Bước tới nội dung

Mộng Khê bút đàm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mộng Khê bút đàm
夢溪筆談
Bìa sách Mộng Khê bút đàm
Thông tin sách
Tác giảThẩm Quát
Quốc giaTrung Quốc
Ngôn ngữTiếng Trung
Thể loạiBút ký
Số trang26 quyển (bản gốc), 30 quyển (tính cả Bổ bút đàmTục bút đàm)

Mộng Khê bút đàm (chữ Hán: 夢溪筆談), còn gọi là Bút đàm (筆談), là tác phẩm bút ký của Trung Quốc thời Bắc Tống do Thẩm Quát biên soạn. Tác phẩm vốn gồm 26 quyển, chia 17 môn, ghi lại những điều tác giả thấy nghe cùng các ghi chép nghiên cứu. Hơn một phần ba nội dung bàn về các thành tựu khoa học kỹ thuật, trải từ thiên văn, toán học, vật lý, địa lý, y dược đến luật nhạc; vì vậy, sách trở thành tư liệu quan trọng cho nghiên cứu lịch sử khoa học kỹ thuật Trung Quốc. Ngoài khoa học kỹ thuật, sách còn ghi lại những trải nghiệm trong sự nghiệp quan trường của Thẩm Quát, các nhận xét về chính sách, cùng nhiều ghi chép về khảo cổ học, mỹ thuật, âm nhạc và các chuyện kỳ dị mà tác giả nghe thấy hoặc chứng kiến. Ấn bản Mộng Khê bút đàm hiệu chứng xuất bản năm 1956 gộp Mộng Khê bút đàm, Bổ bút đàmTục bút đàm thành 30 quyển, chia 609 điều, và là bản tiêu chuẩn thường được giới học thuật sử dụng.

Tên sách Mộng Khê bút đàm

Từ đời Tống, tác phẩm lưu truyền với hai tên gọi: một số thư mục (như Tống sử, Thông chí) chép là Bút đàm, trong khi một số khác (như Trực Trai thư lục giải đề, Văn hiến thông khảo) ghi là Mộng Khê bút đàm. Nhà mục lục học đời Thanh Chu Trung Phu cho rằng tên thứ nhất có thể là dạng tỉnh lược của tên thứ hai, nhưng cũng có ý kiến khác.[1]:155-156 Bản Mộng Khê bút đàm sớm nhất hiện nay biết được là bản khắc ở học quan châu Dương Châu vào năm Càn Đạo thứ hai thời Nam Tống (1166); lời đề bạt của bản này nêu rõ nhan đề là Bút đàm. Trong Mộng Khê tự ký, Thẩm Quát cũng gọi sách là Bút đàm; đến đời Minh, Tôn Mạnh khi đọc Độc thư chí thấy các trích dẫn đều gọi là Bút đàm, nên cho rằng hai chữ "Mộng Khê" do hậu nhân thêm vào. Theo khảo chứng của học giả hiện đại Tổ Huệ, "Mộng Khê" có thể là biệt hiệu của Thẩm Quát, tương tự trường hợp Hồng Mại Tùy bút bị ngộ xưng thành Dung Trai tùy bút.[1]:156-160

Tác giả Mộng Khê bút đàm

Tác giả Mộng Khê bút đàm là người Tiền Đường (Bắc Tống) Thẩm Quát (沈括, 1031–1095), nổi tiếng uyên bác.[2]:24-25 Ông nổi tiếng như một học giả kiểu "bách khoa" với tri thức rộng.[3]:269 Thẩm Quát từng giữ các chức như hiệu khảo (校勘) tại Chiêu Văn quán, đề cử Ty Thiên giám sự (提舉司天監事), kiểm thảo (檢討) tại Sử quán và hiệu lý (校理) tại Tập Hiền viện, nhờ đó có điều kiện đọc nhiều sách.

