Bước tới nội dung

Liban

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Li băng)

Cộng hòa Liban
Tên bản ngữ

Quốc ca: 
Vị trí của Liban (xanh) trên thế giới
Vị trí của Liban (xanh) trên thế giới
Vị trí của Liban (đỏ) trong khu vực
Vị trí của Liban (đỏ) trong khu vực
Tổng quan
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Beirut
31°47′B 35°13′Đ / 31,783°B 35,217°Đ / 31.783; 35.217
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Ả Rập
Ngôn ngữ được công nhậnTiếng Ả Rập
Tiếng Pháp
Sắc tộc
(2021)[1]
Tôn giáo
(2024)[3][4]
  • 5.21% Druze
  • 0.08% Không tôn giáo
Tên dân cưNgười Liban
Chính trị
Chính phủĐơn nhất cộng hòa nghị viện
Joseph Aoun
Najib Mikati
 Chủ tịch Nghị viện
Nabih Berri
Lập phápNghị viện Liban
Lịch sử
Thành lập
1 tháng 9 năm 1920
 Hiến pháp Liban
23 tháng 5 năm 1926
 Liban tuyên bố độc lập
22 tháng 11 năm 1943
24 tháng 10 năm 1945
 Pháp rút quân khỏi Liban
17 tháng 4 năm 1946
 Israel rút quân khỏi Liban
24 tháng 5 năm 2000
 Syria rút quân khỏi Liban
30 tháng 4 năm 2005
Địa 
Diện tích 
 Tổng cộng
10.452 km2[a] (hạng 161)
4.036 mi2
 Mặt nước (%)
1,8%
Dân số 
 Ước lượng 2024
5.364.482[5] (hạng 117)
513/km2
1.329/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2022
 Tổng số
Tăng 78,233 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 108)
Tăng 11.793 đô la Mỹ[6] (hạng 114)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2022
 Tổng số
Tăng 21,78 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 103)
 Bình quân đầu người
Tăng 3.283 đô la Mỹ[6] (hạng 133)
Đơn vị tiền tệBảng Liban (LBP)
Thông tin khác
Gini? (2011)Giảm theo hướng tích cực 31.8[7]
trung bình
HDI? (2022)Tăng 0.723[8]
cao · hạng 109
Múi giờUTC+2 (EET)
 Mùa  (DST)
UTC+3 (EEST)
Giao thông bênphải[9]
 điện thoại+961[10]
 ISO 3166LB
Tên miền Internet

Liban (tiếng Ả Rập: لبنان Libnān; IPA: [lɪbˈnæːn]), quốc hiệu chính thức là Cộng hòa Liban (tiếng Ả Rập: الجمهورية اللبنانية al-Jumhūrīyah al-Lubnānīyah; IPA: [elˈʒʊmhuːɾɪjje l.ˈlɪbnæːnɪjje]), là một quốc gia ở Trung Đông. Liban có nhiều núi, nằm cạnh bờ biển đông của Địa Trung Hải, giáp với Syria về phía Bắc và Đông, Israel về phía nam, nước này có bờ biển hẹp dọc theo ranh giới phía Tây.

Trước nội chiến (1975-1990), Liban là một quốc gia thịnh vượng. Sau nội chiến, cho tới tháng 6 năm 2006, tình trạng căng thẳng chính trị mới dần được cải thiện. Tuy nhiên, xung đột giữa Israel và Hezbollah đã ảnh hưởng lớn đến quốc gia này.

Tên gọi

Cái tên Liban (cũng được viết là "Loubnan" hay "Lebnan") có nguồn gốc từ nhóm ngôn ngữ Semit, nghĩa là "trắng", để chỉ đỉnh núi tuyết phủ ở núi Liban.

Lịch sử

Từ đầu thiên niên kỉ 3 TCN, người Canaan và người Phoenicia đến xâm chiếm các vùng ven biển và lập các thành bang (Babylon, Berytos, Sidon và Tyr). Từ thế kỷ VII TCN, đến thế kỷ I TCN, vùng lãnh thổ này lần lượt rơi vào ách thống trị của các đế quốc Assyria, Babylon, Ba TưHy Lạp, rồi sáp nhập vào tỉnh Syria thuộc quyền kiểm soát của người La Mã (Thế kỷ I TCN), người Byzantine. Vào thế kỷ VII, cuộc chinh phục của người Ả Rập đã đẩy lùi những cộng đồng người Kitô giáo về phía các miền núi. Vùng này bị người Franc chiếm đóng (1098-1291), rồi đến người Ai Cập trước khi hoàn toàn rơi vào sự thống trị của đế quốc Ottoman (1516).

Từ thế kỷ XVII, các tiểu vương quốc Hồi giáo người Druze đã thống nhất vùng núi Liban và tìm cách giành quyền tự trị, trong khi ảnh hưởng của cộng đồng Công giáo Maronite ngày càng lớn mạnh. Năm 1861, tiếp theo những xung đột giữa cộng đồng Hồi giáo và cộng đồng Công giáo, Pháp đã can thiệp nhằm bảo vệ người Công giáo và thành lập vùng tự trị Mont-Liban cho người Công giáo năm 1864. Sau Chiến tranh thế giới thứ I, Liban trở thành lãnh thổ ủy trị của Pháp. Năm 1943, Liban tuyên bố độc lập. Một "Hiệp ước dân tộc" được ký kết nhằm duy trì sự cân bằng quyền lực chính trị giữa các cộng đồng Hồi giáo Sunni, Shiangười Druze, Chính thống Hy Lạp và Chính thống Armenia. Chức vụ Tổng thống thuộc về một thành viên thuộc cộng đồng người Maronite nhờ ưu thế đa số của người Cơ Đốc giáo, Thủ tướng là một người Hồi giáo Sunni; Chủ tịch nghị viện là một người Hồi giáo Shi'a.

Năm 1945, Liban tham gia thành lập Liên minh Ả Rập.

Thịnh vượng kinh tế đi kèm theo những gia tăng bất công xã hội làm phát sinh những căng thẳng giữa các cộng đồng, dẫn đến cuộc nội chiến đầu tiên năm 1958. Quân đội Hoa Kỳ được gởi đến theo yêu cầu của Tổng thống Camille Chamoun và rút quân sau khi thành lập chính quyền mới.

