Phúc Châu
| Phúc Châu 福州市 | |
|---|---|
| — Địa cấp thị — | |
| Thành phố Phúc Châu | |
Đường chân trời Phúc Châu Tháp La Tinh Tượng Tam Sơn Nhất Thủy Nhà thờ chính tòa Thánh Đa Minh Trấn Hải Lâu Đền Lâm Tắc Từ Đại học Hoa Nam Tam Phường Thất Hạng | |
Phúc Châu trên bản đồ của Phúc Kiên | |
| Tọa độ: 26°04′34″B 119°18′23″Đ / 26,07611°B 119,30639°Đ | |
| Quốc gia | Trung Quốc |
| tỉnh | Phúc Kiến |
| Phân chia hành chính | 6 khu, 1 thành phố cấp huyện, 6 huyện |
| Khu trung tâm | Cổ Lâu, Đài Giang, Thương Sơn, Tấn An |
| Thủ phủ | Cổ Lâu |
| Chính quyền | |
| • Kiểu | Thành phố cấp địa khu |
| • Thành phần | Đại hội đại biểu nhân dân Phúc Châu |
| • Bí thư Thành ủy | Quách Ninh Ninh |
| • Thị trưởng | Ngô Hiền Đức |
| • Chủ tịch Đại hội đại biểu nhân dân | Trương Trung |
| • Chủ tịch Ủy ban Phúc Châu Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc | Lưu Trác Quần |
| Diện tích | |
| • Địa cấp thị | 12.177 km2 (4.702 mi2) |
| • Mặt nước | 4.634 km2 (1.790 mi2) |
| Dân số (2020)[1] | |
| • Địa cấp thị | 8,291,268 |
| • Đô thị | 6,010,242 |
| • Nông thôn | 2,281,026 |
| Múi giờ | UTC+8 |
| Mã bưu chính | 350000 |
| Mã điện thoại | 0591 |
| Thành phố kết nghĩa | Koszalin, Tacoma, Campinas, Liège |
| GDP | 2020[1] |
| - Total | CNY 1002.002 tỷ |
| - Per capita | CNY 120,850 |
| - Growth | |
| Biển đăng ký xe | 闽A |
| Phương ngữ | Phương ngữ Phúc Châu, tiếng Mân Đông |
| Cây biểu tượng | Cây đa (Ficus bengalensi) |
| Hoa biểu tượng | Nhài (Jasminum sambac) |
| Website | Fuzhou.gov.cn |
Phúc Châu (tiếng Trung: 福州市; bính âm: Fúzhōu Shì) là tỉnh lỵ của tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, còn được gọi là Dung Thành/Dong Thành (榕城, có nghĩa là "Thành phố cây đa").
Lịch sử
Người ta không rõ ngày thành lập thành phố. Khi nước Việt ở phía Bắc Phúc Kiến bị nhà Chu thôn tính năm 306 trước Công nguyên, một nhánh của hoàng gia của nước Việt chạy trốn đến Phúc Kiến và trở thành bộ lạc Mân Việt. (閩越, Minyue). Thành đầu tiên của Phúc Châu được xây dựng năm 202 trước Công nguyên khi Lưu Bang, người sáng lập nhà Hán cho phép Vô Chư (無諸) - vương của Mân Việt đóng đô ở Phúc Châu. Thành được gọi là Dã (冶, Ye) - nghĩa là "Diêm dúa". Tên này bị thay đổi nhiều nhưng thành không bị phá từ năm 202 sau Công nguyên.
Năm 110 trước Công nguyên, nhà Hán thôn tín Mân Việt, Phúc Châu trở thành huyện Dã.
Trong thời nhà Tấn, Tây Hồ và Đông Hồ và một số kênh được đào (năm 282).