Ông cũng là một chính trị gia hoạt động tích cực,[2]:31、25 tham gia Biến pháp Vương An Thạch, từng làm Hàn lâm học sĩ và quyền Tam ty sứ phụ trách tài chính; với tư cách sát phóng sứ (察訪使), ông đi các địa phương khảo sát việc thi hành tân pháp. Sau khi tân pháp thất bại, ông bị phe cựu đảng liệt vào "danh sách đen" của phe tân đảng (xếp thứ 15 trong 30 người).[4]:351-352

Thẩm Quát chú trọng phát triển nông nghiệp; trước khi tham gia biến pháp từng chủ trì các công trình thủy lợi ở Thụy Thủy và Vạn Xuân Vi (khu vực Vu Hồ), trong thời kỳ biến pháp lại chủ trì chỉnh trị Biện Cừ. Ông từng quản Ty Thiên giám, chế tạo khí cụ thiên văn và cải cách lịch pháp (áp dụng lịch Phụng Nguyên lịch của Vệ Phác). Về quân sự, ông quản Quân khí giám nghiên cứu thành phòng, binh khí và chiến thuật; đi sứ Khiết Đan từng bác bỏ yêu sách của Liêu, và trong thời gian làm kinh lược sứ (經略使) ở Phủ Diên lộ ông đánh bại lực lượng Tây Hạ quấy nhiễu.[4]:353 Cuối đời, ông định cư tại Trấn Giang, tại Mộng Khê viên ghi lại những điều trải nghiệm và nghiên cứu để viết thành Mộng Khê bút đàm.[2]:25 Về niên đại biên soạn, có ý kiến cho rằng sách hoàn thành khoảng năm 1088,[5]:401 trong khi có ý kiến khác đặt vào đầu thập niên 1090.[3]:269

Theo ghi chép trong Tự chí, khi còn trẻ Thẩm Quát từng mơ thấy một phong cảnh đẹp: trên núi hoa rực rỡ, dưới núi có dòng suối trong; vì vậy ông tự xưng "Mộng Khê trượng nhân". Nhiều năm sau, ông mua một khu vườn ở Kinh Khẩu (nay thuộc Trấn Giang, Giang Tô), thấy cảnh sắc rất giống giấc mộng, nên đặt tên là "Mộng Khê viên". Mộng Khê bút đàm được ông hoàn thành tại đây, nên nhan đề "Mộng Khê" cũng bắt nguồn từ khu vườn này. Nghiên cứu khảo cổ và tư liệu thư tịch về sau còn xác nhận vị trí Mộng Khê viên ở ngoài cửa Chu Phương, ven Quan Hà tại Trấn Giang; trong vườn có dòng "Mộng Khê" và các cảnh quan như "Bách hoa đôi", phù hợp mô tả của Thẩm Quát.[6]

Thể loại và kết cấu Mộng Khê bút đàm

Mộng Khê bút đàm thuộc thể bút ký, ghi chép tùy bút về những điều thấy nghe và điều rút ra. Toàn bộ có 609 điều,[4]:354 quy vào 17 môn: 1. Cố sự (điển cố triều trước), 2. Biện chứng (biện luận sự vật và từ ngữ), 3. Luật nhạc (âm nhạc và luật số), 4. Tượng số (quy luật số học đằng sau hiện tượng), 5. Nhân sự (con người và nhân tình), 6. Quan chính (việc quan trường), 7. Ứng biến (quyền trí), 8. Nghệ văn (hoạt động hoặc phê bình nghệ văn), 9. Thư họa, 10. Kỹ nghệ (kỹ thuật và mẹo kỹ thuật), 11. Khí dụng (đồ khí quý hoặc cổ), 12. Thần kỳ (sự tích thần kỳ), 13. Dị sự (điều lạ và biến hóa), 14. Sai lầm (mậu ngộ), 15. Đùa cợt (cơ hí), 16. Tạp lục (tạp chí; ghi chép về các vấn đề "bên lề" hoặc phi chính thống), 17. Dược nghị (bàn về dược vật). Cách phân loại tri thức của sách thường được so sánh với truyền thống bách khoa như Thái Bình ngự lãm, nhưng thiên về đời sống đương thời và mang màu sắc "quan phương" rõ hơn.[3]:270