Năm 1967, sau cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948, người Palestine ồ ạt chạy sang lánh nạn ở Liban. Sự hiện diện của khoảng 350.000 người tị nạn PalestineTổ chức Giải phóng Palestine (PLO) bị Jordan trục xuất (1970- 1971) đã khiến cho cuộc nội chiến lần thứ hai bùng nổ năm 1976. Tình hình trở nên trầm trọng hơn khi quân đội Syria hiện diện ở một phần lãnh thổ Liban (1976) và sự can thiệp quân sự của Israel (1978). Năm 1982, quân đội Israel phong tỏa thủ đô Beyrouth và đánh đuổi lực lượng vũ trang của tổ chức PLO. Năm 1985, quân đội Israel rút khỏi Liban, nhưng vẫn duy trì sự hiện diện ở phần lãnh thổ phía nam, được gọi là "vùng an toàn". Cuộc nội chiến vẫn tiếp tục kéo dài tình hình càng trở nên phức tạp hơn do những cuộc đối đầu giữa các khuynh hướng Hồi giáo khác nhau. Từ năm 1985, nhóm Hồi giáo Hezbollah gia tăng các vụ bắt cóc con tin người phương Tây. Tình hình này đã khiến cho quân đội Syria quay trở lại chiếm đóng ở Tây Beyrouth năm 1987. Nhiệm kì của Tổng thống Amine Gemayel kết thúc năm 1988 nhưng không có cuộc bầu cử người kế nhiệm. Hai chính phủ được hình thành: một chính phủ thuộc dân sự và Hồi giáo do Selim Hoss lãnh đạo đặt trụ sở tại Tây Beyrouth, chính phủ còn lại thuộc về giới quân sự và người Cơ Đốc giáo do Tướng Michel Aoun lãnh đạo có trụ sở ở Đông Beyrouth. Năm 1989, Elias Hraoui trở thành Tổng thống. Hiến pháp mới năm 1990 thành lập Đệ Nhị Cộng hòa ở Liban đồng thời thừa nhận lại các thỏa thuận được ký kết tại Taif năm 1989. Thoả thuận được ký kết tại Taif dự kiến lập lại sự cân bằng đại diện hợp pháp giữa các cộng đồng Hồi giáo và cộng đồng Cơ Đốc giáo trong đó quân đội Liban được sự ủng hộ của Syria đã chấm dứt cuộc đối đầu của tướng Aoun. Năm 1991, hiệp ước Damascus lập quyền bảo hộ của Syria tại Liban. Năm 1996, cuộc chiến giữa tổ chức Hezbollahquân đội Israel lại diễn ra ác liệt ở miền Nam Liban. Tháng 5 năm 2000, quân đội Israel rút quân khỏi miền Nam Liban, nhưng tình trạng xung đột giữa Israel và tổ chức Hồi giáo Hezbollah vẫn tiếp tục diễn ra.[11]

Vụ ám sát cựu Thủ tướng Rafik Hariri ngày 2 tháng 2 năm 2005 làm dấy lên các cuộc biểu tình chống lại sự hiện diện của quân đội Syria tại Liban và buộc Syria rút hết quân khỏi Liban tháng 4 năm 2005. Tháng 5 và tháng 6 năm 2005, Liban tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên sau nội chiến không có sự can dự của nước ngoài dẫn đến thắng lợi cho liên minh của Saad Hariri (con trai cựu Thủ tướng Hariri bị sát hại) chiếm gần 2/3 số ghế Quốc hội. Sau 18 tháng khủng hoảng chính trị và 6 tháng bỏ trống ghế tổng thống, ngày 25 tháng 5 năm 2008. Quốc hội Liban đã bầu ông Michel Suleiman làm Tổng thống mới, chấm dứt cuộc khủng hoảng chính trị nói trên. Tuy nhiên, sau khi nhiệm kỳ ông Michel Suleiman kết thúc, khủng hoảng lại xảy ra. Ghế tổng thống bị bỏ trống hơn hai năm. Trong khi đó, chính phủ thì tê liệt và xảy ra một cuộc khủng hoảng rác. Ngày 31 tháng 10 năm 2016, sau hơn 30 cuộc họp, nghị viện đã bầu ông Michel Aoun, cựu tướng quân đội, từng làm tổng thống từ năm 1988 đến năm 1990 làm tổng thống,[12] và ngày 18 tháng 12, Saad Hariri được bổ nhiệm làm thủ tướng, chấm dứt khủng hoảng.

Khủng hoảng quốc gia (2019–nay)

Các cuộc biểu tình năm 2019 mang tính phi giáo phái, xóa bỏ sự chia rẽ xã hội và tôn giáo giữa người Hồi giáo Sunni–Shia và người Công giáo.

Vào ngày 17 tháng 10 năm 2019, cuộc biểu tình dân sự quy mô lớn đầu tiên trong một loạt các cuộc biểu tình đã bùng nổ;[13][14][15] ban đầu được kích ngòi bởi dự định đánh thuế xăng dầu, thuốc lá và các cuộc gọi trực tuyến qua các ứng dụng như WhatsApp,[16][17][18] nhưng nhanh chóng mở rộng thành làn sóng lên án chế độ cai trị phân chia giáo phái trên toàn quốc,[19] phản đối nền kinh tế đình trệ và cuộc khủng hoảng thanh khoản, tình trạng thất nghiệp, nạn tham nhũng tràn lan trong khu vực công,[19] các quy định pháp luật (như bảo mật ngân hàng) vốn được coi là tấm khiên bảo vệ tầng lớp cầm quyền khỏi trách nhiệm giải trình,[20][21] cũng như việc chính phủ thất bại trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản như điện, nước và vệ sinh.[22]

Các nữ biểu tình tạo thành một hàng rào ngăn cách giữa cảnh sát chống bạo động và những người biểu tình tại Riad el Solh, Beirut; ngày 19 tháng 11 năm 2019.

Hệ quả của các cuộc biểu tình là Liban rơi vào khủng hoảng chính trị, Thủ tướng Saad Hariri đã nộp đơn từ chức và hưởng ứng yêu cầu của người biểu tình về một chính phủ gồm các chuyên gia độc lập.[23] Tuy nhiên, các chính trị gia khác bị nhắm tới trong cuộc biểu tình vẫn tiếp tục nắm quyền. Vào ngày 19 tháng 12 năm 2019, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục Hassan Diab được chỉ định làm thủ tướng tiếp theo và được giao nhiệm vụ thành lập nội các mới.[24] Các cuộc biểu tình và hành động bất tuân dân sự vẫn tiếp diễn sau đó, khi người biểu tình phản đối và lên án việc chỉ định ông Diab làm thủ tướng.[25][26][27] Liban hiện đang phải hứng chịu cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ.[28][29]

Liban là quốc gia đầu tiên ở Trung Đông và Bắc Phi ghi nhận tỷ lệ lạm phát vượt mức 50% trong 30 ngày liên tiếp, theo Steve H. Hanke, giáo sư kinh tế học ứng dụng tại Đại học Johns Hopkins.[30] Vào ngày 4 tháng 8 năm 2020, một vụ nổ tại cảng Beirut, cảng chính của Liban, đã phá hủy các khu vực lân cận, làm hơn 200 người thiệt mạng và hàng nghìn người khác bị thương. Nguyên nhân vụ nổ sau đó được xác định là do 2.750 tấn amoni nitrat được lưu trữ không an toàn và vô tình bốc cháy vào chiều thứ Ba hôm đó.[31] Các cuộc biểu tình đã tiếp diễn chỉ vài ngày sau vụ nổ, dẫn đến việc Thủ tướng Hassan Diab và nội các của ông từ chức vào ngày 10 tháng 8 năm 2020, mặc dù vẫn tiếp tục điều hành trong vai trò tạm quyền.[32] Làn sóng biểu tình kéo dài sang năm 2021 khi người dân Liban chặn các con đường bằng lốp xe cháy để bày tỏ sự bất mãn với tình trạng nghèo đói và cuộc khủng hoảng kinh tế.