Khi nhà Tấn sụp đổ, một làn sóng dân di cư đến Phúc Kiến (năm 308). Trong thời nhà Đường (năm 725), thành phố bắt đầu được gọi là Phúc Châu. Năm 892, khi nhà Đường sụp đổ, nhiều di dân đến Phúc Kiến hơn, họ Vương lập kinh đô Mân quốc (909-947) đóng đô tại Phúc Châu. Tên gọi Phúc Kiến thời này có Mân Nam, sông chảy qua Phúc Châu gọi là Mân Giang. Người ta xây thành vào các năm: 282, 901, 905 và 975 do đó thành phố có nhiều lớp thành, hơn kinh đô Trung Hoa.
Hoàng đế nhà Tống hạ lệnh phá hủy thành năm 978 nhưng lại cho xây lại sau đó. Lần xây thành cuối cùng là 1371. Trong thời Nam Tống, Phúc Châu thịnh vượng, nhiều học giả đến sống và làm việc tại đây, trong đó có Chu Hi - nhà triết học chỉ xếp sau Khổng Tử và nhà thơ Tân Khí Tật (辛棄疾), nhà thơ vĩ đại nhất của thể loại từ. Marco Polo cũng đã đến đây. Đền Hoa Lâm được coi là di sản quốc gia Trung Quốc. Thời kỳ 1405-1433 đội tàu của nhà Minh do Trịnh Hòa lãnh đạo đã xuất phát từ Phúc Châu đi Ấn Độ Dương 7 lần.
Thời nhà Thanh, nơi đây là nha môn của Tổng đốc Mân Chiết, quản lý các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang và đảo Đài Loan. Cuối thời nhà Thanh nơi đây có Phúc châu thuyền chính cục là cơ quan quản lý hàng hải có quy mô lớn ở vùng duyên hải đông nam. Xưởng đóng tàu Phúc châu nằm ở Mã vĩ nên cũng có tên là xưởng Mã vĩ, một trong những công xưởng lớn nhất Trung Quốc lúc bấy giờ. Khi chiến tranh Trung Pháp xảy ra năm 1884, hải quân Pháp tấn công hạm đội Phúc kiến neo tàu tại đây và làm hạm đội thiệt hại nặng nề. Sau đó xưởng mới lại được xây dựng lại trên nền cũ.
Ngày 8 tháng 11 năm 1911, những người cách mạng khởi nghĩa ở Phúc Châu, sau một đêm đánh nhau trên đường phố, nhà Thanh đầu hàng. Ngày 22 tháng 11 năm 1933, đội quân thứ 19 lập một chính phủ tồn tại trong thời gian ngắn "Trung Hoa Cộng Hòa Quốc" (中華共和國) (khác với Trung Hoa Dân Quốc) ở Phúc Châu nhưng sụp đổ sau đó mấy tháng.
Phúc Châu có sân bay quốc tế Trường Lạc.
Địa lý
Khí hậu
| Dữ liệu khí hậu của Phúc Châu, độ cao 84 m (276 ft), (bình thường 1991–2020, cực đại 1951 – hiện tại) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỉ lục °C (°F) | 27.8 (82.0) | 32.3 (90.1) | 34.2 (93.6) | 35.7 (96.3) | 37.5 (99.5) | 38.7 (101.7) | 41.9 (107.4) | 41.4 (106.5) | 39.6 (103.3) | 37.1 (98.8) | 33.2 (91.8) | 29.8 (85.6) | 41.9 (107.4) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 15.5 (59.9) | 16.6 (61.9) | 19.3 (66.7) | 24.1 (75.4) | 27.8 (82.0) | 31.2 (88.2) | 34.6 (94.3) | 33.8 (92.8) | 31.1 (88.0) | 26.9 (80.4) | 22.6 (72.7) | 17.8 (64.0) | 25.1 (77.2) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 11.4 (52.5) | 12.0 (53.6) | 14.4 (57.9) | 19.0 (66.2) | 23.1 (73.6) | 26.6 (79.9) | 29.4 (84.9) | 28.9 (84.0) | 26.7 (80.1) | 22.7 (72.9) | 18.6 (65.5) | 13.7 (56.7) | 20.5 (69.0) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 8.8 (47.8) | 9.3 (48.7) | 11.3 (52.3) | 15.7 (60.3) | 20.0 (68.0) | 23.7 (74.7) | 26.0 (78.8) | 25.7 (78.3) | 23.8 (74.8) | 19.7 (67.5) | 15.8 (60.4) | 10.9 (51.6) | 17.6 (63.6) |
