Pháo 130 mm M-46
| M-46 | |
|---|---|
| Loại | Pháo dã chiến |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Trận |
|
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Phòng thiết kế pháo binh số 9 của Liên Xô |
| Năm thiết kế | 1946-1950 |
| Giai đoạn sản xuất | 1951-1971 |
| Số lượng chế tạo | 6.500 (Liên Xô sản xuất) 3.500 (Trung Quốc sản xuất) |
| Thông số | |
| Khối lượng | 7,7 t (17.000 lb) |
| Chiều dài | 11,73 m (38,5 ft) |
| Chiều rộng | 2,45 m (8,0 ft) |
| Kíp chiến đấu | 8 |
| Đạn pháo | 130 x 845 mm R [4] (R/184.6mm) liều phóng và đầu đạn dạng rời |
| Cỡ đạn | 130 mm (5,1 in) |
| Khóa nòng | Thanh trượt ngang |
| Bệ pháo | Càng xòe |
| Góc nâng | -2.5° to 45° |
| Xoay ngang | 50° |
| Tốc độ bắn | 6 (thường) 8 (theo loạt) 5 (duy trì) |
| Sơ tốc đầu nòng | 930 m/s (3,051 ft/s) |
| Tầm bắn xa nhất | 27,4 km (17,0 mi)(đạn thông thường) 38 km (24 mi) (đạn tăng tầm) |
Pháo M-46 130 mm (tiếng Nga: 130-мм пушка M-46) là loại pháo dã chiến nòng dài (dã pháo hạng nặng) do Nhà máy Pháo binh số 9 của Liên Xô thiết kế từ năm 1947, đến năm 1951 thì bắt đầu sản xuất. NATO nhận được thông tin về loại vũ khí này vào năm 1954, nên đặt tên mã cho nó là M1954. Năm 1959, Trung Quốc sản xuất theo công nghệ Liên Xô chuyển giao và đặt tên là Type 59-1.
Chiều dài nòng pháo bằng 52 lần cỡ nòng - dài lạ thường so với các loại pháo đương thời, cho phép pháo bắn rất xa, xấp xỉ 27,4 km đối với đạn thường, khi sử dụng đạn tăng tầm thì tầm bắn có thể lên tới 38 km. Hoặc nếu dùng để bắn trực tiếp xe tăng thì tầm bắn là 1,14 km ngắm bắn qua nòng pháo. Pháo sử dụng đầu đạn nặng 33,4 kg. Bên cạnh chức năng chính là bắn gián tiếp (bắn cầu vồng), M46 cũng có thể bắn trực tiếp thậm chí là trong ban đêm với kính ngắm đêm chuyên dụng. Pháo được sử dụng trong các cuộc Xung đột biên giới Trung–Xô, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Ấn Độ - Pakistan, chiến tranh Trung Đông lần thứ 3 và lần thứ 4, chiến tranh Angola, Chiến tranh Iran – Iraq, chiến tranh vùng Vịnh, Chiến tranh Nam Tư,...
M-46 được sử dụng tại hơn 25 quốc gia trên thế giới. Israel đã thiết kế được một loại pháo dựa trên thiết kế khung nền của M-46 130 mm.
Lịch sử thiết kế Pháo 130 mm M-46
Lệnh thiết kế một hệ thống pháo đôi dùng chung khung pháo đã được đưa ra vào tháng 4 năm 1946 nhằm thay thế các loại pháo đã lỗi thời như pháo 122 mm M1931/37 (A-19), lựu pháo 152 mm M1937 (ML-20) và các loại pháo dã chiến thời Thế chiến II khác, chẳng hạn như pháo 122 mm M1931, 152 mm M1910/30, 152 mm M1935 (BR-2). Các mẫu pháo mới, do Nhà máy số 172 (MOTZ) thiết kế, sử dụng chung khung pháo và được đặt định danh lần lượt là M-46 (130 mm) và M-47 (152 mm). Các định danh GRAU tương ứng là 52-P-482 và 52-P-547. Giai đoạn phát triển kết thúc vào năm 1950 và một năm sau đó, việc sản xuất hàng loạt bắt đầu. Nhiều khẩu M-46 đã được xuất khẩu
Hệ thống pháo thứ hai sau đó đã được thiết kế bởi cục thiết kế của F.F. Petrov tại Nhà máy Pháo binh số 9. Hệ thống này bao gồm một khẩu pháo 122 mm và một khẩu lựu pháo 152 mm. Pháo dã chiến 122 mm D-74 là đối thủ cạnh tranh của M-46; mặc dù nhiều khẩu D-74 đã được sản xuất, nhưng M-46 vẫn trở thành loại pháo tầm xa duy nhất phục vụ trong quân đội Liên Xô cho đến khi các loại pháo 152 mm mới được chế tạo vào thập niên 1970.
