Bước tới nội dung

Súng máy Maxim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Súng máyMaxim
Súng máy Maxim tại Bảo tàng Quốc gia Gruzia.
LoạiSúng máy hạng nặng
Nơi chế tạoVương quốc Anh
Lược sử hoạt động
Phục vụ1886–hiện tại
Sử dụng bởiXem § Các nước sử dụng
Lược sử chế tạo
Người thiết kếSir Hiram Stevens Maxim
Nhà sản xuấtXem § Các nhà sản xuất
Các biến thểXem § Các phiên bản và biến thể
Thông số
Khối lượng27,2 kg (59,97 lb)
Chiều dài1.079 mm (42,48 in)
Độ dài nòng673 mm (26,5 in)
Kíp chiến đấu4

Đạn
  • 6.5×58mm Vergueiro
  • 7×57mm Mauser
  • 7.62×54mmR
  • .30-06 Springfield
  • .303 British
  • 7.92×57mm Mauser
  • .577/450 Martini–Henry
Cơ cấu hoạt độngNạp đạn bằng độ giật
Tốc độ bắn550–600 viên/phút
Sơ tốc đầu nòng744 m/s (2.440 ft/s)
Chế độ nạpDây đạn vải canvas 250 viên
Ngắm bắnĐầu ruồi

Súng máy Maxim là loại súng máy hoạt động bằng độ giật được chế tạo vào năm 1884 bởi Hiram Stevens Maxim. Nó được coi là loại vũ khí liên thanh đầu tiên trên thế giới .[1]

Sử gia Martin Gilbert từng gọi súng Maxim là “vũ khí gắn liền nhất với các cuộc chinh phục thuộc địa”,[2] và nó được các cường quốc thực dân sử dụng rộng rãi trong thời kỳ “Tranh giành châu Phi”. Về sau, súng Maxim cũng được nhiều quân đội dùng với quy mô lớn trong Chiến tranh Nga–Nhật, Thế chiến I, Thế chiến II, cũng như trong các xung đột hiện đại.

Súng máy Maxim có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của súng máy, và có nhiều biến thể hậu duệ như Vickers, PM M1910MG 08. Một số biến thể vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, chẳng hạn trong chiến tranh Nga–Ukraina.

Thiết kế

Hình minh họa súng máy Maxim trong Từ điển Bách khoa Brockhaus và Efron, năm 1905.

Súng máy Maxim sở hữu một trong những hệ thống bắn vận hành bằng lực giật sớm nhất trong lịch sử. Năng lượng giật tác dụng lên khối khóa nòng được dùng để tống vỏ đạn đã bắn và nạp viên tiếp theo. Những thiết kế đầu tiên của Maxim dùng trục cam quay 360° để đảo chiều chuyển động của khối khóa, nhưng sau đó được đơn giản hóa thành cơ cấu bản lề. Nhờ vậy, nó hiệu quả hơn rất nhiều và ít tốn sức người so với các loại súng bắn nhanh vận hành thủ công trước đó, như Mitrailleuse (1851), Gatling (1861), Gardner (1874) hay Nordenfelt (1873) vốn phải quay tay

Súng máy Maxim được làm mát bằng nước, cho phép duy trì tốc độ bắn lâu hơn nhiều so với súng làm mát bằng không khí. Tuy nhiên, trọng lượng và độ phức tạp tăng thêm khiến nó nặng hơn và kém linh hoạt khi sử dụng.

Các cuộc thử nghiệm cho thấy súng Maxim có thể bắn 600 phát/phút (tương đương 60 lính bộ binh thời đó).[3][4] So với súng máy hiện đại, Maxim nặng, cồng kềnh và khó thao tác. Một người lính có thể bắn được, nhưng trên thực tế nó thường do tổ 4–6 người vận hành. Ngoài xạ thủ, các thành viên khác cần để nạp đạn nhanh, trinh sát/chỉ thị mục tiêu, và mang, chuẩn bị đạn dược cùng nước làm mát. Cũng cần vài người để di chuyển hoặc lắp đặt khẩu súng nặng này.