Vào ngày 11 tháng 3 năm 2021, Bộ trưởng Bộ Năng lượng tạm quyền Raymond Ghajar cảnh báo rằng Liban đang đối mặt với nguy cơ "tối đen hoàn toàn" vào cuối tháng nếu không có kinh phí để mua nhiên liệu cho các nhà máy điện.[33] Vào tháng 8 năm 2021, một vụ nổ nhiên liệu lớn tại miền Bắc Liban đã khiến 28 người thiệt mạng.[34] Tháng 9 cùng năm đánh dấu sự thành lập của một nội các mới do cựu thủ tướng Najib Mikati đứng đầu.[35] Ngày 9 tháng 10 năm 2021, toàn bộ quốc gia mất điện trong suốt 24 giờ sau khi hai nhà máy điện chính cạn kiệt năng lượng do tình trạng thiếu hụt ngoại tệ và nhiên liệu.[36] Vài ngày sau đó, bạo lực giáo phái tại Beirut đã khiến nhiều người thiệt mạng trong các cuộc đụng độ đẫm máu nhất tại quốc gia này kể từ năm 2008.[37] Đến tháng 1 năm 2022, BBC News đưa tin cuộc khủng hoảng tại Liban ngày càng sâu sắc khi giá trị đồng Bảng Liban sụt giảm mạnh và cuộc tổng tuyển cử theo kế hoạch có nguy cơ bị trì hoãn vô thời hạn.[38] Việc hoãn bầu cử quốc hội được cho là sẽ kéo dài tình trạng bế tắc chính trị. Nghị viện châu Âu đã gọi tình hình hiện tại của Liban là một "thảm họa nhân tạo gây ra bởi một nhóm người trong tầng lớp chính trị".[39]

Vào tháng 5 năm 2022, Liban tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế đau đớn đẩy quốc gia này đến bờ vực trở thành một quốc gia thất bại. Khủng hoảng tại Liban trầm trọng đến mức Liên Hợp Quốc đánh giá có hơn 80% dân số hiện đang sống trong cảnh nghèo đói.[40] Trong cuộc bầu cử, phong trào Hồi giáo Shia Hezbollah (cùng các đồng minh) đã mất thế đa số trong quốc hội. Bản thân Hezbollah không mất ghế nào, nhưng các đối tác liên minh của họ thì có. Đồng minh của Hezbollah là Phong trào Yêu nước Tự do của Tổng thống Michel Aoun không còn là đảng Công giáo lớn nhất sau bầu cử. Thay vào đó, đảng đối địch Lực lượng Liban do Samir Geagea dẫn đầu đã trở thành đảng dựa trên nền tảng Công giáo lớn nhất trong quốc hội. Phong trào Tương lai của người Sunni do cựu thủ tướng Saad Hariri dẫn đầu đã không tham gia tranh cử, để lại một khoảng trống chính trị cho các chính khách Sunni khác lấp đầy.[41][42][43] Cuộc khủng hoảng ở Liban trở nên khắc nghiệt đến mức nhiều con thuyền chở người di cư đã rời bờ biển trong nỗ lực tuyệt vọng để thoát khỏi đất nước; nhiều chuyến đi đã thất bại và dẫn đến tử vong. Vào tháng 4 năm 2022, 6 người chết và khoảng 50 người được giải cứu sau khi một con tàu quá tải bị chìm tại Tripoli. Và vào ngày 22 tháng 9, ít nhất 94 người thiệt mạng khi một con thuyền chở người di cư từ Liban bị lật ngoài khơi bờ biển Syria; chỉ 9 người sống sót và nhiều người khác mất tích. Xác người tử nạn được đưa đến các bệnh viện lân cận, và tính đến ngày 24 tháng 9 vẫn còn 40 người mất tích.[44] Vào ngày 1 tháng 2 năm 2023, Ngân hàng Trung ương Liban đã phá giá đồng Bảng Liban tới 90% giữa bối cảnh khủng hoảng tài chính đang diễn ra.[45] Đây là lần đầu tiên Liban phá giá tỷ giá hối đoái chính thức sau 25 năm.[46] Tính đến năm 2023, Liban được coi là đã trở thành một quốc gia thất bại, chìm trong nghèo đói kinh niên, quản lý kinh tế yếu kém và sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng.[47]

Chiến tranh Gaza đã châm ngòi cho một cuộc xung đột mới giữa Israel và Hezbollah.[48] Hezbollah tuyên bố sẽ không ngừng tấn công Israel cho đến khi Israel chấm dứt các cuộc tấn công tại Dải Gaza.[49] Bắt đầu với vụ nổ máy nhắn tin và bộ đàm tại Liban do phía Israel thực hiện vào tháng 9 năm 2024,[50] cuộc xung đột đã leo thang nghiêm trọng,[51] với loạt không kích của Israel vào Liban ngày 23 tháng 9 năm 2024 khiến ít nhất 558 người thiệt mạng,[52] đồng thời châm ngòi cho một làn sóng tháo chạy quy mô lớn từ miền Nam Liban.[53] Vào ngày 27 tháng 9 năm 2024, thủ lĩnh Hezbollah Hassan Nasrallah đã tử nạn trong một cuộc không kích của Israel.[54] Đến ngày 1 tháng 10 năm 2024, Israel tiến hành xâm lược Liban với mục tiêu phá hủy cơ sở hạ tầng của Hezbollah ở miền Nam nước này.[55] Vào tháng 11 năm 2024, một thỏa thuận ngừng bắn đã được ký kết giữa Israel và nhóm vũ trang Hezbollah nhằm chấm dứt 13 tháng xung đột. Theo thỏa thuận, Hezbollah có 60 ngày để chấm dứt sự hiện diện vũ trang ở miền Nam Liban và các lực lượng Israel có nghĩa vụ rút khỏi khu vực này trong cùng khoảng thời gian đó.[56]

