Pebatjma
| Pebatjma/Pebatma | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vương hậu của Nubia và Ai Cập cổ đại | |||||||||
Tượng CG42198 của Amenirdis I có khắc tên Kashta và Pebatjma, cha mẹ của công chúa (hiện lưu giữ tại Bảo tàng Ai Cập) | |||||||||
| Thông tin chung | |||||||||
| An táng | Abydos hoặc kim tự tháp Ku.7 tại El-Kurru | ||||||||
| Hôn phối | Kashta | ||||||||
| Hậu duệ | Peksater Amenirdis I Pegattereru ? | ||||||||
| |||||||||
Pebatjma, hay Pebatma, là một vương hậu người Nubia sống vào thời kỳ đầu Vương triều thứ 25 của Ai Cập. Bà là hôn phối duy nhất được biết đến của pharaon Kashta.
Vương thất
Pebatjma có ít nhất hai người con gái với vua Kashta, là:
- Amenirdis I, Nữ tư tế Tối cao của Amun, dựa vào dòng văn tự xác nhận cha mẹ qua bức tượng CG42198 của vương nữ (chỉ còn phần chân).[1] Cũng theo bức tượng này, Pebatjma được biết đến là chị/em gái và cũng là vợ của nhà vua, tức Kashta (nhưng chưa xác định được vua cha của hai người).[2]
- Peksater, Đại vương hậu, kết hôn với người anh/em là pharaon Piye, xác nhận cha mẹ là Kashta và Pebatjma trên tường đền Amun, Jebel Barkal (Sudan)[3] và khung cửa tại Abydos (số hiệu JE32022, Bảo tàng Cairo).[4] Cũng có ý kiến cho rằng, Peksater chỉ là con nuôi của Pebatjma,[5] mà mối quan hệ chính xác của hai người là cô cháu.[6]
Trên hai tấm bia Kawa IV và VI của pharaon Taharqa (con của Piye) có đề cập đến việc thân mẫu của vương hậu Abar (mẹ của Taharqa) là chị em với vua Alara (tiền nhiệm của Kashta), được Alara dâng lên thần Amun-Ra (hàm ý tính chính danh cho các pharaon hậu duệ cũng như thiết lập của một hệ thống quân chủ mới tại Ai Cập). Các học giả cho rằng, triều đại Kush kế vị theo nhánh bên, tức là vua anh sẽ truyền ngôi cho em trai, sau đó vua em sẽ trao lại ngôi cho một con trai của vua anh. Do đó, người chị em này của Alara tuy không được nêu rõ tên nhưng các học giả suy đoán chính là Pebatjma, đồng nghĩa với việc Alara-Kashta-Pebatjma là anh chị em với nhau.[7]
Là người vợ duy nhất được biết đến của Kashta, nhưng Pebatjma chưa từng được nhắc đến với danh hiệu thái hậu, Thân mẫu của Đức vua.[8] Do đó, chưa rõ Pebatjma có phải là mẹ của Piye hay không,[9] ngay cả việc Kashta là cha của Piye cũng chỉ được suy luận qua các bằng chứng gián tiếp từ tấm bia ghi lại việc công chúa Shepenupet II (con của Piye) nhận nuôi Nitocris (con của Psamtik I).[10]
Đồng nhất với Paabtameri
Nhiều học giả đã xem Pebatjma và Paabtameri, người được nhắc đến qua một tấm bia trong ngôi mộ (tái sử dụng của Vương triều 18) tại Abydos, là cùng một người.[1] Tấm bia này có kiểu cách tương đồng với một tấm bia khác có nhắc đến Paabtameri (cũng được viết là Pabtamer), là mẹ của Đại thống tướng tên Pekatror (hay Pegattereru), cũng được phát hiện tại Abydos.[11]