Công ty sản xuất

Năm 1884, Maxim bắt đầu phát triển súng máy của mình tại Hatton Garden, London.[5] Tháng 11 năm đó, ông thành lập Công ty Súng Maxim với nguồn tài chính từ Albert Vickers [la], con trai của nhà tư bản thép Edward Vickers. Edward Vickers.[5] Một tấm biển xanh (blue plaque) ghi dấu nơi Maxim sáng chế và sản xuất khẩu súng hiện được gắn tại Hatton Garden, ngay ngã giao với Clerkenwell Road ở London.

Albert Vickers trở thành chủ tịch của công ty, và sau đó công ty bắt tay với đối thủ Thụy Điển Nordenfelt, trở thành Maxim Nordenfelt Guns and Ammunition Company. Post Office Directory về các ngành nghề ở London năm 1895 ghi văn phòng của công ty tại 32 Victoria Street SW (London) ở trang 1579.

Cuối cùng, công ty được sáp nhập vào công ty mẹ Vickers, dẫn tới sự ra đời trước hết của súng Vickers-Maxim, rồi sau khi Vickers tái thiết kế, là súng máy Vickers.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử

Phát triển (1883–1884)

Các bằng sáng chế Anh đầu tiên của Maxim liên quan đến việc phát triển súng Maxim được cấp vào tháng 6 và tháng 7 năm 1883.[6][7] Nguyên mẫu đầu tiên được trình diễn cho các khách mời vào tháng 10 năm 1884.[8]

Sử dụng trong chiến tranh thuộc địa (1886–1914)

Một khẩu Maxim cỡ nòng lớn trên tàu USS Vixen, khoảng năm 1898.

Một nguyên mẫu súng Maxim đã được Hiram Maxim trao cho Đoàn cứu trợ Emin Pasha giai đoạn 1886–1890, do Henry Morton Stanley dẫn đầu. Theo nhà tài trợ chính của đoàn là William Mackinnon, đây mang tính chiêu tuyên truyền hơn là đóng góp quân sự nghiêm túc: chỉ cần “trưng bày” khẩu súng cũng đã “có thể trở thành một phương tiện gìn giữ hòa bình tuyệt vời”.[9] Vũ khí này đã được sử dụng vài lần, đặc biệt trong cuộc rút lui khỏi Trung Phi của đoàn, không phải vì sức hủy diệt, mà vì tác dụng hù dọa hiệu quả khiến kẻ tấn công chùn bước. Một trong những lần quân Anh dùng súng Maxim sớm nhất là trong Chiến dịch Yoni năm 1887.[10] Chính nguyên mẫu mà Stanley từng dùng sau đó được Frederick Lugard đưa trở lại Trung Phi, nơi nó đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập Lãnh thổ bảo hộ Uganda.[11]

Đơn vị đầu tiên trên thế giới nhận được súng máy Maxim là lực lượng viễn chinh do Hermann Wissmann chỉ huy, được Chính phủ Đế quốc Đức phái đi năm 1888 tới các thuộc địa ở Đông Phi để đàn áp cuộc nổi dậy Abushiri.[12] Wissmann được cấp một trong những khẩu Maxim đầu tiên về tới Đức và đã dùng thành công khi chiếm Pangani.[13]

Quân đoàn Tình nguyện Singapore (Singapore Volunteer Corps) nhận một khẩu Maxim vào năm 1889, nhưng chưa từng sử dụng. Đây là đơn vị phòng vệ tình nguyện dân sự của thuộc địa Anh.[14]

Súng Maxim lần đầu được dùng rộng rãi trong một xung đột ở châu Phi là Chiến tranh Matabele lần thứ nhất tại Rhodesia. Trong Trận Shangani ngày 25 tháng 10 năm 1893, 700 binh sĩ đã đánh lui 5.000 chiến binh Matabele chỉ với năm khẩu Maxim. Súng đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ “Tranh giành châu Phi” cuối thế kỷ 19. Hỏa lực sát thương cực lớn của nó đã được khai thác với hiệu quả tàn khốc trước chiến thuật xung phong lỗi thời, khi các đối thủ châu Phi có thể bị nhử vào những trận địa chiến trên địa hình trống trải. Như Hilaire Belloc đã viết (qua nhân vật “Blood” trong bài thơ The Modern Traveller):

Dù có thế nào, chúng ta vẫn đang có
Súng Maxim, còn họ thì không.[15]