Khoa học kỹ thuật Mộng Khê bút đàm

Tri thức khoa học kỹ thuật chiếm hơn một phần ba nội dung toàn sách. Những đóng góp nổi bật tập trung ở thiên văn, toán học, vật lý, địa lý, y dược và luật nhạc,[4]:354 đồng thời cũng đề cập khí tượng, hóa học, luyện kim, binh khí, thủy lợi, kiến trúc và giới động thực vật.[2]:25

Thiên văn và lịch pháp

Sách mô tả quỹ đạo vận hành của "ngũ tinh" và cảnh tượng thiên thạch rơi.[2]:27 Tác phẩm cũng ghi việc Thẩm Quát quan sát vùng trời sao Bắc Cực rất tỉ mỉ: liên tiếp ba tháng, đêm nào cũng ghi chép, vẽ hơn hai trăm bản đồ sao để mô tả chuyển động của "Bắc thiên" (vùng trời phương bắc), qua đó xác định vị trí "cực" không đổi và cho rằng nó cách "Bắc Cực tinh" mà người đương thời gọi khoảng ba độ. Kết luận "ba độ" này về sau được xem là sai do đọc nhầm khí cụ, lẫn giữa góc nội tiếpgóc ở tâm khiến trị số bị nhân đôi lên; trong khi đó sách lại phê bình số liệu "hơn một độ" của Tổ Cảnh, vốn gần đúng hơn.[7]:292

Mộng Khê bút đàm còn ghi các nghiên cứu liên quan đồng hồ nước và suy diễn độ dài ngày đêm tại đông chí ("trăm khắc mà còn dư") và hạ chí ("chưa đến trăm khắc"). Trước bất cập của lịch âm dương truyền thống trong sắp đặt ngày lịch, sách nêu đề nghị dùng "thập nhị khí lịch": lấy "mười hai khí" làm một năm, lấy lập xuân làm đầu năm, "đại tận" 31 ngày và "tiểu tận" 30 ngày, còn biến hóa pha Mặt Trăng chỉ ghi ở phần chú lịch. Sách chép rằng đề nghị này từng bị chỉ trích, nhưng về sau sẽ có người chấp nhận.[2]:27-28

Toán học

Các vấn đề toán học tiêu biểu được nêu gồm "tích khích thuật" (隙積術) và "hội viên thuật" (會圓術). "Tích khích thuật" là kỹ thuật tính thể tích hoặc đếm số lượng trong những cấu trúc xếp chồng có khoảng rỗng, ví dụ bài toán xếp chum rượu theo từng lớp, mỗi lớp thu nhỏ dần để tạo hình như khối cụt.[3]:275 Đây là dạng bài toán tổng của dãy số kiểu cấp số cộng bậc cao (bài toán "đoạn tích"). "Hội viên thuật" là bài toán biết đường kính và độ cao của "cung" để suy ra độ dài cung tròn, với một công thức xấp xỉ được suy diễn trong sách.[2]:28 Sách cũng thảo luận số lượng biến hóa nước đi trong cờ vây (bàn 19×19), tiếp nối vấn đề do cao tăng Nhất Hành đặt ra, và dùng hình học để giải thích cách sử dụng "vọng sơn" (tương tự thước ngắm) trên nỏ.[4]:374

Vật lý

Về từ học, sách mô tả bốn cách lắp đặt la bàn và so sánh ưu khuyết. Tác phẩm ghi nhận hiện tượng kim nam châm "hơi lệch về đông, không hoàn toàn chỉ nam". Đây là một trong những ghi chép sớm về độ lệch từ, sớm hơn ghi chép Tây Âu khoảng vài trăm năm.[2]:28 Tác giả coi độ lệch này như một dạng "bất thường" không ổn định, nghi ngờ kỹ thuật kim từ có vấn đề và đề nghị dùng sợi tơ treo kim để "kim thường chỉ nam".[3]:285-286