Mô tả Pháo 130 mm M-46

M-46 được phát triển từ pháo hải quân M-36 130 mm vốn được sử dụng trên tàu chiến và phòng thủ bờ biển. Đây là một loại pháo nòng dài thực thụ, do không thể bắn ở góc nâng quá 45°, có nòng dài và chỉ sử dụng một liều phóng duy nhất. Ngược lại, hầu hết các loại pháo dã chiến của phương Tây cùng thời kỳ này là loại pháo lựu có khả năng bắn ở cả góc nâng thấp và cao.
Pháo có nòng dài gấp 55 lần cỡ nòng (L/55) với khóa nòng trượt ngang và loa giảm giật kiểu giỏ hạt tiêu. Loa giảm giật này không thực sự hiệu quả về mặt cơ học, nhưng các báo cáo cảm quan cho thấy nó khá hữu dụng trong việc giảm chớp lửa đầu nòng. Hệ thống giảm giật thủy khí bao gồm một bộ phận giảm chấn phía dưới nòng và một bộ phận đẩy lên phía trên nòng. Nòng dài cho phép sử dụng một liều phóng lớn bằng cách tạo ra nhiều không gian hơn để thuốc súng cháy hết hoàn toàn, từ đó gia tăng không gian gia tốc cho đầu đạn và đạt được sơ tốc đầu nòng 930 m/s.
Nòng pháo được gắn trên khung càng tách rời, với các càng pháo tiết diện hộp sâu và bánh xe bơm bọt cao su tiếp đất khi bắn, cho phép góc quay ngang đạt 50°. Khiên pháo nhỏ chỉ bảo vệ được ít hơn phần kính ngắm, có khả năng giảm bớt ảnh hưởng từ luồng khí thuốc và bảo vệ một phần khỏi hỏa lực súng máy khi chiến đấu chống tăng. Pháo có càng dài và chắc chắn để đảm bảo độ ổn định khi bắn; một xẻng chống lớn có thể tháo rời được lắp vào cuối mỗi càng pháo khi pháo đi vào trạng thái chiến đấu.
Hệ thống kính ngắm không tịnh tiến là mẫu tiêu chuẩn của Liên Xô, được thiết kế để một người có thể lấy góc bắn. Hệ thống bao gồm một kính viễn vọng ngắm thẳng chống tăng, một kính ngắm gián tiếp toàn cảnh (kính ngắm chia độ) lắp trên bệ đỡ, thước đo góc bắn, và tang tầm được khắc vạch khoảng cách, đi kèm với bọt thủy lấy thăng bằng góc nâng. Tang tầm cho phép thực hiện kỹ thuật bắn bán trực tiếp tiêu chuẩn của Liên Xô khi pháo được ngắm trực quan vào mục tiêu và khoảng cách được thiết lập trên tang tầm. Kính ngắm đêm APN-3 sau đó đã được trang bị để ngắm bắn trực tiếp vào ban đêm thay cho kính ngắm ban ngày.
Để di chuyển, pháo được kéo thông qua một xe bòng hai bánh lắp vào cuối các càng pháo đã đóng, sau khi đã tháo xẻng chống và đặt chúng lên càng. Các kích đơn giản trên càng pháo, nằm ngay sau bánh xe chính, được sử dụng để nâng và đỡ các càng pháo khi đóng lại để có thể kết nối với xe bòng. Nòng pháo và bộ phận đẩy lên được kéo lùi về phía sau giữa hai càng pháo và khóa ở vị trí hành quân. Có một hệ thống xích lớn nằm bên càng phải phục vụ cho việc này, và một bình khí nén (được nạp lại sau mỗi phát bắn) được sử dụng để đẩy nòng pháo về phía trước khi pháo chuyển sang trạng thái chiến đấu. Mất khoảng bốn phút để triển khai pháo, khẩu đội thông thường gồm tám người.