Tuy nhiên, sức hủy diệt của súng Maxim trong các cuộc chiến thuộc địa thường bị thần thoại đại chúng phóng đại. Những nghiên cứu sử học hiện đại cho rằng, tuy súng hiệu quả trong các trận quyết chiến (như chiến tranh Matabele hay trận Omdurman), tầm quan trọng của nó phần nhiều đến từ tác động tâm lý.[cần dẫn nguồn]

Một biến thể cỡ lớn của Maxim, bắn đạn pháo nặng một pound, được Maxim–Nordenfelt chế tạo. Trong Chiến tranh Boer lần thứ hai (Nam Phi), loại này được gọi là “Pom-Pom” theo âm thanh khi bắn. Khẩu “one-pounder” Maxim–Nordenfelt của người Boer là một pháo tự động cỡ lớn, tiếp đạn bằng dây, làm mát bằng nước, bắn đạn nổ (thuốc phóng không khói) với tốc độ 450 phát/phút.[16][17]

Súng máy Maxim cũng được sử dụng trong Chiến tranh Anh–Aro (nay là Nigeria) giai đoạn 1901–1902.[18]

Giới chức chính phủ và quân đội ban đầu do dự khi tiếp nhận loại vũ khí này, và công ty của Maxim lúc đầu gặp khó khi thuyết phục các chính phủ châu Âu về hiệu quả của nó. Lính tráng nói chung rất ngại súng máy do dễ kẹt. Trong ấn bản năm 1906 cuốn Small Wars, Charles Callwell viết về súng máy: “Các kiểu cũ nói chung không phù hợp… chúng bị kẹt ở Ulundi, bị kẹt ở Dogali, bị kẹt ở Abu Klea và Tofrek, và đôi khi gây hậu quả đáng tiếc.”[19] Tuy vậy, Maxim vẫn đáng tin cậy hơn nhiều so với các mẫu cùng thời.[20] Một vấn đề trước mắt khác là, lúc đầu vị trí khẩu súng dễ bị lộ bởi đám mây khói nó tạo ra (dù pháo binh và đội hình bộ binh, những thứ súng máy dự định thay thế hoặc bổ trợ — cũng gặp tình trạng tương tự, nên người dùng sớm không coi đây là nhược điểm đặc biệt). Sự xuất hiện của thuốc phóng không khói (được phát triển bởi Hudson Maxim, anh trai của Hiram) đã thay đổi điều này.[cần dẫn nguồn]

Vũ khí này được Lục quân Anh tiếp nhận dưới sự chỉ đạo của Sir Garnet Wolseley, người được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh Lục quân Anh năm 1888. Tháng 10 năm đó, ông đặt mua 120 khẩu Maxim cỡ đạn súng trường[21] dùng cùng loại đạn .577/450 với súng trường Martini–Henry. Trước đó, Wolseley từng chỉ huy các chiến dịch ở châu Phi (chiến tranh Ashanti và Chiến dịch Giải cứu Gordon 1884–85) và có tiếng là người ủng hộ mạnh mẽ đổi mới – cải cách quân sự, điều ông đã thể hiện tại châu Phi. Ở đó, ông dùng súng máy, thử nghiệm các ý tưởng phi quy ước khác, và thành lập một đơn vị kỵ binh lạc đà Ai Cập.[cần dẫn nguồn]

Thiết kế của khẩu súng cũng được mua và sử dụng bởi nhiều nước châu Âu khác, như Áo–Hung, Ý, Thụy SĩNga.[4][22]

Tháng 1 năm 1899, ngay trước khi bùng nổ Chiến tranh Hoa Kỳ-Philippines, Philippines có 42 khẩu súng Maxim. Một người quan sát Anh từng thấy một trong số đó mô tả rằng khẩu súng này thuộc “loại tiên tiến nhất” thời bấy giờ.[23]

Sử dụng bởi Đế quốc Nga (1887–1917)

Một khẩu súng máy Maxim M1905 của Nga, lắp trên giá Sokolov M1909.

