Bước tới nội dung

Người Hoa Nùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bản đồ Khu tự trị Nùng
Nhà ở người Hoa Nùng tại Sông Thao, Đồng Nai

Người Hoa Nùng là một nhánh của sắc tộc Hán tại Việt Nam. Họ từng sống đông đảo tại tỉnh Hải Ninh (cũ) trước khi di cư vào Nam năm 1954, nơi họ còn được gọi là người Hoa Hải Phòng theo địa điểm ngoài Bắc khi họ di cư.[1] Cộng đồng Hoa Nùng ở Hải Ninh được hợp thành từ những nhóm dân Tsín Lẩu, Ngái, Sán Dìu, và Hác Cá đã di cư tới đây trong nhiều đợt.[2] Họ không được chính quyền thời Pháp thuộc xếp vào người Hoa do các vấn đề chính trị, và được gọi là người Nùng theo công việc chính của họ là làm nông; họ không có liên hệ gần với người Nùng nói ngôn ngữ Tai. Người Hoa Nùng chủ yếu nói các phương ngữ của tiếng Khách Giatiếng Quảng Đông.[3]

Trong Chiến tranh Đông Dương, Khu tự trị Nùng có khoảng 60% dân số là người Hoa Nùng.[4] Nhiều người sau đó theo Vòng A Sáng di cư vào Nam sống tại các nơi như Bình Thuận, rồi Lâm Đồng, Đồng Nai. Sau năm 1975, nhất là với sự kiện nạn kiều năm 1978 và chiến tranh biên giới năm 1979, một lượng lớn người Hoa thành thị và người Hoa Nùng ở cả miền Bắc và miền Nam Việt Nam đã di tản sang Trung Quốc đại lục, hoặc Hương Cảng, Đài Loan, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, và các nước phương Tây khác. Người Hoa Nùng ở Việt Nam hiện nay được chính thức xếp vào người Hoa, hoặc người Ngái.

Chú thích

Xem thêm

Tham khảo

  • Trần Đức Lai, biên tập (2008). Người Nùng & Khu tự trị Hải Ninh Việt Nam. Hội Quân-Cán-Chính Hải-Ninh Việt-Nam.
  • Trần Đức Lai, biên tập (2013). The Nung Ethic and Autonomous Territory of Hai Ninh-Vietnam. Ngô Thanh Tùng biên dịch. Hai Ninh Veterans and Public Administration Alumni Association-Vietnam. ISBN 978-0-578-12004-1.
  • Xiaorong Han (2009). "Spoiled Guests or Dedicated Patriots? The Chinese in North Vietnam, 1954–1978". International Journal of Asian Studies. 6 (1). Cambridge University Press: 1–36. doi:10.1017/S1479591409000011. S2CID 145394772.
  • Nguyễn Văn Chính (2022). "Người Ngái ở Việt Nam: Lịch sử, văn hóa và ý thức về bản sắc". Tạp chí Dân tộc học (2 #230): 3–19.