Sự sụp đổ của chế độ Ba'ath của Assad tại Syria là một đòn giáng mạnh khác vào đồng minh tại Liban là Hezbollah, vốn đã bị suy yếu đáng kể do các hành động quân sự của Israel.[57] Sự thay đổi chế độ tại Syria vào tháng 12 năm 2024 được cho là đã mở ra một chương mới trong nền chính trị Liban.[58] Vào tháng 1 năm 2025, Joseph Aoun, tư lệnh quân đội Liban, đã được bầu làm tổng thống thứ 14 của nước này sau hai năm để trống vị trí.[59] Đến tháng 2 năm 2025, Thủ tướng Nawaf Salam, cựu chủ tịch Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), đã thành lập một chính phủ mới gồm 24 bộ trưởng sau hai năm quốc gia này được điều hành bởi nội các tạm quyền.[60] Vào ngày 26 tháng 2 năm 2025, chính phủ của ông Nawaf Salam đã giành được phiếu tín nhiệm tại quốc hội.[61]

Chính trị

Liban là một nước cộng hòa trong đó ba chức vụ cao nhất được dành cho các thành viên thuộc các nhóm tôn giáo cụ thể:

Sự sắp đặt này là một phần của "Hiệp ước Quốc gia" (tiếng Ả Rập: الميثاق الوطني - al Mithaq al Watani), một thỏa thuận không được ghi thành văn bản được đưa ra năm 1943 trong cuộc gặp gỡ giữa tổng thống đầu tiên của Liban (một tín đồ Maronite) và thủ tướng đầu tiên (một tín đồ Sunni), dù nó không được chính thức hóa trong Hiến pháp Liban cho tới tận năm 1990, tiếp sau Thỏa thuận Taif. Hiệp ước gồm cả một lời hứa của những người Kitô giáo không tìm kiếm sự bảo vệ của Pháp và chấp nhận "bộ mặt Ả Rập" cho Liban, và lời hứa của người Hồi giáo công nhận sự độc lập và tính hợp pháp của nhà nước Liban trong biên giới được vạch ra năm 1920 và từ bỏ tham vọng liên bang với Syria. Hiệp ước này dù khi ấy chỉ là một thỏa hiệp tạm thời, vẫn rất cần thiết cho tới khi Liban thật sự có được một sự đồng nhất quốc gia. Nó vẫn tiếp tục hiện diện và các cuộc nội chiến tiếp diễn sau đó tiếp tục có ảnh hưởng thống trị tới chính trị Liban.

Hiệp ước cũng quy định rằng số ghế trong Nghị viện phải được phân chia theo tôn giáo và theo vùng, với tỷ lệ 6 thành viên Kitô giáo trên 5 thành viên Hồi giáo, một tỷ lệ dựa trên cuộc điều tra dân số năm 1932, được tiến hành ở thời điểm các tín đồ Kitô giáo vẫn chiếm một đa số nhỏ. Thỏa thuận Taif thêm rằng tỷ lệ số ghế của hai tôn giáo sẽ là ngang nhau.

Hiến pháp cho phép người dân thay đổi chính phủ. Mặc dù, từ giữa thập niên 1970 cho tới cuộc bầu cử nghị viện năm 1992, cuộc nội chiến đã không cho phép người dân thực thi quyền này. Theo hiến pháp, các cuộc bầu cử nghị viện trực tiếp phải được tiến hành bốn năm một lần.

Thành phần nghị viện dựa trên sắc tộc và tôn giáo nhiều hơn ý thức hệ. Sự phân chia số ghế trong nghị viện gần đây đã được thay đổi.

Nghị viện bầu ra Tổng thống nước cộng hòa với nhiệm kỳ sáu năm. Tổng thống bị cấm giữ nhiệm kỳ liên tục. Quy định hiến pháp này đã được thông qua bởi hai lần sửa đổi gần đây, tuy nhiên, dưới sức ép của chính phủ Syria. Nhiệm kỳ của Elias Hrawi đúng ra đã kết thúc năm 1995, nhưng được kéo dài thêm ba năm nữa. Việc này lại được lặp lại năm 2004 cho phép Emile Lahoud tiếp tục giữ ghế tới năm 2007. Những người ủng hộ dân chủ đã phản đối những hành động này.

Tổng thống chỉ định Thủ tướng dựa trên sự đề xuất của Nghị viện. Liban có nhiều đảng chính trị, nhưng vai trò của chúng kém quan trọng trong đa số các hệ thống nghị viện. Trên thực tế, đa số chỉ đại diện cho quyền lợi của riêng mình; nhiều người trong số họ được lọt vào danh sách ứng cử viên chỉ vì là người nổi tiếng trong nước hay trên thế giới. Phiếu bầu thường dựa theo các cuộc đàm phán giữa các lãnh đạo địa phương, lãnh đạo dòng họ, các nhóm tôn giáo và các đảng chính trị; những liên minh lỏng lẻo này chỉ tồn tại trong thời gian bầu cử và hiếm khi hợp tác chặt chẽ với nhau thành một khối trong Nghị viện sau đó.

Hệ thống tư pháp Liban dựa trên Luật Napoléon. Các bồi thẩm đoàn không hiện diện tại các phiên xử. Hệ thống tòa án Liban có ba mức - tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm, và tòa phá án. Cũng có một hệ thống tòa án tôn giáo có quyền tái phán đối với các cá nhân bên trong cộng đồng của họ, phán xử các vụ như hôn nhân, ly dị, và thừa kế. Luật pháp Liban không quản lý hôn nhân dân sự (dù nó vẫn quản lý các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài); những nỗ lực của cựu Tổng thống Elias Hrawi nhằm hợp pháp hóa hôn nhân vào cuối thập kỷ 1990 về vấn đề này chỉ nhận được sự phản đối từ các giáo sĩ Hồi giáo. Ngoài ra, Liban có một hệ thống các tòa án quân sự cũng có quyền tài phán đối với cá nhân dân sự đối với các tội như gián điệp, phản bội, và các tội khác bị coi có liên quan tới an ninh. Các tòa án quân sự này bị các tổ chức nhân quyền như Ân xá quốc tế chỉ trích vì "vi phạm nghiêm trọng các tiêu chuẩn quốc tế về xét xử công bằng" và có "quyền tài phán quá rộng đối với các công dân".

