 lên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS).

Nhiên liệu naphthyl

Sau các thử nghiệm mặt đất thành công, một vụ phóng Soyuz-2.1b sử dụng nhiên liệu naphthyl (Russian: нафтил) đã diễn ra tại Vostochny vào ngày 22 tháng 10 năm 2022. Naphthyl là một loại nhiên liệu hydrocarbon thân thiện với môi trường, chứa ít hợp chất thơm hơn dầu hỏa, đồng thời cải thiện nhẹ hiệu năng của động cơ. Do chỉ có khác biệt nhỏ về các tính chất nhiệt, độ nhớt và sức căng bề mặt, loại nhiên liệu này không đòi hỏi thay đổi lớn đối với thiết kế động cơ.[29]

Thống kê phóng

Từ năm 2006, các tên lửa Soyuz-2 đã thực hiện tổng cộng 156 vụ phóng, trong đó 151 vụ thành công, tương ứng với tỷ lệ thành công khoảng 97%.

5
10
15
20
25
30
2006
2010
2015
2020
2025
  •   Thất bại
  •   Thất bại một phần
  •   Thành công
  •   Dự kiến

Các bãi phóng

5
10
15
20
25
30
2006
2010
2015
2020
2025
  •   Baikonur
  •   Plesetsk
  •   Vostochny

Các sứ mệnh vũ trụ

Ngày 8/10/2004, 18:30 UTC, tên lửa Soyuz-2.1a đã được phóng từ Trung tâm vũ trụ Plesetsk. Tên lửa đã bay dưới quỹ đạo, với tầng đẩy thứ 3 cùng với module hạ cánh thử nghiệm đã hồi quyển và rơi xuống Thái Bình Dương.

Tên lửa Soyuz 2 đã lần đầu đưa vệ tinh MetOp-A vào quỹ đạo ngày 17/7/2006, tên lửa không gặp trục trặc nào.

Soyuz-2 thực hiện đưa phi hành gia lên quỹ đạo vào ngày 9/4/2020 trên tàu vũ trụ Soyuz MS-16 lên ISS.

Tình trạng

Từ năm 2016, Soyuz-2 đã thực hiện tổng cộng 128 vụ phóng, với 121 lần phóng thành công, đạt tỉ lệ 94,5%.

Xem thêm

Ghi chú

  1. với tầng đẩy trên Fregat từ Baikonur
  2. This is a transliteration of the second through fifth letters of the Cyrillic alphabet (Б, В, Г, Д). The English translation is Block B, C, D & E.

Tham khảo

  1. "Russian launch service provider reveals cost of Soyuz-2.1 rocket launch". Russian Aviation. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
  2. 1 2 3 4 5 6 "The Soyuz-2 rocket series". RussianSpaceWeb.
  3. 1 2 "SOYUZ-2 Launch Vehicle/Power Characteristics". Progress State Research and Production Rocket Space Center. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015.
  4. 1 2 Soyuz at the Guiana Space Centre User's Manual Issue 2 (PDF). Arianespace. tháng 3 năm 2012. tr. 1–6. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2024.
  5. Zak, Anatoly (ngày 4 tháng 4 năm 2024). "RD-0124 engine". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2024.
  6. Soyuz at the Guiana Space Centre User's Manual Issue 1 (PDF). Arianespace. tháng 6 năm 2006. tr. 1–7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2024.
  7. "Multipurpose Fregat". Lavochkin Association (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2024.
  8. "Volga upper stage". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2016.
  9. "Soyuz 2-1 launches maiden mission from Vostochny | NASASpaceFlight.com". nasaspaceflight.com. ngày 27 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2016.
  10. "Системы управления ракет-носителей (Rus)". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
  11. 1 2 3 4 Zak, Anatoly (ngày 8 tháng 4 năm 2025). "Soyuz-2 launch vehicle (14A14)". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2025.
  12. Zak, Anatoly (ngày 30 tháng 9 năm 2010). "Last launch of the Molniya-M on 30 September 2010". RussianSpaceWeb.com.
  13. Zak, Anatoly (ngày 1 tháng 6 năm 2011). "Soyuz-2 to replace its predecessors". RussianSpaceWeb.com.
  14. "Alexander Kirilin: "We are working on three rocket"". Volzkhskaya Kommuna. ngày 1 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011.
  15. 1 2 "Soyuz User's Manual" (PDF). Starsem. tháng 4 năm 2001. tr. 24–25. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2024.
  16. Zak, Anatoly; Chabot, Alain (ngày 25 tháng 9 năm 2019). "Soyuz-FG". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2024.
  17. "ЖРД РД-107 и РД-108 и их модификации" [RD-107 and RD-108 and their modifications] (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2025.
  18. Zak, Anatoly (ngày 17 tháng 3 năm 2016). "Russia Lights Its Rockets With a Giant Match". Popular Mechanics (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2024.
  19. Zak, Anatoly. "Soyuz-2-1a launch vehicle". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2024.
  20. Zak, Anatoly. "Soyuz-2-1b launch vehicle". RussianSpaceWeb. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2024.
  21. Stephen Clark (ngày 26 tháng 7 năm 2008). "Soyuz 2-1b rocket launches classified military payload". Spaceflight Now. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014.
  22. В РКЦ «Прогресс» завершены испытания ракеты-носителя для первого запуска с «Восточного» [JSC SRC Progress completes testing on the launch vehicle for the first Vostochny launch] (bằng tiếng Nga). Progress State Research and Production Rocket Space Center. ngày 20 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015.
  23. Обновлённые «Союзы» для Восточного [Updated Soyuz for Vostochny] (bằng tiếng Nga). ngày 4 tháng 11 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015.
  24. «Союз-2» приспособят к запуску с «Восточного» [Soyuz-2 to be adapted to Vostochny] (bằng tiếng Nga). lenta.ru. ngày 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015.
  25. Системы управления ракет-носителей Союз-2, Союз-СТ, Союз-2-1В [Control systems of launch vehicles Soyuz-2, Soyuz-ST, Soyuz 2-1V] (bằng tiếng Nga). N.A.Semikhatov NPO Automatika. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015.
  26. V. M. Antimirov; A. B. Umansky; L. N. Shalimov (2013). Бортовые цифровые вычислительные системы семейства «Малахит» для работы в экстремальных условиях [Onboard digital computer systems of the "Malachite" family for extreme conditions.]. Vestnik Samara State Aerospace University (bằng tiếng Nga) (4 (42) UDC 629.7.05:004.3): 1. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015.[27]
  27. Размещение ракеты-носителя «Союз-2» на космодроме "Восточный" пока остается под вопросом [The placement of Soyuz-2 at Vostochny Cosmodrome remains under question] (bằng tiếng Nga). Radio Ekho Moskvy. ngày 1 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2015.
  28. Zak, Anatoly. "Soyuz historic first mission from Vostochny". Russian Space Web. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2016.
  29. Clark, Stephen (ngày 22 tháng 10 năm 2022). "Soyuz rocket launches with demo satellite for Russian internet constellation". Spaceflight Now. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2022.
  30. "SOYUZ-ST Launch Vehicle / Power Characteristics". Progress State Research and Production Rocket Space Center. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015.