Về quang học, sách ghi thí nghiệm về gương cầu lõm và ảnh: vật ở trong tiêu điểm cho ảnh cùng chiều, ở tiêu điểm không thành ảnh, ngoài tiêu điểm cho ảnh ngược. Sách thử dùng nguyên lý lỗ kim để giải thích hiện tượng ảnh ngược ngoài tiêu điểm, nhưng phần giải thích không hoàn toàn chính xác.[2]:28-29 Tác phẩm cũng quan sát kính thấu quang (透光鏡) và nêu cách giải thích dựa trên khác biệt tốc độ nguội khi đúc gương. Một số nghiên cứu về lịch sử kỹ thuật chế kính lại cho rằng hiệu ứng này liên quan nhiều hơn đến công đoạn mài, đánh bóng.[2]:28-29

Về âm học, sách ghi thí nghiệm "cộng hưởng" bằng hình người giấy đặt trên dây đàn: gảy dây tương ứng với họa âm (harmonic) thì hình giấy nhảy động, gảy dây khác thì không; qua đó minh chứng quan hệ cộng hưởng giữa âm cơ bản và họa âm. Sách cũng bàn cơ chế nhạc chung cổ dạng dẹt.[2]:29

Địa lý

Về địa lý, sách ghi lại việc Thẩm Quát khảo sát vùng Chiết Đông và quan sát địa mạo các đỉnh núi Nhạn Đãng sơn, từ đó nêu quan điểm giải thích bằng tác động tự nhiên của nước chảy gây xói mòn. Sách cũng liên hệ đặc trưng địa mạo vùng hoàng thổ phía tây Trung Quốc ("vách đất dựng đứng cao đến trăm thước") với cùng một cơ chế.[2]:29 Ở chân Thái Hành sơn, Thẩm Quát ghi thấy giữa vách núi có vỏ ốchến cùng sỏi như trứng chim "chạy ngang như dải", rồi suy đoán nơi này xưa là ven biển; đồng thời nêu ý rằng khoảng cách đến Biển Hoa Đông nay đã gần nghìn dặm, và "lục địa" hình thành do bùn cát bồi lấp.[2]:30

Sách còn chép việc Thẩm Quát thu thập tư liệu địa lý về sông núi và đường sá khi đi tuần thị, làm mô hình địa hình khắc gỗ;[4]:355 và việc phụng mệnh biên tu bản đồ toàn quốc: một trục đại địa đồ (khoảng 12×10 xích), một trục tiểu địa đồ, cùng bản đồ cho 18 "lộ", tổng cộng 20 trục. Sách mô tả việc tăng mô tả phương vị từ 8 lên 24 phương, đồng thời chú ý đo khoảng cách theo đường thẳng ngang ("số chim bay") để xác định tương đối vị trí các châu huyện chính xác hơn.[2]:30

Y học

Về dược vật học, sách dựa trên hiện vật để phân biệt các trường hợp "một vật nhiều tên" hoặc "nhiều vật một tên", hiệu chỉnh sai lầm trước đó; ví dụ nêu "Đỗ nhược" chính là "Cao lương khương", "Xích tiễn" là Thiên ma… Sách cũng bàn cách thu hái và sử dụng dược liệu, sửa nhiều chỗ nhầm lẫn.[2]:31 Phần "Dược nghị" thường được cho là trích từ trước tác Lương phương của Thẩm Quát, đặt ở cuối sách như phụ lục.[3]:277 Tác phẩm cũng nhắc lý thuyết y học "Ngũ vận lục khí"; sách chép Thẩm Quát từng vận dụng lý thuyết này để dự đoán một trận mưa lớn sau hạn hán, gây chú ý ở kinh sư.[3]:272

Công nghệ và thủ công

Sách nhiều lần khen ngợi kỹ nghệ của thợ thủ công cổ đại; chẳng hạn cho rằng kỹ thuật chế "đại giá ngọc lộ" đời Đường Cao Tông vượt xa kỹ thuật làm lộ đời Tống. Tác phẩm cũng bày tỏ tiếc nuối vì nhiều bí quyết đã thất truyền nên khó phục chế, khi bàn về các kỹ thuật và đồ khí cổ như gương thấu quang, gương "chiếu vật", cổ kiếm cổ đao, các loại nỏ xuất thổ…[7]:277