Liều phóng được đựng trong vỏ đạn kim loại và được nạp riêng biệt với đầu đạn. Các loại đầu đạn ban đầu bao gồm đạn nổ phá mảnh (HE), đạn xuyên giáp khối (AP), đạn khói, đạn chiếu sáng và đạn hóa học. Đạn HE nặng khoảng 33 kg (73 lb). Đạn chiếu sáng có sơ tốc đầu nòng thấp hơn đáng kể. Đạn xuyên giáp nổ (APHE) và các loại đạn tăng tầm được giới thiệu sau này. Tốc độ bắn tối đa có thể đạt 6-7 phát/phút và khoảng 70 phát/giờ. Cơ số đạn tiêu chuẩn của Liên Xô là 80 viên.[5][6][7]
Tại Việt Nam Pháo 130 mm M-46
Trong Chiến tranh Việt Nam, lực lượng pháo binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ khoảng 519 khẩu M-46 và Type 59 (phiên bản M46 do Trung Quốc sản xuất nội địa theo mẫu M46 của Liên Xô). Đây là một loại pháo có tầm bắn xa nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi đó, nên nó được xếp loại là pháo cấp chiến dịch, chuyên dùng để tấn công vào những mục tiêu quan trọng. Để chống lại loại pháo này, pháo binh Mỹ bố trí loại pháo tự hành M107 cỡ nòng lên tới 175mm có tầm bắn xa tới 32 km. Tuy nhiên pháo M107 bắn rất chậm, tốn rất nhiều thời gian để nạp đạn rồi vận hành. Quan trọng hơn cả là chiến thuật ngụy trang, bố trí trận địa khéo léo, tài tình, có sự tính toán, sắp đặt từ trước của những người lính pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam nên M107 thường bị thất thế trong các trận đấu pháo tay đôi với M46. Lính Mỹ rất sợ M46. Họ thấy những khẩu pháo do Mỹ chế tạo sử dụng trong cuộc chiến tại Việt Nam nhất định đều có sự thua thiệt về một mặt nào đó trong tính năng chiến đấu so với M46.
Một số trận đánh tiêu biểu của M46:
- Từ ngày 22 đến ngày 25/3/1975, pháo 130mm và và lựu pháo 122mm D74 bắn gần 3.000 viên đạn vào cửa Thuận An, cửa Tư Hiền để chặn tàu biển tiếp cận đón quân địch, tạo điều kiện cho chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên Huế.
- Trưa ngày 28/3/1975, pháo 130mm và lựu pháo 122mm D74 bắn phá sân bay Đà Nẵng và cảng Đà Nẵng, bãi biển Mỹ Khê, chặn đường rút chạy, góp phần khiến 14 vạn quân địch ở Đà Nẵng phải đầu hàng.
- Đại đội 26 pháo 130mm, thuộc tiểu đoàn 2, đoàn pháo binh Biên Hòa, trong 12 ngày đêm với 326 viên đạn đã khóa chặt sân bay Biên Hoà, làm cho Không quân địch không thể sử dụng sân bay này kể từ ngày 26/4/1975.
- Từ ngày 28/4/1975, 4 khẩu pháo 130mm của Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn 164, hành quân theo đội hình của Sư đoàn 325 đã bắn khoảng 120 viên đạn, làm sân bay Tân Sơn Nhất tê liệt.
- 10 giờ ngày 30/4/1975, toàn bộ đại đội pháo 130mm thuộc Lữ đoàn 45 (Quân đoàn 1) đã bắn 43 viên đạn vào trung tâm Sở Chỉ huy của cơ quan Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, yểm trợ bộ binh chiếm mục tiêu.
Trong suốt chiến tranh, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí khoảng 80% số lượng pháo M46 vào chiến trường miền Nam, số còn lại để làm dự bị hoặc để huấn luyện lính pháo binh. Qua suốt Chiến tranh Việt Nam, Binh chủng Pháo binh, Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ bị tổn thất rất ít pháo M46, nên hiện nay số lượng pháo M46 của Việt Nam còn khá nhiều.