Hiram Maxim thực hiện một chuyến giới thiệu súng máy Maxim tại Nga vào năm 1887; dù màn trình diễn rất ấn tượng, Hải quân Đế quốc Nga chỉ đặt mua 12 khẩu.[22] Nhiều năm sau, vào 1896, Hải quân Đế quốc Nga quan tâm trở lại tới súng máy Maxim, dẫn tới một đơn hàng lớn từ Maxim Nordenfelt. Năm 1897, Maxim Nordenfelt bàn giao 179 khẩu, và tới 1904 con số này đã tăng lên gần 300.[22] Lục quân Đế quốc Nga mua 58 súng máy Maxim (dùng đạn 7.62×54mmR) từ DWM vào năm 1899, và ký hợp đồng với Vickers năm 1902 để chuyển giao sản xuất tại Nga. Dù một phần sản xuất đã khởi động năm 1905,[22] sản xuất hàng loạt chỉ bắt đầu từ 1910.[24]

Trong Chiến tranh Nga–Nhật 1904–1905, Lục quân Nga đã dùng súng Maxim trong chiến đấu[[25] và đặt gấp thêm 450 khẩu từ các nhà cung cấp nước ngoài; phần lớn đã được chuyển ra tiền tuyến trước khi chiến tranh kết thúc.[24]

Năm 1905, Xưởng vũ khí Tula bắt đầu sản xuất Maxim M1905, dựa trên mẫu thương mại Vickers–Maxim Model 1901. Năm 1908, giá Sokolov (đặt theo tên thiết kế—Đại tá Alexander A. Sokolov) được giới thiệu, có khiên che tháo lắp và cho phép tổ súng kéo cả súng lẫn giá. Giá Sokolov nhẹ hơn, khoảng 36–45 kg (79–99 lb), so với giá bánh lớn nặng khoảng 170 kg (370 lb).[22]

Mặt cắt ngang của khẩu Maxim M1905.

Maxim M1905vẫn được quân đội Nga sử dụng trong Thế chiến I, nhưng chủ yếu trang bị cho các đơn vị không ở tuyến đầu. Từng có kế hoạch nâng cấp Maxim M1905 lên chuẩn Maxim M1910 nhưng bị hủy khi chiến tranh nổ ra, nên chỉ một số ít khẩu được nâng cấp.[22]

Sử dụng bởi Thụy Sĩ (1894–1910)

Trong giai đoạn 1891–1894, Thụy Sĩ mua 72 súng máy hạng nặng, ký hiệu MG 94,[26] từ Maxim và Nordenfelt ở London.[27] Các vũ khí này được biên chế cho quân phòng thủ pháo đài[28] và quân sơn cước, và vẫn còn sử dụng đến năm 1944 với vai trò vũ khí dự phòng của Tiểu đoàn Lãnh thổ. MG 94 có điểm tựa phía trước và phía sau đặt trên đầu gối của xạ thủ: hai vòng da đệm ở hai bên hộp khóa nòng tựa lên đầu gối người bắn ngồi phía sau, cho phép quét hỏa lực dễ dàng. MG 94 ban đầu dùng đạn 7,5×53,5 mm GP 90, sau này với một số chỉnh sửa kỹ thuật nhỏ được chuyển đổi để bắn đạn mạnh hơn 7,5×55 mm GP 11. Có 6 khẩu MG 94 loại bỏ áo làm mát bằng nước, biến thành làm mát bằng không khí (không cần nước, nhẹ hơn) để dùng làm súng máy gắn máy bay; cả 6 khẩu làm mát bằng không khí này loại biên năm 1944. Ít nhất một khẩu MG 94 đã được chuyển sang làm mát bằng không khí để trang bị cho máy bay trinh sát Häfeli DH-1.[28]

Năm 1899, Thụy Sĩ mua 69 súng máy hạng nặng ký hiệu MG 00, chủ yếu từ Vickers, Sons & Maxim (London), về sau từ Deutsche Waffen und Munitionsfabriken (DWM). Các khẩu MG 00 dùng giá ba chân thiết kế cho kỵ binh, có ghế ngồi xạ thủ gắn vào thanh chống phía sau. MG 00 cũng dùng đạn 7,5×53,5 mm GP 90, và về sau được chuyển đổi để bắn 7,5×55 mm GP 11.[26][27][28]

Sử dụng bởi Hoa Kỳ

Ảnh tham chiếu một khẩu Maxim M1904
Binh sĩ Mỹ với súng máy M1904 trong đợt diễn tập ở Texas, 1911