Đồng thời, sách ghi chép nhiều thành tựu kỹ thuật đương thời. Các ví dụ thường được nhắc đến gồm Mộc kinh của Dụ Hạo, kỹ thuật in chữ rời của Tất Thăng, phương pháp thi công "tam tảo" trong thủy công, kỹ thuật rèn nguội giáp, kỹ thuật "quán cương", các cách lắp kim từ, phương pháp luyện đồng, hệ thống cửa âu nhiều bậc trên kênh vận tải Hoài Nam, và cách đắp đê trong vùng nước cạn tại Tô Châu[2]:25、27

Các nội dung khác Mộng Khê bút đàm

Chính vụ

Mộng Khê bút đàm ghi lại những điều thấy nghe trong sự nghiệp quan trường của Thẩm Quát và những tri thức thực dụng ông tích lũy khi đảm trách nhiều chức vụ, như cách xây đồn lũy kiên cố hoặc phương pháp giải quyết vấn đề quân nhu; đồng thời có những suy ngẫm khi ông từng xử lý tài chính nhà Tống trong thời gian ngắn, liên quan cơ chế trao đổi muối và trà, cung ứng tiền bạc và cân bằng lưu thông, cùng chính sách giá thóc.[3]:273 Sách còn xét lại một số chính sách như trà pháp (茶法) của Trần Thứ, Diêm dẫn pháp (diêm sao pháp) của Phạm Tường, chế độ thủy cống do Đào Giám đặt ra (cửa cống trên kênh để thuyền bè qua lại), và chủ trương duy trì thương thuế của Phạm Trọng Yêm. Sách cũng nhắc biện pháp đời Đường của Lưu Án nhằm nắm giá thóc toàn quốc, và chép số lượng tiền đúc theo các thời kỳ nhà Tống, gắn với quan điểm về cung ứng và cân bằng tiền tệ.[3]:274 Ở mảng quân sự, sách bàn thành phòng, trận pháp, vận lương, cải tiến vũ khí như cung, nỏ, kiếm và binh xa, cùng luyện thép và rèn giáp sắt.[4]:355

Khảo cổ và nghệ thuật

Sách có hơn hai chục điều liên quan đến khảo cổ học, đề cập rìu đá, đồng khí Ân Chu, ngọc khí thời Chiến Quốc, tiền kim loại, đồng khí thời Hán, họa tượng thạch, ấn chương, cổ mộ Lục triều, các đồ trang sức, "phế thạch", tiền đồng, cùng vũ khí kim loại như nỏ đồng và kiếm sắt. Tác phẩm còn bàn hoa văn cổ khí, khai quật và khảo chứng cổ mộ, cổ thành,[4]:358-359 và dựa trên di vật khảo cổ để chỉ ra sai lầm của các sách như Tam lễ đồ của Niếp Sùng Nghĩa.[4]:363

Về nghệ thuật, sách bàn cách mô tả mèo và mẫu đơn dưới ánh nắng chính ngọ, kỹ pháp gảy tỳ bà ở một số âm nhất định, nhịp phách của âm nhạc thể hiện trong tranh, hình dạng hào quang sau lưng tượng Phật, lý do khi vẽ trâu hổ thì vẽ lông mà vẽ ngựa lại không, kỹ pháp thư pháp như "tàng phong" và bố cục nét bút, cùng cách lý giải vì sao trong tranh của Vương Duy lại có "chuối giữa tuyết". Sách phê bình quan niệm cho rằng thư pháp "không cần pháp", nhấn mạnh học thư pháp cần theo phép tắc và trung thực lâm mô mẫu mực tiền nhân.[3]:281-282 Sách cũng tính tuổi hai phi của Đế Thuấn lúc Thuấn băng đã đến trăm tuổi, và phê bình cách văn nhân mặc định "Hoàng Lăng nhị nữ" là thiếu nữ trẻ là bất kính.[3]:271