Hiện nay, Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tiến hành sửa chữa và nâng cấp khẩu pháo này để sử dụng nó thêm một thời gian lâu nữa. Hướng nâng cấp là gắn pháo lên khung xe tải cỡ lớn để biến M46 thành pháo tự hành nhằm tăng tính cơ động.
Các biến thể Pháo 130 mm M-46
Liên Xô
- M-47 – Đây là loại pháo dã chiến 152 mm (tiếng Nga: 152-мм пушка M-47 обр. 1953 г.) được phát triển cùng lúc với M-46. M-47 có tầm bắn 20.470 m nhưng kém thành công hơn nhiều so với biến thể 130 mm. Chỉ một số lượng nhỏ được chế tạo trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến 1957. Về ngoại hình, M-46 và M-47 gần như giống hệt nhau, ngoại trừ cỡ nòng.
Trung Quốc
- Type 59 (Kiểu 59) – Đây là phiên bản sản xuất theo giấy phép của M-46.[8]

- Type 59-1 – Đây là sự kết hợp giữa phần pháo 130 mm của Type 59 với khung giá pháo của Type 60 (bản sao của D-74). Kết quả là tạo ra một khẩu pháo có tầm bắn tương đương M-46 nhưng trọng lượng nhẹ hơn nhiều, chỉ 6,3 tấn. M59-1M là phiên bản sản xuất theo giấy phép của Ai Cập. Đối với thị trường xuất khẩu, một phiên bản tích hợp động cơ phụ trợ (APU) và khung xe thiết kế lại đã được phát triển. Ngoài ra, một biến thể tự hành dựa trên khung gầm lựu pháo tự hành Type 83 cũng đã được thiết kế cho mục đích xuất khẩu.[9]
- Type GM-45 – Phục vụ thị trường xuất khẩu, tập đoàn Norinco đã phát triển gói nâng cấp này, trong đó nòng pháo nguyên bản của Type 59 được thay thế bằng pháo 155/45 mm của WA 021. Type GM-45 đạt tầm bắn tối đa 39 km khi sử dụng đạn base bleed (ERFB-BB).[8]
Cuba
- Quân đội Cuba vận hành hai phiên bản tự hành khác nhau được thiết kế trong nước từ pháo M-46. Một phiên bản dựa trên khung gầm bánh xích của xe tăng T-34-85, trong khi phiên bản còn lại dựa trên xe tải KrAZ 6x6 đã được cải hoán mạnh mẽ. Những sửa đổi này cùng các biến thể khác đã được trình diễn lần đầu tiên trong cuộc duyệt binh năm 2006.[cần dẫn nguồn]
Ai Cập
- Quân đội Ai Cập vận hành một biến thể của M-46 được lắp ráp nội địa.[10]
Ấn Độ
- Quân đội Ấn Độ sở hữu tổng cộng khoảng 1.000 khẩu pháo kéo 130 mm được mua từ Liên Xô cũ bắt đầu từ năm 1968.[11][12]
- Dự án Karan – Quân đội Ấn Độ đã ký hợp đồng với công ty Soltam của Israel để nâng cấp tổng cộng 180 khẩu pháo M-46 của 9 trung đoàn pháo binh lên cỡ nòng 155 mm/45 cal. Toàn bộ đã được bàn giao tính đến năm 2018.[11]
- Dự án Sharang – Một gói nâng cấp 155 mm khác cho pháo kéo M-46 đang được thực hiện bởi Hội đồng Nhà máy Vũ khí (OFB) thuộc sở hữu nhà nước. Bản nâng cấp M-46 này nặng 8,4 tấn và có tầm bắn 39 km.[13] Lượng thuốc nổ trong mỗi viên đạn đã được tăng từ 3,4 kg TNT lên 8 kg TNT. Sau khi nâng cấp, tổng chiều dài và chiều rộng của pháo lần lượt là 11,84 m và 2,45 m với nòng dài 6,9 m. Vào ngày 25 tháng 10 năm 2018, Bộ Quốc phòng Ấn Độ đã trao hợp đồng trị giá 42 triệu đô cho OFB để thực hiện nâng cấp. Theo hợp đồng, 300 đơn vị pháo dã chiến M-46 của 15 trung đoàn pháo binh sẽ được nâng cấp lên 155 mm/45 cal để tăng cường hỏa lực cho Lục quân. Sau khi các Nhà máy Vũ khí được cổ phần hóa, đơn hàng này thuộc về AWEIL và AVNL.