Lục quân Hoa Kỳ đã bộc lộ sự quan tâm tới súng máy Maxim từ năm 1887. Các mẫu Model 1889 và Model 1900 được đưa vào thử nghiệm (kéo dài nhiều năm nhưng không liên tục). Cuối cùng, súng được tiếp nhận biên chế vào năm 1904 với tên Maxim Machine Gun, Caliber .30, Model of 1904, súng máy hạng nặng sử dụng cỡ đạn súng trường đầu tiên trang bị tiêu chuẩn cho Lục quân Mỹ. Thiết kế này nổi bật với bộ trợ giật miệng nòng dạng “lồng” (cage-like muzzle recoil booster)[29] thiết kế bởi Trevor Dawson và J. Ramsay của Vickers.[30]

50 khẩu súng đầu tiên cùng giá ba chân do Vickers, Sons & Maxim (Anh) chế tạo, bắn đạn .30-03. Colt được chọn sản xuất trong nước, nhưng trục trặc về bản vẽ và thông số làm chậm tiến độ. Đến khi Colt bắt đầu sản xuất vào 1908 (cũng là năm cuối đặt hàng), Vickers đã sản xuất tổng cộng 90 khẩu M1904. Colt chế tạo theo chuẩn đạn .30-06 mới, còn các khẩu do Vickers làm thì được chuyển cỡ buồng đạn để dùng loại đạn này. Tổng cộng 287 khẩu Maxim M1904 đã được sản xuất. Sau khi dừng M1904, Mỹ tiếp tục mua các súng máy khác như M1909 Benét–Mercié, Colt–Vickers M1915 và Browning M1917.

M1904 được biên chế cho đại đội bộ binh và kỵ binh. Mỗi đại đội có 4 khẩu súng, kèm giá ba chân, đạn dược, và 20 con la để vận chuyển trang bị nặng. M1904 được triển khai trong các chiến dịch ở Philippines, Hawaii, Mexico, và Trung/Mĩ La-tinh, nhưng ít khi tham chiến thực sự. Trong Thế chiến I, loại súng này chủ yếu ở lại Hoa Kỳ để huấn luyện.[31]

Thế chiến thứ nhất (1914–1918)

Đến Thế chiến I, nhiều quân đội đã chuyển sang các mẫu súng máy cải tiến hơn. Súng máy Vickers của Anh là phiên bản cải tiến và tái thiết kế từ Maxim, được đưa vào Lục quân Anh năm 1912 và phục vụ đến 1968. Việc sản xuất diễn ra tại Erith (Kent), và một số mẫu còn được lắp lên các máy bay hai tầng cánh đời đầu cũng chế tạo tại đây. Maschinengewehr 08 của Đức và Pulemyot Maxim của Nga về cơ bản đều là bản sao trực tiếp của Maxim.

Súng Maxim cũng được sử dụng trong Nội chiến Nga sau Cách mạng tháng Mười. Có bức ảnh thời kỳ này cho thấy một khẩu Maxim gắn trên “tachanka” — cỗ xe ngựa kéo với xạ thủ bắn về phía sau vào một đơn vị Bạch vệ đang truy đuổi. Những người theo chủ nghĩa vô chính phủ quy thuộc cấu hình cơ động này cho Nestor Makhno.

Extra Light Rifle Calibre Maxim

Extra Light Rifle Calibre Maxim
Extra Light Maxim M1895, phiên bản làm mát bằng không khí
LoạiSúng máy hạng trung
Nơi chế tạoVương quốc Anh
Lược sử hoạt động
Phục vụ1895–1900
Lược sử chế tạo
Người thiết kếSir Hiram Stevens Maxim
Năm thiết kế1895
Nhà sản xuấtVickers, Sons & Maxim
Số lượng chế tạo135
Thông số
Khối lượng
20,2 kg (44,53 lb)
(Súng hoàn chỉnh)
  • Thân súng:
    12,2 kg (26,9 lb)
  • Giá ba chân:
    8 kg (17,64 lb)
Kíp chiến đấu1

Đạn.303 British
Cơ cấu hoạt độngNạp đạn bằng độ giật
Tốc độ bắn400 viên/phút
Sơ tốc đầu nòng744 m/s (2.440 ft/s)
Chế độ nạpDây đạn vải 250 viên
Ngắm bắnĐầu ruồi

