Bước tới nội dung

Nhân tạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tính nhân tạo (tiếng Anh: artificiality) hay nôm na là do con người tạo ra là tính chất của một sự vật khi nó là sản phẩm của quá trình chế tạo có chủ đích của con người (tức là bằng kỹ xảo hay sự dụng công), thay vì xuất hiện một cách tự nhiên thông qua những quá trình không có hoặc không cần đến hoạt động của con người.

Hàm ý

Tính nhân tạo thường đi kèm với hàm ý là giả tạo, hàng giả, hoặc mang tính đánh lừa. Nhà triết học Aristoteles viết trong tác phẩm Biện luận của ông:

Tính tự nhiên có sức thuyết phục, còn tính giả tạo thì ngược lại; bởi người nghe vốn mang định kiến và cho rằng chúng ta có dụng ý gì đó chống lại họ, như thể ta đang pha rượu cho họ vậy. Nó cũng giống như sự khác biệt giữa chất giọng của Theodorus và giọng của tất cả các diễn viên khác: giọng của ông ta thật sự có vẻ là tiếng nói của chính nhân vật đang cất lời, còn giọng của những người kia thì không.[1]

Tuy nhiên, tính nhân tạo không nhất thiết luôn mang sắc thái tiêu cực, vì nó cũng có thể phản ánh khả năng của con người trong việc tái tạo các hình thức hoặc chức năng vốn nảy sinh trong tự nhiên, chẳng hạn như tim nhân tạo hoặc trí tuệ nhân tạo. Nhà chính trị học và chuyên gia trí tuệ nhân tạo Herbert A. Simon nhận xét rằng “một số vật thể nhân tạo là sự mô phỏng những vật thể trong tự nhiên, và sự mô phỏng đó có thể sử dụng cùng những vật liệu cơ bản như vật thể tự nhiên hoặc những vật liệu hoàn toàn khác.[2] Simon phân biệt giữa cái nhân tạo và cái tổng hợp: loại thứ nhất là sự mô phỏng một thứ có trong tự nhiên (ví dụ, một chất tạo ngọt nhân tạo tạo ra vị ngọt bằng một công thức không tồn tại trong tự nhiên), còn loại thứ hai là sự tái tạo một thứ có trong tự nhiên (ví dụ, một loại đường được tạo ra trong phòng thí nghiệm nhưng về mặt hóa học không thể phân biệt với đường xuất hiện tự nhiên).[2] Một số nhà triết học còn đi xa hơn khi khẳng định rằng, trong một thế giới quyết định luận, “mọi thứ đều là tự nhiên và không có gì là nhân tạo”, bởi mọi thứ trong thế giới (bao gồm cả mọi thứ do con người tạo ra) đều là sản phẩm của các quy luật vật lý chi phối thế giới.[3]

Phân biệt vật thể tự nhiên với vật thể nhân tạo

Tập tin:Homebrew reaction diffusion example 512iter.jpg
Mẫu hình gợi nhớ đến một mô hình phản ứng–khuếch tán, được tạo ra bằng các thao tác làm sắc nét và làm mờ.

Thông thường, con người—và trong một số trường hợp, cả máy tính nữa[4]—có thể phân biệt môi trường tự nhiên với môi trường nhân tạo. Môi trường nhân tạo thường có tính quy luật vật lý cao hơn, cả về mặt không gian lẫn theo thời gian, trong khi môi trường tự nhiên có xu hướng sở hữu những cấu trúc bất quy tắc, luôn biến đổi theo thời gian.[5] Tuy vậy, khi quan sát kỹ, người ta vẫn có thể nhận ra một số cấu trúc toán học và mẫu hình trong tự nhiên, từ đó mô phỏng chúng để tạo ra một môi trường nhân tạo có vẻ ngoài tự nhiên hơn.[5]

Chẳng hạn, bằng cách nhận diện và bắt chước các cơ chế tự nhiên của sự hình thành mẫu hình, một số loại ôtômát đã được dùng để tạo ra các bề mặt kết cấu trông hữu cơ hơn, nhằm đem lại hiệu ứng đổ bóng chân thực hơn cho các đối tượng ba chiều.[6][7]

Xem thêm

Tham khảo

  1. Aristotle, Biện luận, (2004, Dover Publications, W.D. Ross, translator), p. 121.
  2. 1 2 Herbert A. Simon, The Sciences of the Artificial (1996), p. 4.
  3. Qinglai Sheng, Philosophical Papers (1993), p. 342.
  4. See generally, E. P. Baltsavias, A. Gruen, L. VanGool, Automatic Extraction of Man-made Objects from Aerial and Space Images, Volume 3 (2001).
  5. 1 2 Herman Kaken, "Recognition of Natural and Artificial Environments by Computers: Commonalities and Differences", in Juval Portugali, Complex Artificial Environments (2006), p. 31–48.
  6. Greg Turk, Reaction–Diffusion
  7. Andrew Witkin, Michael Kassy (1991). "Reaction-diffusion textures" (PDF). Proceedings of the 18th annual conference on Computer graphics and interactive techniques - SIGGRAPH '91. tr. 299–308. doi:10.1145/122718.122750. ISBN 0897914368. S2CID 207162368.