| Thấp kỉ lục °C (°F) | −1.9 (28.6) | −0.8 (30.6) | 0.3 (32.5) | 5.2 (41.4) | 10.9 (51.6) | 15.4 (59.7) | 19.0 (66.2) | 20.3 (68.5) | 15.0 (59.0) | 9.6 (49.3) | 3.1 (37.6) | −1.7 (28.9) | −1.9 (28.6) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 56.3 (2.22) | 78.6 (3.09) | 129.9 (5.11) | 139.8 (5.50) | 189.3 (7.45) | 228.7 (9.00) | 150.1 (5.91) | 193.4 (7.61) | 133.0 (5.24) | 48.7 (1.92) | 51.0 (2.01) | 43.3 (1.70) | 1.442,1 (56.76) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.1 mm) | 10.0 | 13.1 | 16.3 | 15.3 | 16.9 | 15.9 | 10.3 | 13.4 | 10.4 | 6.2 | 7.7 | 8.8 | 144.3 |
| Số ngày tuyết rơi trung bình | 0 | 0.2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0.1 | 0.3 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 73 | 75 | 76 | 75 | 77 | 80 | 73 | 75 | 72 | 67 | 70 | 70 | 74 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 91.4 | 82.3 | 96.7 | 112.8 | 119.5 | 132 | 215.6 | 182.4 | 145.1 | 142.2 | 105.3 | 101.8 | 1.527,1 |
| Phần trăm nắng có thể | 27 | 26 | 26 | 29 | 29 | 32 | 51 | 45 | 40 | 40 | 33 | 31 | 34 |
| Nguồn: Cục Khí tượng Trung Quốc[2][3][4] | |||||||||||||
Phân cấp hành chính
Thành phố Phúc Châu quản lý 13 đơn vị hành chính gồm 6 quận, 1 thành phố cấp huyện và 6 huyện.
- Quận:
- Thành phố cấp huyện:
- Huyện:
| Bản đồ |
|---|
Quần đảo Mã Tổ (thuộc về Liên Giang) và Quần đảo Bạch Khuyển (thuộc về Trường Lạc) được quản lý bởi Đài Loan. |
Thành phố kết nghĩa
Các trường đại học và cao đẳng
- Đại học Phúc Châu (福州大學);
- Đại học Sư phạm Phúc Kiến (福建師範大學) (thành lập năm 1907);
- Đại học Nông Lâm Phúc Kiến (福建農林大學);
- Đại học Y khoa Phúc Kiến (福建醫科大學);
- Đại học Đông y Phúc Kiến (福建中醫藥大學);
- Học viện Mân Giang (閩江學院);
- Học viện Công trình Phúc Kiến (福建工程學院);
- Học viện Giang Hạ Phúc Kiến (福建江夏學院).
Ghi chú: chỉ liệt kê các trường có chương trình đào tạo cử nhân toàn phần.
Xem thêm
- Tiếng Mân Đông
- Phương ngữ Phúc Châu
- Danh sách các thành phố Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo số dân
Tham khảo
- 1 2 "Fuzhou Municipal Statistic Bureau". Fuzhou.gov.cn. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2012.
- ↑ 中国气象数据网 – WeatherBk Data (bằng tiếng Trung). China Meteorological Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Experience Template" CMA台站气候标准值(1991-2020) (bằng tiếng Trung). China Meteorological Administration. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2023.
- ↑ 中国地面国际交换站气候标准值月值数据集(1971–2000年) (bằng tiếng Trung). China Meteorological Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010.
Liên kết ngoài
- Fujian Travel Guide (Text & Photos)
- Government website of Fuzhou (in Simplifed Chinese)
- An early history of Fujian and Fuzhou (Chinese) Lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2004 tại Wayback Machine