Trên bia của mình, Pekatror kể lại việc hộ tống người chị/em Amenirdis đến Thebes để nữ tư tế Shepenupet I, con gái của pharaon Osorkon III (Vương triều thứ 23), nhận làm con nuôi. Cũng theo đó, Pekatror đã xây dựng tại Abydos một nơi chôn cất cho mẹ mình, Paabtameri, người mang các tước hiệu Người gõ sistrum hầu Amun-Ra, Con gái của Đức vua, Chị em của Đức vua và Thân mẫu của Nữ tư tế Tối cao.[10] Tuy nhiên, Pekatror không gọi mình là Con trai của Đức vua, do đó loại trừ khả năng ông là vương tử của Kashta. Mặt khác, Pekatror có thể là con sinh ra từ một cuộc hôn nhân sau đó của vương hậu góa phụ, hoặc tước hiệu vương tử của ông chỉ được dùng khi vua cha còn sống. Nhưng có một điều, Paabtameri chắc chắn đã kết hôn với một vị vua nhờ vào việc bà là mẹ của một Nữ tư tế Tối cao của Amun, danh hiệu mà chỉ có các vương nữ mới được thụ phong dưới thời kỳ này.[1]
Lăng mộ
Theo George Andrew Reisner và Dows Dunham, ngôi mộ kim tự tháp đánh thứ tự Ku. 8 tại El-Kurru, nơi chôn cất vương thất Kush, được gán cho Kashta, dù chỉ dựa vào duy nhất một mảnh menat bằng gốm men faience mang tên của nhà vua. Một mảnh faience từ bàn tế cũng có khung cartouche của Kashta được tìm thấy trong Ku. 1, kim tự tháp ngay trước Ku. 8, nhưng cấu trúc ngôi mộ này lại thuộc về thời Hậu Napata (tức rất lâu sau thời Kashta).[12] Ngôi mộ Ku. 7, nằm ngay bên phải Ku. 8, nhỏ hơn so với Ku. 8 nhưng lại có cấu trúc tương tự nhau. Vì vậy Reisner và Dunham cho rằng, chủ nhân Ku. 7 là người có địa vị quan trọng nhưng vẫn kém hơn người được chôn trong Ku. 8, do đó họ cho rằng đây có thể là mộ của một người vợ của chủ nhân Ku. 8, trong trường hợp Ku. 8 là của Kashta thì Ku. 7 có khả năng là của Pebatjma (mặc dù không tìm thấy hiện vật có khắc chữ trong mộ).[13]
Ngôi mộ tại Abydos (số 48) của Paabtameri, hay Pebatjma nếu thực sự là cùng một người, đã được tu sửa lại cho bà theo tấm bia của tướng Pekatror, nhưng không rõ nó có được dùng cho một việc mai táng thực sự hay chỉ là một đài tưởng niệm.[11]
Tham khảo
- 1 2 3 Dodson, Aidan (2012). Afterglow of Empire: Egypt from the Fall of the New Kingdom to the Saite Renaissance. Đại học Hoa Kỳ tại Cairo. tr. 144. ISBN 978-977-416-531-3.
- ↑ Eide 1994, tr. 44.
- ↑ Kahn, Dan’el (2005). "The Royal Succession in the 25th Dynasty" (PDF). Der Antike Sudan. Số 16. tr. 143–163. doi:10.48641/mittsag.2005.16.85023. ISSN 2750-4875.
- ↑ Leahy, Anthony (1979). "The Name of Osiris Written". Studien zur Altägyptischen Kultur. Quyển 7. tr. 141–153. ISSN 0340-2215.
- ↑ Dunham, Dows; Macadam, M. F. Laming (1949). "Names and Relationships of the Royal Family of Napata". The Journal of Egyptian Archaeology. Quyển 35. tr. 139–149. doi:10.2307/3855222. ISSN 0307-5133.
- ↑ Wenig 1999, tr. 189-190.
- ↑ Eide 1994, tr. 41-42.
- ↑ Wenig 1999, tr. 211.
- ↑ Eide 1994, tr. 250.
- 1 2 Eide 1994, tr. 45.
- 1 2 Wenig 1999, tr. 74.
- ↑ S. Al-Rayah, A. (1981). The Napatan Kingdom (c. 860 B.C. to 310 B.C) (PDF). Đại học Liverpool. tr. 46.
- ↑ Wenig 1999, tr. 169.
- Nguồn
- Eide, Tormod; Hägg, Tomas; Pierce, Richard Holton; Török, László, biên tập (1994). Fontes historiae nubiorum: textual sources for the history of the middle Nile region between the eighth century BC and the sixth century AD (quyển 1). Đại học Bergen. ISBN 978-82-991411-6-1.
- Wenig, Steffen, biên tập (1999). Studien zum antiken Sudan. Meroitica. Harrassowitz Verlag. ISBN 978-3-447-04139-3.