[14][15] Việc nâng cấp được thực hiện tại Nhà máy Jabalpur và Nhà máy Giá pháo Jabalpur. AVNL đã bàn giao ít nhất 26 đơn vị Sharang tính đến tháng 7 năm 2024.[16][17] Vào tháng 9 năm 2025, việc tiếp nhận thêm pháo Sharang đã bị tạm dừng sau khi các lỗi về cơ khí, điện, điện tử và luyện kim được phát hiện trên 159 khẩu pháo được bàn giao kể từ lô đầu tiên vào tháng 3 năm 2020. Một trong những linh kiện bị lỗi là loa giảm giật mà AWEIL mua từ một công ty tư nhân, gây ra mối đe dọa an toàn cho pháo thủ. AWEIL đã không thể khắc phục các sự cố này mặc dù đã có trao đổi chính thức với công ty cung cấp từ hai năm trước.[18]
- SP-130 "Catapult" – Phiên bản tự hành do Ấn Độ thiết kế, lắp đặt trên thân xe tăng Vijayanta.[8]
Israel
- M-46S – Đây là gói nâng cấp cho pháo M-46 hoặc Type 59 hiện có, được thực hiện bởi công ty Soltam Systems Ltd. Nòng pháo nguyên bản được thay thế bằng nòng 155/45mm mới (sử dụng đạn tiêu chuẩn phương Tây) cho tầm bắn từ 25,8 km (đạn HE) đến 39 km (đạn ERFB-BB). Tùy chọn nòng 39 cal cũng có sẵn. Vào tháng 3 năm 2000, Soltam đã giành được hợp đồng trị giá 47.524.137 USD để nâng cấp 180 khẩu M-46 lên chuẩn M-46S (định danh Ấn Độ: 155/45mm (E1) Soltam). Một thỏa thuận tiếp theo cho 250 bộ phụ kiện nâng cấp cũng đã được đưa vào tùy chọn. Tuy nhiên vào năm 2005, sau khi mới chỉ có 40 khẩu pháo được cải hoán, chương trình M-46S đã bị chấm dứt do một vụ nổ nòng pháo gây tử vong.[8]
Triều Tiên
Cơ quan Tình báo Quốc phòng Hoa Kỳ đã báo cáo về sự tồn tại của một số hệ thống pháo tự hành được thiết kế tại địa phương, bao gồm SPG 130 mm M1975, SPG 130 mm M1981 và SPG 130 mm M1991. Các chi tiết cụ thể không được tiết lộ, nhưng chúng có vẻ là pháo M-46/Type 59 được lắp trên khung gầm bánh xích "Tokchon".[8]
Serbia
- M46/84 – Đây là một bản cải hoán liên quan đến việc thay thế nòng pháo 130 mm nguyên bản bằng nòng 155/45 mm hoặc 152 mm mới. Với đạn ERFB-BB, phiên bản này đạt tầm bắn 38.600 m và với đạn M05 152 mm, tầm bắn có thể vượt quá 40 km.[9]
Hà Lan
- RDM Technology BV là một công ty khác cung cấp gói nâng cấp cho M-46/Type 59 bằng cách lắp đặt nòng 155mm/45 mới.[8]
Romania
- A412 – Phiên bản Type 59–1 của Trung Quốc sản xuất theo giấy phép với khung giá pháo của D-20.[19] Trong biên chế Quân đội Romania, A412 được gọi là pháo kéo 130 mm M1982 (tiếng Romania: Tun calibrul 130-mm tractat M1982). A412 cũng đã được xuất khẩu.[8]
Type 59-1 được sản xuất bởi Arsenal Resita dưới định danh A412 Model 1982 trong khoảng thời gian từ 1982 đến 1989. Tầm bắn tối đa đạt 33 km (21 mi) khi sử dụng đạn Base Bleed của NORINCO. Pháo A412 có thể bắn với tốc độ 7-8 phát/phút. Biến thể này đã được xuất khẩu sang bốn quốc gia khác: Bosnia-Herzegovina, Cameroon, Guinea và Nigeria.
