Os, Hordaland
| Kommune Os | |
|---|---|
| — Khu tự quản — | |
View of Osøyro | |
Vị trí Os tại Hordaland | |
Vị trí của Os, Hordaland | |
| Quốc gia | Na Uy |
| Hạt | Hordaland |
| Quận | Midhordland |
| Đặt tên theo | Os |
| Trung tâm hành chính | Osøyro |
| Chính quyền | |
| • Thị trưởng(2015-2019) | Marie Lunde Bruarøy (H) |
| Diện tích | |
| • Tổng cộng | 139,57 km2 (5,389 mi2) |
| • Đất liền | 133,48 km2 (5,154 mi2) |
| • Mặt nước | 6,09 km2 (235 mi2) 4.4% |
| Thứ hạng diện tích | Thứ 360 tại Na Uy |
| Dân số (2019) | |
| • Tổng cộng | 20,152 |
| • Thứ hạng | Thứ 57 tại Na Uy |
| • Mật độ | 151,0/km2 (3,900/mi2) |
| • Thay đổi (10 năm) | 29,2 % |
| Tên cư dân | Osing[1] |
| Múi giờ | UTC+1 |
| • Mùa hè (DST) | CEST (UTC+2) |
| Mã ISO 3166 | NO-1243 |
| Ngôn ngữ chính thức | Nynorsk |
| Dữ liệu từ thống kê của Na Uy | |
Os, Hordaland là một đô thị ở hạt Hordaland, Na Uy.Nó nằm ở vùng Midhordland, ngay phía nam của thành phố lớn thứ hai của Na Uy, Bergen. Do gần Bergen, Os đang có sự gia tăng dân số mạnh mẽ.[2]Trung tâm hành chính (và trung tâm thương mại) của Os là làng Osøyro. Đây là khu định cư lớn nhất trong đô thị, với hơn 60% cư dân thành phố sống ở đây. Các làng lớn khác ở Os bao gồm Hagavik, Halhjem, Søfteland, Søre Øyane và Søvik.Trước khi bị giải thể vào năm 2020, đô thị Os rộng 140 km² (54 dặm vuông) là đô thị lớn thứ 360 về diện tích trong số 422 đô thị ở Na Uy. Os là đô thị đông dân thứ 57 ở Na Uy với dân số 20.152 người. Mật độ dân số của đô thị là 151 người trên 1 km² (390 người/dặm vuông) và dân số đã tăng 29,2% trong thập kỷ qua.[3]
Lịch sử


Giáo xứ Os được thành lập như một formannskapsdistrikt, tiền thân của các đô thị ngày nay, vào ngày 1 tháng 1 năm 1838. Ban đầu, nó bao gồm toàn bộ vùng đất xung quanh vịnh Fusafjorden. Năm 1856, khu vực phía đông của Os (bên kia vịnh) được tách ra để thành lập đô thị Fusa mới, độc lập. Điều này khiến Os chỉ còn lại 3.750 cư dân..[4]
Năm 1900, "Askviknes Barnehjem" (gần Hagavik) được mở cửa; nơi đây nuôi dưỡng trẻ em người Romani/Tater; ban đầu, việc trẻ em được vào ở là do gia đình các em xin phép; sau đó, trẻ em được đưa vào cơ sở này mà không cần sự đồng ý của gia đình.[5]
Vào ngày 1 tháng 1 năm 1907, phần phía bắc của đô thị được tách ra để thành lập đô thị mới Samnanger. Điều này khiến Os chỉ còn lại 3.188 cư dân. Trong những năm 1960, đã có nhiều vụ sáp nhập đô thị trên khắp Na Uy do hoạt động của Ủy ban Schei. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1964, khu vực Bogstrand của Fusa (dân số: 28) được sáp nhập vào Os. Đây là phần duy nhất của Fusa nằm ở phía tây của vịnh hẹp..[4]
Trong Thế chiến II, trại tập trung Ulven được quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng sử dụng. Nó nằm ở phía tây bắc của Osøyro.
Vào ngày 1 tháng 1 năm 2020, các đô thị lân cận Os và Fusa đã được sáp nhập để thành lập Đô thị Bjørnafjorden mới..[6]
Tên gọi
Thị trấn (ban đầu là giáo xứ) được đặt tên theo trang trại Os cũ (tiếng Bắc Âu cổ: Óss) vì nhà thờ Os đầu tiên được xây dựng ở đó. Tên gọi này giống với từ óss có nghĩa là "cửa sông", ở đây ám chỉ sông Oselva.[7]
Địa lý
Thị trấn Os nằm ở phía tây nam của bán đảo Bergen, phía nam thị trấn Bergen và phía đông nam thị trấn Samnanger. Vịnh Fusafjorden nằm ở phía đông, vịnh Bjørnafjorden ở phía nam, và vịnh Lysefjorden nằm ở phía tây. Thị trấn Fusa nằm ở phía đông (bên kia vịnh Fusafjorden), thị trấn Tysnes nằm ở phía nam (bên kia vịnh Bjørnafjorden), và thị trấn Austevoll nằm ở phía tây (bên kia vịnh Lysefjorden).
Phần tây nam của Os bao gồm nhiều hòn đảo nhỏ, trong đó có Skorpo, Strøno và Innerøya. Khu vực làng Søre Øyane nằm trên một số hòn đảo nhỏ ngoài khơi bờ biển đất liền.
Địa hình thị trấn khá nhiều núi, đặc biệt là ở phía đông bắc. Núi Sveningen là điểm giao nhau của ba thị trấn Bergen, Os và Samnanger. Nó nằm ở cực đông bắc của Os. Dãy núi Mosnuken và Lyshornet đều nằm ở Os.
Tham khảo
- ↑ "Personnemningar til stadnamn i Noreg" (bằng tiếng Na Uy). Språkrådet.
- ↑ "Oselvarverkstaden" (bằng tiếng Na Uy (Bokmål)). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "06913: Population 1 January and population changes during the calendar year (M) 1951 - 2025. Statbank Norway". SSB (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
- 1 2 Jukvam, Dag (1999). Historisk oversikt over endringer i kommune- og fylkesinndelingen (PDF) (bằng tiếng Na Uy). Statistisk sentralbyrå. ISBN 9788253746845.
- ↑ Marianne Herfindal Johannessen (ngày 1 tháng 8 năm 2015). "'De hjemløse smaa'". Bergens Tidende. tr. 54–5.
- ↑ "Siste nytt - På veg mot Bjørnafjorden kommune". På veg mot Bjørnafjorden kommune (bằng tiếng Na Uy (Bokmål)). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Rygh, Oluf (1910). Norske gaardnavne: Søndre Bergenhus amt (1910) (bằng tiếng Đan Mạch). W.C. Fabritius.