Bối cảnh

Năm 1890, một nhà phát minh Mỹ khác là John Browning thiết kế một loại súng máy nhẹ hơn nhiều, cơ động hơn, làm mát bằng không khí, vận hành bằng khí thuốc, và chào bán cho Colt’s Manufacturing Company. Bản thân khẩu súng chỉ nặng 40 lb (18,14 kg), nhưng để bắn vẫn cần một giá ba chân có trọng lượng tương tự. Mẫu này đi vào sản xuất hàng loạt với tên Colt–Browning M1895 (“Potato Digger”), và được Hải quân Hoa Kỳ tiếp nhận năm 1895.[32][33]

Năm 1895, đáp lại sự quan tâm dành cho Colt–Browning M1895 trong các thử nghiệm súng máy của Mỹ, Hiram Maxim giới thiệu mẫu Extra Light làm mát bằng không khí của riêng mình.[a] Đây là khẩu Maxim làm mát bằng không khí đầu tiên, đồng thời là mẫu đầu tiên có lò xo chính đặt trong vỏ khóa nòng.[34] Thời điểm đó, nó là súng máy nhẹ nhất thế giới và là súng máy hoàn chỉnh duy nhất có thể một người vác được.

Maxim kỳ vọng kỵ binh sẽ ưa chuộng Extra Light cho các đòn “đánh–rút” nhờ trọng lượng nhẹ. Thực tế, Hội đồng thử nghiệm của Mỹ đã đánh giá cao khả năng cơ động của nó. Tuy nhiên, do cơ chế làm mát bằng không khí khi ấy chưa được hiểu rõ, áo nòng bằng đồng dày chỉ có bốn lỗ thoát ở phía dưới,[34] khiến súng quá nhiệt rất nhanh. Chính Maxim ước tính không nên bắn quá 400 phát liên tục trước khi phải tạm dừng để làm mát.[35][36]

Tiếp nhận

Tuy Hiram Maxim đích thân tiến hành một chiến dịch quảng bá rầm rộ, khẩu Extra Light 1895 vẫn thất bại về thương mại và chỉ 135 khẩu được chế tạo; nhiều khẩu trong số này được bán lẻ từng chiếc hoặc theo cặp để thử nghiệm ở nhiều quốc gia.[35]

Các phiên bản và biến thể

Làm mát bằng nước

  • Súng máy Vickers: các mẫu Maxim đời đầu dùng các cỡ đạn phục vụ của Anh trước đó, nhưng Vickers làm cho xuất khẩu nên có nhiều cỡ nòng/loại đạn theo tiêu chuẩn các nước trên thế giới, gồm cả cỡ lớn .50 inch dùng trên tàu chiến Hải quân Hoàng gia. Súng nhẹ hơn 20 pound (~9 kg) và đã được Lục quân thử nghiệm năm 1909.[37]
  • Maschinengewehr 01, sản xuất bởi Deutsche Waffen und Munitionsfabriken (DWM)
  • MG 08 phiên bản sửa đổi từ MG 01
    • Bản xuất khẩu của nó là “DWM 1909”, dùng giá ba chân hải quân kiểu MG 08 thay cho giá trượt
    • Các biến thể nội địa của Đức (ví dụ MG 08/15).
    • Súng máy hạng nặng Type 24, biến thể của Trung Quốc dựa trên DWM 1909.`
  • Maschinengewehr System Maxim Ord 1894 (Thụy Sĩ), sử dụng cỡ đạn 7,5 mm GP11.
  • Pulemyot Maxima obr. 1910 của Nga/ Liên Xô
  • Maxim M09/21 và Maxim M/32-33 (Phần Lan).
  • M1904 (Hoa Kỳ).