Việt Nam
Các quốc gia sử dụng Pháo 130 mm M-46


Algérie − 10 khẩu tính đến năm 2024[22]
Angola − 48 khẩu tính đến năm 2024[23]
Azerbaijan − 35 khẩu tính đến năm 2024[24]
Bangladesh − 62 khẩu Type-59-1 tính đến năm 2024[25]
Campuchia − Type 59-1, số lượng không xác định tính đến năm 2024[26]
Cameroon − 12 khẩu A412 (báo cáo) và 12 khẩu Type 59 tính đến năm 2024[27]
Trung Quốc − 100 khẩu Type 59 và Type 59-1 tính đến năm 2024[28]
Congo-Brazzaville − 5 khẩu tính đến năm 2024[29]
Congo-Kinshasa − 42 khẩu Type 59 và Type-59-I tính đến năm 2024[30]
Cuba − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[31]
Ai Cập − 420 khẩu tính đến năm 2024, số lượng không xác định đã được chuyển đổi thành pháo tự hành[32]
Eritrea − 19 khẩu tính đến năm 2024[33]
Ethiopia − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[30]
Guinée − 12 khẩu tính đến năm 2024[34]
Guyana − 6 khẩu tính đến năm 2024, tình trạng hoạt động không xác định[35]
Ấn Độ − ~600 khẩu đang hoạt động và ~500 khẩu lưu trữ tính đến năm 2024; 200 khẩu đã được nâng cấp lên cỡ nòng 155 mm[36]
Iran − Lô đầu tiên gồm 136 khẩu được cung cấp vào năm 1970.[37] 985 khẩu tính đến năm 2024[38]
Iraq − Hơn 60 khẩu M-46 và Type 59 tính đến năm 2024[39]
Lào − 10 khẩu tính đến năm 2024[40]
Liban − 15 khẩu tính đến năm 2024[41]
Mông Cổ − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[42]
Maroc − 18 khẩu tính đến năm 2024[43]
Mozambique − 6 khẩu tính đến năm 2024[44]
Myanmar − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[45]
Nigeria − 7 khẩu tính đến năm 2024[46]
CHDCND Triều Tiên − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[47]
Oman − 12 khẩu M-46 và 12 khẩu Type 59-I tính đến năm 2024[48]
Pakistan − 410 khẩu Type 59-I tính đến năm 2024[32]
Perú − 36 khẩu tính đến năm 2024[49]
Nga − 350 khẩu tính đến năm 2024[50]
Serbia − 18 khẩu tính đến năm 2024[51]
Nam Sudan − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[52]
Sri Lanka − 30 khẩu Type 59-I tính đến năm 2024[53]
Sudan − Số lượng không xác định M-46 và Type 59-I tính đến năm 2024[54]
Syria − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[55]
Tanzania − 30 khẩu Type 59-I tính đến năm 2024[57]
Turkmenistan − 6 khẩu tính đến năm 2024[58]
Uganda − 221 khẩu tính đến năm 2024[59]
Ukraina − 15 khẩu tính đến năm 2024[60]
UAE − 20 khẩu Type 59-I tính đến năm 2024[61]
Việt Nam − Số lượng không xác định tính đến năm 2024[62]
Zambia − 18 khẩu tính đến năm 2024[63]
Tham khảo Pháo 130 mm M-46
- ↑ Tucker, Spencer C., biên tập (tháng 5 năm 2011). The Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History (ấn bản thứ 2). tr. 1251. ISBN 978-1-85109-960-3.
- ↑ Dunstan, Simon (ngày 10 tháng 11 năm 2009). The Six Day War 1967: Jordan and Syria. Campaign 212. Osprey Publishing. tr. 65. ISBN 978-1-84603-364-3.
- ↑ David Axe (ngày 27 tháng 10 năm 2022). "Ukraine Is Collecting A Lot Of Russia's Old T-62 Tanks". Forbes.
- ↑ "110 to 149mm Ammo". Ordnance and Militaria (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Bellamy, Chris (1986). Red God of War – Soviet Artillery and Rocket Forces (bằng tiếng Anh). Brassey's. ISBN 0-08-031200-4.
- ↑ Bidwell, Shelford, biên tập (1977). Artillery of the World (bằng tiếng Anh). Brassey's. ISBN 0-904609-04-9.