Quan hệ đối ngoại

Trụ sở Liên Hợp Quốc tại Beirut, Liban

Liban đã hoàn tất các cuộc đàm phán về hiệp định liên kết với Liên minh châu Âu vào cuối năm 2001, và cả hai bên đã ký tắt hiệp định vào tháng 1 năm 2002. Quốc gia này nằm trong Chính sách Láng giềng châu Âu (ENP) của Liên minh châu Âu, nhằm mục đích đưa EU và các nước láng giềng xích lại gần nhau hơn. Liban cũng có các hiệp định thương mại song phương với một số quốc gia Ả Rập và đang nỗ lực để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

Liban duy trì quan hệ tốt đẹp với hầu hết các quốc gia Ả Rập khác (bất chấp những căng thẳng lịch sử với LibyaSyria), và lần đầu tiên sau hơn 35 năm, nước này đã đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả Rập vào tháng 3 năm 2002. Liban là thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ và từng đăng cai Hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ vào tháng 10 năm 2002 cũng như Đại hội Thể thao Pháp ngữ vào năm 2009.

Quân sự

Các binh sĩ thuộc Quân đội Liban, năm 2009

Quân đội Liban (LAF) có 72.000 quân thường trực,[62] bao gồm 1.100 người thuộc lực lượng không quân và 1.000 người thuộc lực lượng hải quân.[63] Nhiệm vụ chính của Quân đội Liban bao gồm bảo vệ đất nước và công dân trước sự xâm lược từ bên ngoài, duy trì sự ổn định và an ninh nội bộ, đối phó với các mối đe dọa chống lại lợi ích sống còn của quốc gia, tham gia vào các hoạt động phát triển xã hội và thực hiện các hoạt động cứu trợ phối hợp với các tổ chức công và nhân đạo.[64]

Liban là quốc gia nhận viện trợ quân sự nước ngoài lớn.[65] Với hơn 400 triệu đô la kể từ năm 2005, đây là quốc gia nhận viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ tính trên đầu người lớn thứ hai sau Israel.[66]

Quân đội Liban được đánh giá là ít quyền lực và ít tầm ảnh hưởng hơn so với Hezbollah tại Liban. Hezbollah tuyên bố có khoảng 100.000 nhân sự, bao gồm 20.000 tay súng thường trực và 20.000 quân dự bị, đồng thời được cung cấp các loại vũ khí tiên tiến bao gồm tên lửa và máy bay không người lái từ Iran.[67][68] Nhóm này sở hữu "kho pháo binh lớn hơn hầu hết các quốc gia trên thế giới."[68] Một báo cáo từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) năm 2018 đã gọi đây là "tác nhân phi quốc gia được vũ trang mạnh nhất thế giới."[68] Tính đến tháng 6 năm 2024, các chuyên gia ước tính Hezbollah sở hữu từ 150.000 đến 200.000 tên lửa và đạn lửa với các tầm bắn khác nhau.[68]

Hezbollah kiểm soát hiệu quả phần lớn miền Nam Liban và có sức mạnh quân sự lớn hơn cả quân đội chính quy của Liban.[69] Chính phủ Liban đã không thể hoặc không sẵn lòng ngăn chặn các cuộc tấn công của Hezbollah vào Israel, cũng như xung đột bạo lực giữa Israel và Hezbollah tại miền Nam Liban.[68]

Các vùng hành chính

Liban được chia thành sáu tỉnh (muhafazah, số nhiều muhafazat); các tỉnh này lại được chia thành 25 quận (qadaa, số nhiều aqdya), dưới nữa là nhiều khu đô thị bao quanh một nhóm các thành phố hay làng mạc.

  • Tỉnh;
  • Quận;
  • Thể loại: Các thành phố và làng mạc tại Liban.
Phân chia hành chính

Địa lý

Là một quốc gia ở phía tây vùng Trung Đông, Liban giáp với Địa Trung Hải ở phía tây (bờ biển: 225 km) và phía đông giáp với Vùng trũng Syria-Châu Phi. Liban có 375 km biên giới ở phía bắc với Syria và 79 km biên giới ở phía nam với Israel. Biên giới với Israel đã được Liên hiệp quốc thông qua (xem Đường Xanh (Liban)), dù một phần lãnh thổ nhỏ, gọi là Shebaa Farms nằm trong Cao nguyên Golan được Liban tuyên bố chủ quyền nhưng bị Israel chiếm đóng, Israel tuyên bố trên thực tế vùng đất này thuộc Syria. Liên hiệp quốc đã chính thức tuyên bố vùng này thuộc Syria và không phải lãnh thổ của Liban, nhưng Hezbollah thỉnh thoảng tung ra các đợt tấn công vào Israeli vào các vị trí bên trong đó, với danh nghĩa giải phóng lãnh thổ Liban.

Kinh tế

Liban có một nền kinh tế thị trường đang phát triển. Kinh tế theo định hướng lấy dịch vụ làm chủ đạo, các lĩnh vực tăng trưởng chính bao gồm ngân hàngdu lịch. Không hề có hạn chế trao đổi ngoại tệ hay di chuyển đồng vốn, và độ bảo mật ngân hàng rất chặt chẽ. Đặc biệt không hề có hạn chế đối với đầu tư nước ngoài. Tính đến năm 2016, GDP danh nghĩa của Liban đạt 51.815 tỷ USD, đứng thứ 80 thế giới, đứng thứ 28 châu Á và đứng thứ 10 Trung Đông.

Cuộc nội chiến giai đoạn 1975-1991 đã tàn phá nghiêm trọng hạ tầng kinh tế Liban, làm giảm một nửa sản lượng sản xuất, và chấm dứt vị trí trung tâm phân phối vùng đông Trung Đông và đầu mối ngân hàng của nước này. Hòa bình giúp chính phủ trung ương tái kiểm soát quyền lực ở Beirut, bắt đầu thu thuế và tái kiểm soát cảng biển chính và các cơ sở chính phủ. Kinh tế hồi phục nhờ một hệ thống tài chính ngân hàng lành mạnh và nhờ sự phục hồi nhanh chóng các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa với các khoản tiền hỗ trợ gia đình gửi về từ nước ngoài, các dịch vụ ngân hàng, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, trợ giúp nước ngoài và các nguồn trao đổi ngoại tệ.