Kỳ văn dị sự

Sách ghi nhiều điều ngày nay bị xem là không "khoa học" theo tiêu chuẩn hiện đại, nhưng được trình bày như trải nghiệm hoặc chứng kiến: vân gỗ biến thành thư pháp Nhan Chân Khanh, trứng vịt "sáng trong", thịt sống biến thành bê con, người mắc bệnh lạ thân hình co nhỏ như trẻ em, khí của giaothận biến thành cảnh xe ngựa (có thể là ảo ảnh), rắn thận lột hóa thành đá, bảo kiếm co duỗi, trứng cá sấu nở thành cá hoặc đà/quy, lốc xoáy như "sừng dê", hoa văn băng hiện thành cây quả, mưa mưa đá như hình đầu người…[3]:275-276 Sách còn kể về tăng nhân Văn Tiệp được cho là có khả năng biết trước vận mệnh người khác, dự ngôn sự nghiệp và thọ mệnh của người thân Thẩm Quát là Thẩm Cấu và chức vụ sau khi chết.[5]:398-399、401 Tác phẩm cũng ghi chuyện ở Dương Châu có vật thể phát sáng bay trên mặt nước ("Trương xác đại châu"), ánh sáng rực rỡ, đi nhanh và xa; các sách nghiên cứu vật thể bay không xác định hiện đại thường nhắc đến điều này.[8]:9

Tác phẩm không vội quy kết các "kỳ thuật" cổ đại là lừa dối, và trong sách không dùng khái niệm "mê tín" theo nghĩa hiện đại; nội dung có bàn đến thuật ngũ hành trong Hồng phạm, các thuật chiêm bốc, phép gieo quẻ bằng cỏ thi, số "quá thiệp" của bát quái, nhiều loại "dịch pháp" (như nạp âm, nạp giáp) và "dịch tượng", cùng các hệ thống lục nhâm.[7]:278 Khi bàn "lục nhâm thuật", sách kiểm điểm cách giải thích truyền thống về "thập nhị thần tướng" và cho rằng thực tế chỉ có 11 thần tướng: "quý nhân" ở trung tâm, hai bên mỗi bên có năm thần tướng; vị cuối cùng "thiên không" đối diện quý nhân, hàm nghĩa "trời ở giữa rỗng không", nên tổng cộng chỉ 11.[7]:294 Toàn sách chỉ nhắc đến Chung Quỳ như một "quỷ".[8]:8

Phiên bản Mộng Khê bút đàm

Sau khi hoàn thành, sách đã được khắc in và lưu truyền. Các bản truyền thế ngày nay được cho là đều bắt nguồn từ bản khắc ở học quan châu Dương Châu thời Nam Tống (1166). Trong đó, bản khắc lại của họ Trần ở Trà Lăng (1305, đời Nguyên) do khắc in tinh xảo, chỉ còn một bản cô, thường được coi là cực hiếm. Sau khi Mộng Khê bút đàm ra đời, Thẩm Quát còn viết bút ký khác; hậu nhân biên từ bản thảo thành Bổ bút đàm (3 quyển), bản khắc sớm nhất hiện còn là bản cuối đời Vạn Lịch khắc in tại Bảo Nhan đường bí cấp. Sau đó Thương Tuấn khắc in thêm 11 thiên bút ký khác của Thẩm Quát vào Bại hải với nhan đề Tục bút đàm. Ba phần hợp thành 30 quyển, là bản được ghi nhận trong Tứ khố toàn thư.[9]:227

Năm 1956, Thượng Hải xuất bản Mộng Khê bút đàm hiệu chứng của Hồ Đạo Tĩnh, năm sau Bắc Kinh xuất bản Tân hiệu chính Mộng Khê bút đàm; cả hai đều đánh số toàn văn 30 quyển thành 609 điều.[9]:228 Mộng Khê bút đàm hiệu chứng được xem là bản tiêu chuẩn trong giới học thuật.[3]:271 Năm 1978, bản dịch tiếng Nhật do Mai Nguyên Úc chủ dịch được xuất bản trong tủ sách Đông Dương văn khố.[9]:228