- ↑ The Encyclopedia of World Military Weapons (bằng tiếng Anh). Crescent Books. 1988. ISBN 0-517-65341-9.
- 1 2 3 4 5 6 7 Janes Armour and Artillery 2003–2004
- 1 2 Foss, Christopher F., biên tập (1993). Jane's Armour and Artillery 1993–1994 (bằng tiếng Anh). Jane's Information Group. ISBN 0-7106-1074-2.
- ↑ "Egypt :: Abou Zaabal Co. For Engineering Industries .::. ابو زعبل للصناعات الهندسية :: تفاصيل المنتجات الحربيه". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2018.
- 1 2 "Defence Ministry signs Rs 200 crore contract to upgun 130 mm howitzers". India Today. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Military Balance India Vs China Part-3 Indian artillery systems". Full Afterburner (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "Ordnance Factory Board". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014.
- ↑ "Sharang 155mm 45 calibre gun". www.globalsecurity.org. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "India's OFB wins tender to upgrade 300 M-46 field guns". Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2018.
- ↑ "Sharang 155mm 45 calibre gun". www.globalsecurity.org. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Upgunned Sharang - AVNL". avnl.co.in. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2024.
- ↑ Singh, Dalip (ngày 15 tháng 9 năm 2025). "Indian Army rejects substandard Sharang artillery guns; questions raised on DPSU AWEIL's manufacturing standards". BusinessLine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Stroea, Adrian; Băjenaru, Gheorghe (2010). Artileria română în date và imagini (bằng tiếng Romania). Editura Centrului Tehnic-Editorial al Armatei. ISBN 978-606-524-080-3.
- ↑ QPVN. "Học viện Kỹ thuật Quân sự - Thời cơ và khát vọng". www.qpvn.vn. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2021.
- ↑ Thanh Niên. "Hình ảnh pháo tự hành PTH-130 của Việt Nam lần đầu xuất hiện". thanhnien.vn. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2025.
- ↑ IISS 2024, tr. 343.
- ↑ IISS 2024, tr. 471.
- ↑ IISS 2024, tr. 180.
- ↑ IISS 2024, tr. 249.
- ↑ IISS 2024, tr. 253.
- ↑ IISS 2024, tr. 479.
- ↑ IISS 2024, tr. 256.
- ↑ IISS 2024, tr. 483.
- 1 2 IISS 2024, tr. 486.
- ↑ IISS 2024, tr. 428.
- 1 2 IISS 2024, tr. 302.
- ↑ IISS 2024, tr. 490.
- ↑ IISS 2024, tr. 496.
- ↑ IISS 2024, tr. 436.
- ↑ IISS 2024, tr. 266.
- ↑ "RECENT TRENDS IN IRANIAN ARMS PROCUREMENT - Department of State". Foreign Relations of the U.S., 1969–1976, Volume E–4, Documents on Iran and Iraq, 1969–1972. tháng 5 năm 1972 – qua Office of the Historian.
- ↑ IISS 2024, tr. 353.
- ↑ IISS 2024, tr. 358.
- ↑ IISS 2024, tr. 290.
- ↑ IISS 2024, tr. 368.
- ↑ IISS 2024, tr. 295.
- ↑ IISS 2024, tr. 374.
- ↑ IISS 2024, tr. 505.
- ↑ IISS 2024, tr. 296.
- ↑ IISS 2024, tr. 510.
- ↑ IISS 2024, tr. 282.
- ↑ IISS 2024, tr. 377.
- ↑ IISS 2024, tr. 447.
- ↑ IISS 2024, tr. 193.
- ↑ IISS 2024, tr. 133.
- ↑ IISS 2024, tr. 519.
- ↑ IISS 2024, tr. 313.
- ↑ IISS 2024, tr. 521.
- ↑ IISS 2024, tr. 386.
- ↑ "Syrie: rudes combats à Abou Dali entre les djihadistes d'Hayat Tahrir al-Cham et le régime de Damas". France Soir (bằng tiếng Pháp). ngày 19 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018.
- ↑ IISS 2024, tr. 523.
- ↑ IISS 2024, tr. 209.
- ↑ IISS 2024, tr. 526.
- ↑ IISS 2024, tr. 212.
- ↑ IISS 2024, tr. 391.
- ↑ IISS 2024, tr. 324.
- ↑ IISS 2024, tr. 528.