Làm mát bằng không khí

  • Extra Light Rifle Calibre Maxim
  • Maxim–Tokarev và PV-1

Các nhà sản xuất

MG 08 của Đức
Các nhà sản xuất chính
Maxim Nordenfelt (1888–1897)
Vickers, Sons & Maxim (1897–1911)
Vickers Limited (1911–1927)
Vickers-Armstrongs (1927–1940s)
Other manufacturers
Deutsche Waffen und Munitionsfabriken (1896–1918)
Nhà máy vũ khí Tula
Tikkakoski (1924–1944)
Valtion Kivääritehdas (1933–1944)
Waffenfabrik Bern (1911–1946)

Các nước sử dụng

Các chiến binh Vệ binh Đỏ với súng máy Maxim trong Trận Helsinki thuộc Nội chiến Phần Lan.
  •  Phần Lan[22]
  •  Pháp
  •  Đức
  •  Đức
  •  Hungary
  •  Ý
  •  Nhật Bản − Năm 1895, Lục quân Đế quốc Nhật Bản mua một số súng Maxim và tiến hành thử nghiệm trong chiến dịch xâm lược Đài Loan năm 1895.[40]
  •  Montenegro — Đến năm 1912, lục quân có 12 khẩu Maxim; trong các cuộc chiến Balkan, họ đặt mua thêm 50 khẩu, nhưng không rõ liệu số này có kịp được bàn giao hay không.[41]
  •  România
  •  Serbia
  •  Đế quốc Đại Hàn
  •  Latvia[42]
  •  Mexico
  •  Nicaragua − Được sử dụng trong Trận Namasique năm 1907 chống lại lực lượng của Tướng Honduras Manuel Bonilla.[43][44]
  •  New Zealand − Sáu khẩu Maxim cỡ .577/450 gắn trên xe pháo Field Carriage Mk I được mua năm 1896; sau 1899 chúng được chuyển cỡ sang .303 British. Hai trong số này đã tham gia Cuộc chiến Thuế Chó (Dog Tax War).29 khẩu cỡ .303 được mua từ Vickers Sons & Maxim vào 1901, gắn trên xe kéo Dundonald Galloping Carriages. Đến 1910, 36 khẩu khác được đặt hàng kèm giá ba chân Mk IV với bộ yên thồ và quân nhu, nhưng chỉ tới năm 1913 mới về. Khi giá ba chân đến, các xe kéo bị tháo bỏ. Tuy nhiên, ban đầu do chậm trễ trong việc chuyển đổi súng sang lắp trên giá ba chân, mỗi trong 29 trung đoàn chỉ được biên chế một khẩu. Kỵ binh New Zealand đã lập một Đại đội Súng Maxim với súng do Anh cấp trong Chiến tranh Boer. Lực lượng New Zealand bước vào Thế chiến I với các súng Maxim đời cũ và 36 khẩu mới.[45][46]
  •  CHDCND Triều Tiên
  •  Đế quốc Ottoman
  •  Ba Tư
  •  Paraguay
  •  Cộng hòa Philippines
  •  Ba Lan
  •  Portugal − Súng máy hạng nặng Maxim m/906; được Lục quân Bồ Đào Nha tiếp nhận năm 1906, dùng đạn 6,5×58 mm Vergueiro.[47]
  • Qajar Dynasty − Trong thập niên 1890, có một khẩu đội gồm bốn khẩu. Cũng được sử dụng trong Cuộc Cách mạng Hiến pháp.[48]
  •  Trung Quốc
  •  România − Biến thể cỡ 6,5 mm sản xuất tại Romania; ít nhất 8–12 khẩu được chế tạo và được Hải đội Danube của Romania sử dụng trong Thế chiến I.[49]
  •  Nga[50]
  •  Liên Xô
  •  Spain (2nd Republic)
  •  Thụy Sĩ
  •  Ukraina[51][52][53]
  •  Anh Quốc
  •  Hoa Kỳ