Vị thế Mộng Khê bút đàm

Trong giới văn nhân thời Tống, Mộng Khê bút đàm là bút ký nổi tiếng; nội dung thường được các bút ký khác trích dụng và đem ra biện luận.[3]:269[8]:3 Tác phẩm là trước tác quan trọng của lịch sử khoa học kỹ thuật,[2]:27 và một số học giả nhận định đây là một "mốc tọa độ" trong lịch sử khoa học cổ đại Trung Quốc, dùng để đo lường các thành tựu khoa học kỹ thuật.[9]:226[8]:2 Sách cung cấp nhiều tư liệu trực tiếp về sáng tạo và phát minh,[9]:228 trong đó có ghi chép về in chữ rời của Tất Thăng, Mộc kinh của Dụ Hạo và chuyện cố định tháp gỗ, luyện thép ở lò rèn Từ Châu, hệ thống cửa âu nhiều bậc trên kênh vận tải Hoài Nam, và phương pháp đắp đê dài trong nước; các đóng góp của thợ thủ công này thường không được sử sách khác ghi, nên phần ghi chép trong Mộng Khê bút đàm được coi là tư liệu quan trọng cho nghiên cứu lịch sử khoa học kỹ thuật.[4]:356

Ở môn "Quan chính", sách chép một số con số và khoản tiền liên quan chính sách kinh tế của Vương An Thạch mà bút ký thời Tống ít thấy: như số lượng vận chuyển gạo trước và sau khi đặt thủy cống, số tiền đúc các thời kỳ, mức tối đa chi trả lương bổng cho lại nhân ở kinh sư, so sánh số thu trà sau khi áp dụng các loại trà pháp… Các số liệu tài chính này thường được đánh giá là khá chính xác, và có ý nghĩa lịch sử đáng kể khi đối chiếu với các ghi chép cùng loại trong Tống sử (Thực hóa chí).[3]:274 Một số ý kiến phê bình cho rằng sách "pha tạp" một số yếu tố mang tính phong kiến và thần bí như túc mệnh luận hay thuyết nhân quả báo ứng.[2]:31-32

Tham khảo Mộng Khê bút đàm

  1. 1 2 祖慧 (2011). 沈括评传. 南京: 南京大学出版社. ISBN 978-7-305-05985-8. OCLC 910572609.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 杜石然等 (1982). 《中國科學技術史稿》下冊 (bằng tiếng Trung). 北京: 科學出版社. ISBN 9787301200018.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 傅大為 (2002). "〈宋代筆記裡的知識世界:以《夢溪筆談》為例〉". 《法國漢學》 (bằng tiếng Trung). 6: 269–289.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 夏鼐 (2000). "〈沈括和考古學〉". 《考古學論文集》 (bằng tiếng Trung). 石家莊: 河北教育出版社. tr. 351–377. ISBN 9787543438699.
  5. 1 2 廖咸惠 (2018). "〈閒談、紀實與對話:宋人筆記與術數知識的傳遞〉" (PDF). 《清華學報》 (bằng tiếng Trung). 48:2: 387–418. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2019.
  6. "京江晚报多媒体数字报刊梦溪之名如何来?". szb.jsw.com.cn. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2025.
  7. 1 2 3 4 傅大為 (2010). "〈從文藝復興到新視野─—中國宋代的科技與《夢溪筆談》〉". Trong 祝平一 (biên tập). 《中國史新論:科技與中國社會分冊》 (bằng tiếng Trung). 臺北: 聯經出版事業股份有限公司. tr. 271–297. ISBN 9789860225709.
  8. 1 2 3 4 傅大為 (2015). "〈我研究《夢溪筆談》的幾個階段經驗與感想〉" (PDF). 《科學史通訊》 (bằng tiếng Trung). 39: 1–12. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2019.
  9. 1 2 3 4 5 胡道靜 (1981). "〈科技百科《夢溪筆談》和它的作者沈括〉". 《辭書研究》 (bằng tiếng Trung). 2: 226–233.

Đọc thêm Mộng Khê bút đàm