Bước tới nội dung

Pryanik

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một dạng phổ biến của pryanik
Tula pryanik thương mại
Cửa hàng Perník ở Cộng hòa Séc

Pryanik (tiếng Nga: пряник [ˈprʲænʲɪk] , tiếng Ukraina: пряник, tiếng Belarus: пернік; Séc and Slovak: perník; tiếng Ba Lan: piernik [ˈpjɛrɲik] ; tiếng Croatia: paprenjak) đề cập đến một loạt các loại bánh ngọt truyền thống ở Nga, Ukraina, Belarus, Cộng hòa Séc, Slovenia, Ba Lan và các quốc gia khác như Litva (tiếng Litva: meduolis) và Bulgaria (tiếng Bulgaria: меденка).

Theo truyền thống, pryanik được làm từ bột mìmật ong. Mặc dù một số từ điển Nga-Anh dịch pryanik là bánh mì gừng, nhưng gừng là nguyên liệu tùy chọn, không giống như mật ong.[1][2] Đường thường được dùng thay thế mật ong trong sản xuất công nghiệp và nấu ăn tại nhà hiện đại. Công thức có thể bao gồm trứng, sữa, gừng, quế và chất làm nở như bột nở, được kích hoạt bằng sữa chua hoặc giấm. Chúng cũng có thể có lớp phủ đường hoặc kem đường và mật ong, mứt trái cây hoặc sữa đặc có đường làm nhân, được trộn vào bột hoặc kẹp giữa hai lớp bánh. Kết cấu của bánh đặc và chắc hơn bánh ngọt, nhưng ẩm và mềm hơn bánh quy, và hình dạng thay đổi từ hình bầu dục đến hình chữ nhật và từ nổi đến phẳng. Chúng được chia thành từng phần riêng lẻ, lớn hơn một miếng cắn, nhưng đủ nhỏ để cầm thoải mái trong tay. Có liên quan đến pryanik là kovrizhka (коврижка), được biết đến ở các nước phương Tây là "kẹo mềm", một loại bánh mì ngọt với các thành phần tương tự.

Từ "pryanik" bắt nguồn từ tiếng Đông Slav cổ "пьпьрянъ", một tính từ xuất phát từ tiếng Đông Slav cổ "пьпьрь" nghĩa là "hạt tiêu", do đó về mặt từ nguyên học nó tương tự hoặc có liên quan đến từ "Pfefferkuchen" trong tiếng Đức.[cần dẫn nguồn]

Xem thêm

Tham khảo

  1. "Тульский пряник: рецепт приготовления". SYL.ru. ngày 12 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
  2. Drey, Victoria (ngày 15 tháng 9 năm 2017). "Tula pryanik: How simple honey bread became a Russian gastronomic brand". Russia Beyond.

Liên kết ngoài