Trong những năm qua, nền kinh tế Liban đã có bước phát triển đáng kể. Mức tài sản của các ngân hàng đạt tới tới hơn 70 tỷ dollar. Thậm chí với mức giảm sút 10% trong lĩnh vực du lịch năm 2005, vẫn có hơn 1.2 triệu khách du lịch đã tới nước này. Sự tư bản hóa thị trường đang ở mức cao nhất. Tư bản hóa đạt hơn 7 tỷ dollar vào cuối tháng 1 năm 2006. Tuy nhiên, với hậu của những cuộc tấn công từ phía Israel vào tháng 7 năm 2006, nền kinh tế nước này bắt đầu bước vào giai đoạn suy thoái nghiêm trọng.[cần dẫn nguồn]

Quận Trung tâm Beirut

Liban hiện đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ.[28][29] Tính đến năm 2023, quy mô GDP đã sụt giảm 40% so với năm 2018, trong khi đồng nội tệ mất giá mạnh tới 95%.[70] Tỷ lệ lạm phát hàng năm vượt ngưỡng 200%, đẩy mức lương tối thiểu xuống chỉ còn tương đương khoảng 1 đô la mỗi ngày.[71] Đây là lần đầu tiên Liban phá giá tỷ giá hối đoái chính thức sau 25 năm.[46] Theo Liên Hợp Quốc, 3/4 người dân Liban hiện sống dưới mức nghèo khổ.[71] Cuộc khủng hoảng này là hệ quả từ một mô hình nợ Ponzi kéo dài của Ngân hàng Trung ương Liban, thông qua việc vay đô la với lãi suất cao để bù đắp thâm hụt và duy trì tỷ giá cố định. Đến năm 2019, dòng tiền gửi mới không còn đủ để duy trì hệ thống, dẫn đến việc các ngân hàng phải đóng cửa hàng loạt, kiểm soát vốn tùy tiện và cuối cùng là tình trạng vỡ nợ quốc gia vào năm 2020.[72]

Xuyên suốt thời kỳ cai trị của Ottoman, thời kỳ ủy trị của Pháp và kéo dài đến những năm 1960, Liban là một trung tâm tài chính, ngân hàng và phân phối hàng hóa thịnh vượng của Trung Đông. Kinh tế địa phương phát triển dựa trên các ngành chế biến thực phẩm, may mặc, trang sức và dệt thảm. Tuy nhiên, bốn thập kỷ xung đột liên miên sau đó đã tàn phá sự thịnh vượng này.[73] Sau nội chiến, Liban chuyển dịch sang nền kinh tế dịch vụ với trọng tâm là tài chính, bất động sản và du lịch.[74] Hiện nay, khoảng 65% lực lượng lao động Liban làm việc trong khu vực dịch vụ, đóng góp xấp xỉ 67,3% GDP hàng năm..[75] Dù vậy, sự phụ thuộc lớn vào du lịch và ngân hàng khiến nền kinh tế trở nên cực kỳ dễ bị tổn thương trước những bất ổn chính trị.[76]

Dân cư đô thị Liban nổi tiếng với năng lực kinh doanh thương mại.[77] Các làn sóng di cư đã hình thành nên những "mạng lưới thương mại" của người Liban trên khắp thế giới.[78] Năm 2008, lượng kiều hối gửi về Liban đạt 8,2 tỷ USD,[79] chiếm 1/5 quy mô nền kinh tế đất nước.[80]

Nông nghiệp

Tính đến năm 2020, khu vực nông nghiệp của Liban thu hút khoảng 20–25% tổng lực lượng lao động[81] và đóng góp 3,1% vào GDP cả nước.[82] Liban sở hữu tỷ lệ đất canh tác cao nhất trong thế giới Ả Rập.[83] Các loại nông sản chủ lực bao gồm táo, đào, cam và chanh.[84] Khoảng một phần ba số nhà máy tại quốc gia này chuyên sản xuất thực phẩm đóng gói, từ các sản phẩm gia cầm đến thực phẩm muối chua.[81]

Tuy nhiên, dù có điều kiện canh tác thuận lợi và hệ vi khí hậu đa dạng, Liban vẫn phải nhập khẩu tới 80% lượng thực phẩm tiêu thụ. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở quy mô nhỏ lẻ của các trang trại, khiến ngành này không tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô.[81] Cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài cùng sự mất giá của đồng bảng Liban cũng tác động tiêu cực đến khu vực nông nghiệp, đặc biệt là do chi phí nhập khẩu các vật tư thiết yếu như hạt giống và phân bón tăng cao. Những áp lực tài chính này làm trầm trọng thêm các gánh nặng sẵn có của nông dân, bao gồm nợ nần chồng chất và các phương thức canh tác kém hiệu quả. Hệ quả là doanh thu của nông dân sụt giảm đáng kể và họ gặp nhiều trở ngại trong việc hoàn trả các khoản vay.[81][85]

Thị trường hàng hóa tại Liban ghi nhận sản lượng sản xuất tiền vàng đáng kể; tuy nhiên, theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), mặt hàng này phải được khai báo đầy đủ khi xuất khẩu sang bất kỳ quốc gia nào.[86]

Chế tạo và công nghiệp

Hoạt động công nghiệp tại Liban chủ yếu giới hạn ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ, tập trung vào việc lắp ráp và đóng gói các linh kiện nhập khẩu. Vào năm 2004, ngành công nghiệp đứng thứ hai về quy mô nhân lực khi thu hút 26% lực lượng lao động,[75] đồng thời đứng thứ hai về đóng góp kinh tế, chiếm 21% GDP quốc gia.[84]

Các mỏ dầu mới đây đã được phát hiện ở cả trong đất liền và vùng biển giữa Liban, Síp, IsraelAi Cập. Hiện Síp và Ai Cập đang tiến hành đàm phán nhằm đạt được thỏa thuận khai thác các nguồn tài nguyên này. Vùng đáy biển phân cách Liban và Síp được tin là có trữ lượng dầu thô và khí đốt tự nhiên rất lớn.[87] Ngày 10 tháng 5 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Nước Liban xác nhận các hình ảnh địa chấn đáy biển đang được phân tích chi tiết, với khoảng 10% diện tích khảo sát đã hoàn tất. Kết quả đánh giá sơ bộ cho thấy, với xác suất trên 50%, chỉ riêng 10% vùng đặc quyền kinh tế của Liban đã có thể chứa tới 660 triệu thùng dầu và 30 nghìn tỷ foot khối khí đốt.[88]

Liban cũng có một ngành công nghiệp ma túy quy mô lớn, bao gồm cả hoạt động sản xuất và buôn bán. Tình báo phương Tây ước tính sản lượng hàng năm của quốc gia này đạt hơn 4 triệu pound nhựa cần sa (hashish) và 20.000 pound heroin, mang lại lợi nhuận vượt mức 4 tỷ đô la. Trong những thập kỷ gần đây, Hezbollah đã gia tăng sự hiện diện trong nền kinh tế ma túy, biến chất gây nghiện thành một nguồn thu quan trọng của tổ chức. Dù một phần sản lượng được giữ lại tiêu thụ nội địa, phần lớn ma túy vẫn được buôn lậu ra thị trường toàn cầu. Bất chấp các nỗ lực ngăn chặn, việc chính phủ thiếu khả năng kiểm soát vùng sản xuất ma túy tại Thung lũng Beqaa cũng như các xưởng sản xuất Captagon bất hợp pháp đã khiến vấn nạn này kéo dài, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế quốc gia và ổn định khu vực.