Ảnh


Ghi chú

  1. Chỉ nặng 27 lb (12,25 kg) khi không có giá và 44,5 lb (20,18 kg) với giá ba chân.

Tài liệu tham khảo

Trích dẫn

  1. Encyclopædia Britannica: "Sir Hiram Stevens Maxim"
  2. Gilbert 1997, tr. 11.
  3. Stevenson 2004, tr. 8.
  4. 1 2 Willbanks 2004, tr. 46–50.
  5. 1 2 Pegler 2013, tr. 15–17.
  6. McCallum 1999, tr. 46.
  7. Đăng ký phát minh US 317161, "Machine-gun", trao vào 1885-05-05, chủ sở hữu Albert Vickers và Robert R. Symon
  8. McCallum 1999, tr. 49.
  9. Iain R. Smith: The Emin Pasha Relief Expedition, p. 86.
  10. "The Yoni Campaign". www.kaiserscross.com. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
  11. Blaabjerg, Morten (2007), Uhyret der sagde puh! puh! Maxim maskingeværets logistik i det mørkeste Afrika, fra Gordons fald til slaget ved Omdurman 1885–1898 (bằng tiếng Đan Mạch), University of Southern Denmark
  12. G. Richelmann, Schaffung der Wissmanntruppe; in: Becker, Perbandt, Richelmann, Schmidt, Steuber: Hermann von Wissmann, Deutschlands grösster Afrikaner, Berlin 1907, p. 191, online at archive.org
  13. Richelmann p. 236
  14. "Singapore Volunteer Corps | Infopedia". eresources.nlb.gov.sg. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2022.
  15. "The Modern Traveller". colonialwargaming.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2008.
  16. Rob Krott (tháng 1 năm 2002). "South Africa's National Museum Of Military History". Small Arms Review.
  17. Pegler 2013, tr. 57.
  18. Encyclopedia of African colonial conflicts. Timothy J. Stapleton. Santa Barbara, Calif. 2017. ISBN 978-1-59884-837-3. OCLC 950611553.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  19. Callwell 1990, tr. 440.
  20. Small Wars. 1906. Callwell, p. 559.
  21. McCallum 1999, tr. 67.
  22. 1 2 3 4 5 6 7 7,62 mm Maxim guns (jaegerplatoon.net).
  23. Sheridan, Richard Brinsley (1900). The Filipino Martyrs: a story of the crime of February 4, 1899 (bằng tiếng Anh). The Bodley Head. tr. 133, 153.
  24. 1 2 Kowner 2006, tr. 225.
  25. Gilbert 1997, tr. 93.
  26. 1 2 "Von 1872 bis nach dem Ersten Weltkrieg" [From 1872 until after the First World War] (PDF). www.armeemuseum.ch (bằng tiếng Đức).
  27. 1 2 "The Swiss MG11 Maxim Machine Gun – Small Arms Defense Journal".
  28. 1 2 3 "Sammlung Maschinengewehre und leichte Fliegerabwehr" [Collection of machine guns and light anti-aircraft weapons] (PDF). www.armeemuseum.ch (bằng tiếng Đức). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011.
  29. "U.S. Maxim Model 1904". tháng 2 năm 2004.
  30. Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 870.497A
  31. U.S. Maxim Model 1904 – SAdefensejournal.com, 15 August 2013.
  32. Willbanks 2004, tr. 52.
  33. Willbanks 2004, tr. 159.
  34. 1 2 Goldsmith 2002, tr. 62.
  35. 1 2 Goldsmith 2002, tr. 63
  36. "HyperWar: The Machine Gun (Vol. I/Part III)". www.ibiblio.org. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2024.
  37. Graham 1982, tr. 190–193.
  38. Rookes, Stephen (ngày 11 tháng 12 năm 2024). Belgian Military Forces in the Congo Volume 1 Force Publique. Helion Books. tr. 9. ISBN 9781915070548.
  39. De Quesada, A. M. (2011). The Chaco War 1932-35 : South America's greatest modern conflict. Philip S. Jowett, Ramiro Bujeiro. Botley, Oxford. ISBN 978-1-84908-416-1. OCLC 762983384.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  40. Heath, Ian (1998). Armies of the nineteenth century. Asia : organisation, warfare, dress, and weapons. St. Peter Port, Guernsey: Foundry Books. ISBN 1-901543-01-3. OCLC 50089869.
  41. Jowett 2012.
  42. Dambītis 2016, tr. 225.
  43. Jowett 2018.
  44. Maxim guns in Honduras (U.S. Library of Congress).
  45. .450 Maxim MG (armsregister.com).
  46. .303 Maxim MG (armsregister.com).
  47. Marquês de Sousa 2018, tr. 213, 214.
  48. Farrokh 2011.
  49. Sârbu 2002, tr. 144, 150.
  50. Bull 2016, tr. 11.
  51. Maxim gun in Ukraine (The Economist).
  52. Sommerville 2023.
  53. Ukrainian Maxim (The Drive).

Nguồn tổng hợp và trích dẫn

Sách

Bách khoa toàn thư, tạp chí và luận văn

Website

Có tác giả
Không tác giả

Tin tức

Liên kết ngoài