Bước tới nội dung

Peksater

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Peksater/Pekerslo
Vương hậu của NubiaAi Cập cổ đại
Thông tin chung
An tángAbydos ?
Hôn phốiPiye
Chữ tượng hình
p
V31
Aa18
Z1
T
r
Z1
Thân phụKashta
Thân mẫuPebatjma

Peksater, còn viết là Pekerslo, là một vương hậu người Nubia sống vào thời kỳ đầu Vương triều thứ 25 của Ai Cập. Bà là một trong 4 vương hậu được biết đến của pharaon Piye.

Vương thất

Peksater là con gái của Kashta, pharaon đầu tiên của Vương triều thứ 25, và vương hậu Pebatjma, Người gõ sistrum hầu Amun-Ra. Cha mẹ của bà được chứng thực rõ ràng qua các mảnh vỡ khung cửa trong một nghĩa trang tại Abydos.[1] Cũng có ý kiến cho rằng, Peksater chỉ là con nuôi của Pebatjma.[2]

Trên tường đền Amun, Jebel Barkal (Sudan), Peksater được mô tả đứng sau pharaon Piye kèm với các danh hiệu dịch là "vương hậu, chị em/gái của đức vua".[3] Điều này cho thấy rằng, bà là chị em với Piye, và cũng là một người vợ của ông. Tấm bia tại Moskva còn cho biết bà là một Đại vương hậu, tức là vương hậu chính cung của Piye.[4]

Chôn cất

Dựa vào các mảnh khung cửa, Peksater được cho là nơi chôn cất ở Abydos.[5] Một mảnh bia hiện lưu giữ tại Moskva, được lập từ thời kỳ Vương triều thứ 26, được tìm thấy tại Abydos có nêu rõ việc mai táng của Peksater.[6] George Andrew Reisner, ngược lại, đã gán ngôi mộ Ku.54 tại El-Kurru cho Peksater nhưng không dựa trên bằng chứng cụ thể nào. Thực tế, không có văn tự hay hiện vật nào cho thấy Peksater được chôn tại El-Kurru.[7]

Một giả thiết khác cho rằng, Peksater đã mất trước Piye trong cuộc chinh chiến mở rộng quyền lực vào Hạ Ai Cập của Piye. Ngôi mộ Ku. 22, được cho là xây vội trong các năm trị vì 20–21 của Piye, là mộ gió tưởng niệm của Peksater, nằm gần mộ của những vương hậu khác của Piye (và cũng là các chị em của bà).[8]

Tham khảo

  1. Leahy, Anthony (1979). "The Name of Osiris Written". Studien zur Altägyptischen Kultur. Quyển 7. tr. 141–153. ISSN 0340-2215.
  2. Dunham, Dows; Macadam, M. F. Laming (1949). "Names and Relationships of the Royal Family of Napata". The Journal of Egyptian Archaeology. Quyển 35. tr. 139–149. doi:10.2307/3855222. ISSN 0307-5133.
  3. Kahn, Dan’el (2005). "The Royal Succession in the 25th Dynasty" (PDF). Der Antike Sudan. Số 16. tr. 143–163. doi:10.48641/mittsag.2005.16.85023. ISSN 2750-4875.
  4. Emberling, Geoff; Williams, Bruce, biên tập (2020). The Oxford handbook of Ancient Nubia. Đại học Oxford. tr. 494. ISBN 978-0-19-049627-2.
  5. S. Al-Rayah, A. (1981). The Napatan Kingdom (c. 860 B.C. to 310 B.C) (PDF). Đại học Liverpool. tr. 46.
  6. Török, László (2015). The Kingdom of Kush: Handbook of the Napatan-Meroitic Civilization. Brill. tr. 234. ISBN 978-90-04-29401-1.
  7. Li, Jean (2017). Women, Gender and Identity in Third Intermediate Period Egypt: The Theban Case Study. Taylor & Francis. tr. 106. ISBN 978-1-317-29830-4.
  8. Wenig, Steffen, biên tập (1999). Studien zum antiken Sudan. Meroitica. Harrassowitz Verlag. tr. 75. ISBN 978-3-447-04139-3.