Khoa học và công nghệ

Cơ sở Đổi mới và Thể thao của Đại học Saint Joseph (Beirut) trên đường Damascus, Beirut

Liban xếp thứ 90 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu vào năm 2025.[89][90] Các nhà khoa học nổi bật của Liban bao gồm Hassan Kamel Al-Sabbah, Rammal Rammal và Edgar Choueiri.[91][92]

Vào năm 1960, một câu lạc bộ khoa học thuộc một trường đại học ở Beirut đã khởi động chương trình không gian của Liban mang tên "Hiệp hội Tên lửa Liban". Dự án này đã gặt hái được những thành công vang dội cho đến năm 1966, thời điểm chương trình buộc phải đình chỉ do tác động của chiến tranh và áp lực từ các thế lực bên ngoài.[93][94]

Phát triển

Trong thập niên 1950, tốc độ tăng trưởng GDP của Liban đứng thứ hai thế giới. Dù không sở hữu trữ lượng dầu mỏ, Liban vẫn đạt mức thu nhập quốc dân cao nhờ vị thế là trung tâm ngân hàng[95] và là một trong những đầu mối thương mại quan trọng nhất của thế giới Ả Rập.[96]

GDP thực tế của Liban giai đoạn 1970–2017

Tuy nhiên, cuộc nội chiến 1975–1990 đã tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng kinh tế,[63] làm sụt giảm một nửa sản lượng quốc gia và gần như chấm dứt vị thế trung chuyển cũng như trung tâm ngân hàng của Liban tại Tây Á. [97][98] Giai đoạn hòa bình tương đối sau đó đã tạo điều kiện cho chính phủ trung ương khôi phục quyền kiểm soát tại Beirut, bắt đầu thu thuế và giành lại quyền quản lý các cảng biển cùng các cơ sở trọng yếu của nhà nước. Sự phục hồi kinh tế được hỗ trợ bởi hệ thống ngân hàng lành mạnh và khả năng thích ứng của các nhà sản xuất quy mô vừa và nhỏ. Trong đó, các nguồn ngoại tệ chính bao gồm kiều hối từ gia đình ở nước ngoài, dịch vụ ngân hàng, xuất khẩu nông sản và hàng công nghiệp, cùng với viện trợ quốc tế.[99]

Cảng Beirut

Cho đến tháng 7 năm 2006, Liban đã duy trì được sự ổn định đáng kể, công cuộc tái thiết Beirut gần như hoàn tất,[100] và lượng khách du lịch đổ về các khu nghỉ dưỡng ngày càng đông.[101] Nền kinh tế ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ với tổng tài sản ngân hàng đạt hơn 75 tỷ đô la Mỹ.[102] Vốn hóa thị trường cũng đạt mức cao kỷ lục, ước tính khoảng 10,9 tỷ đô la vào cuối quý II năm 2006.[102] Tuy nhiên, cuộc chiến tranh kéo dài một tháng năm 2006 đã gây tổn hại nghiêm trọng đến nền kinh tế vốn còn mong manh, đặc biệt là ngành du lịch. Theo báo cáo sơ bộ của Bộ Tài chính Liban công bố ngày 30 tháng 8 năm 2006, tình trạng suy thoái kinh tế quy mô lớn là khó tránh khỏi do tác động của cuộc chiến.[103]

Trong suốt năm 2008, Liban đã tái thiết cơ sở hạ tầng, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực bất động sản và du lịch, giúp tạo nên một nền kinh tế hậu chiến tương đối vững chãi. Những bên đóng góp chính cho công cuộc tái thiết Liban bao gồm Ả Rập Xê Út (với cam kết 1,5 tỷ đô la),[104] Liên minh châu Âu (khoảng 1 tỷ đô la)[105] và một số quốc gia vùng Vịnh khác với tổng đóng góp lên tới 800 triệu đô la.[106]

Du lịch

Beirut là trung tâm du lịch của cả nước.

Ngành du lịch đóng góp khoảng 10% vào GDP của Liban.[107] Năm 2008, quốc gia này đã thu hút khoảng 1.333.000 lượt khách du lịch, xếp thứ 79 trong tổng số 191 quốc gia.[108] Năm 2009, tờ The New York Times đã xếp Beirut là điểm đến du lịch số 1 thế giới nhờ sự hiếu khách và cuộc sống về đêm sôi động.[109] Tháng 1 năm 2010, Bộ Du lịch công bố đã có 1.851.081 khách du lịch đến Liban trong năm 2009, tăng 39% so với năm 2008.[110] Con số này đánh dấu lượng du khách cao kỷ lục từ trước đến nay, vượt qua kỷ lục cũ được thiết lập trước khi cuộc Nội chiến Liban bùng nổ.[111] Mặc dù lượng khách đạt mốc 2 triệu vào năm 2010, nhưng con số này đã sụt giảm 37% trong 10 tháng đầu năm 2012 do ảnh hưởng từ cuộc chiến tại quốc gia láng giềng Syria.[107]

Năm 2011, Ả Rập Xê Út, Jordan và Nhật Bản là ba quốc gia có lượng du khách đến Liban đông nhất.[112] Vào mùa hè, một phần đáng kể khách du lịch là kiều dân Liban trở về thăm quê hương.[72] Năm 2012, sự gia tăng của du khách Nhật Bản cũng đã thúc đẩy mức độ phổ biến của Ẩm thực Nhật Bản tại Liban.[113]

Vào ngày 4 tháng 5 năm 2025, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã thông báo sẽ bãi bỏ lệnh cấm du lịch đến Liban, có hiệu lực từ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Quyết định này được đưa ra sau cuộc gặp tại Abu Dhabi giữa Tổng thống Liban Joseph Aoun và Tổng thống UAE Sheikh Mohamed bin Zayed, nơi hai nhà lãnh đạo đã nhất trí tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường việc đi lại giữa hai quốc gia.[114]

Nhân khẩu

Nhà thờ Kitô giáo và Hồi giáo bên cạnh nhau, Liban là đất nước đa dạng tôn giáo nhất Trung Đông.
Tôn giáo tại Liban (2014)
  1. Hồi giáo (54,0%)
  2. Thiên Chúa giáo (40,4%)
  3. Druze (5,60%)

Dân số Liban gồm ba nhóm sắc tộc và tôn giáo chính: Hồi giáo (Shi'ites, Sunnis, Alawite), giáo phái Druze, và Kitô giáo (đa số là Công giáo Maronite, Chính thống giáo Hy Lạp, Tông truyền Armenia, Công giáo Melkite, cũng như Chính thống giáo Syria, Công giáo Armenia, Công giáo Syria, Công giáo Chaldea, Công giáo Latinh, Cảnh giáo, Chính thống giáo CopticTin Lành). Liban là quốc gia có số dân theo Kitô giáo đông nhất khu vực Trung Đông.

Không có số liệu điều tra dân số chính thức nào được tiến hành từ năm 1932, phản ánh sự nhạy cảm chính trị tại Liban về sự cân bằng tôn giáo. Theo ước tính khoảng 27% dân số là người Hồi giáo Sunni, 27% là người Hồi giáo Shia, 39% là người Kitô giáo và 5% người Druze. Từng có một số lượng nhỏ người Do Thái, chủ yếu sống tại trung tâm Beirut. Tương tự, một cộng đồng nhỏ (chưa tới 1%) người Kurds (cũng được gọi là Mhallamis hay Mardins) sống tại Liban. Có gần 15 triệu người Liban sống trên khắp thế giới, chủ yếu là tín đồ Kitô giáo, Brasil là nước có cộng đồng người Liban ở nước ngoài lớn nhất Argentina, Úc, Canada, Colombia, Pháp, México, VenezuelaHoa Kỳ cũng là những nước có số người nhập cư vào Liban đông đảo.

360.000 người tị nạn Palestine đã đăng ký với Cơ quan cứu trợ và việc làm Liên hợp quốc (UNRWA) tại Liban từ năm 1948, ước tính số người này hiện còn khoảng từ 180.000 đến 250.000.

Dân số thành thị, tập trung chủ yếu tại BeirutNúi Liban, có số lượng doanh nghiệp thương mại rất đáng chú ý. Một thế kỉ rưỡi di cư rồi quay trở lại khiến mạng lưới thương mại của người Liban mở rộng trên toàn cầu từ BắcNam Mỹ tới Châu Âu, Vịnh Ba TưChâu Phi. Liban có lực lượng lao động trình độ và tay nghề cao gần tương đương với đa số các nước châu Âu.

Giáo dục

Lịch sử giáo dục Liban

Hai bộ đầu tiên quản lý giáo dục ở Liban là Bộ giáo dục và giáo dục cao học, và Bộ nghề nghiệp và đào tạo kỹ thuật, để thúc đẩy hệ thống giáo dục Liban. Năm 1946, sau khi giành độc lập (26 tháng 11 năm 1941) chính phủ đã thông báo chương trình giảng dạy cũ, từ thời bảo hộ Pháp, bằng các chương trình đào tạo mới và ngôn ngữ Ả Rập được dùng làm ngôn ngữ giảng dạy chính tại mọi trường, mang tính bắt buộc đối với mọi cấp học. Chính phủ cũng cho phép mọi sinh viên quyền tự do chọn lựa ngôn ngữ thứ hai hay thứ ba (tiếng Pháp, tiếng Anh, vân vân). Sau đó vào năm 1968 và 1971, chương trình giảng dạy lại được sửa đổi một lần nữa. Mỗi bậc giáo dục được quy định với mục tiêu chi tiết và nội dung các kỳ thi cũng được tiêu chuẩn hóa. Trước chiến tranh, năm 1975, Liban có tỷ lệ biết chữ thuộc hàng cao nhất thế giới Ả Rập. Hơn 80% người dân Liban biết đọc và viết. Nhưng kể từ đó, Liban trở thành một đất nước hỗn loạn làm héo hon nhân dân, tất cả đều vì lý do nội chiến và sự can thiệp nước ngoài. Khi cuộc chiến được tuyên bố "kết thúc", người dân Liban đã bắt đầu tái thiết lại xã hội của mình, thúc đẩy giáo dục thông qua các biện pháp tự do hóa và khuyến khích.

Trường học tại Liban

Các trường học ở Liban được chia theo ba tiêu chí - trường tư, trường công và bán công. Các trường công thuộc quyền quản lý của chính phủ (Bộ Giáo dục) và miễn phí, được hỗ trợ từ tiền thuế. Bộ Giáo dục cung cấp cho các trường công mọi cuốn sách cần thiết, đối với mỗi cấp giáo dục, số học phí hầu như không đáng kể và thường là miễn phí. Các trường bán công, đa số là trường của nhà thờ như Ecoles des Saint Coeurs, hoạt động như các trường tư nhưng cũng không thu học phí giống như trường công. Các trường còn lại có thu học phí nhưng vẫn được hưởng trợ cấp của chính phủ.

Chính phủ buộc mọi trường học ở Liban đều phải theo một chương trình giảng dạy do Bộ giáo dục đưa ra. Các trường tư có thể thêm các môn học khác nhưng phải được sự đồng ý của Bộ Giáo dục. Ví dụ, các tiết học máy tính có tại hầu hết các trường học dù không thuộc trong chương trình giảng dạy chính thức. Đối với các trường học không có cơ sở vật chất dạy môn này, mọi sinh viên quan tâm đều có thể theo học các khoá máy tính tại các học viện hay các trung tâm khác có mặt ở hầu hết các vùng của Liban.

Tổng số trường công là 192 trường trung học và 1,125 trường tiểu học. Trong số trường trung học, 16 trường dành riêng cho nam sinh và 12 cho nữ sinh, 164 trường còn lại cho cả hai giới. Các trường tiểu học có tổng số 238.556 học sinh với 24.463 giáo viên. Ở tất cả các trường, học sinh được học với các giáo viên chuyên trách từng môn, không có giáo viên chung cho tất cả các môn. Mỗi lớp có khoảng 25 học sinh (một số trường công có thể lên tới 40 học sinh vì thiếu giáo viên). Các môn học chính là Toán học, Khoa học, Lịch sử, Giáo dục công dân, Địa lý, tiếng Ả Rậptiếng Pháp/tiếng Anh/hay cả hai. Các cơ sở vật chất phục vụ giáo dục khác như Giáo dục thể chất, nghệ thuật, thư viện (không phải ở mọi trường), và chủ yếu tại các trường tư có thêm chuyên gia tư vấn.

Chương trình giảng dạy tại các trường Liban

Trường công, trường tư và bán công phải theo một chương trình giảng dạy đồng nhất do Bộ giáo dục đề ra đối với trẻ em từ 6 đến 11 tuổi

  • Trung học cơ sở – Bốn năm, học sinh được cấp Bằng trung học khi hoàn thành
  • Trung học – Ba năm, học sinh qua các kỳ thi chính thức được cấp Bằng tú tài toán, khoa học thực nghiệm và triết học

Giáo dục là miễn phí đối với mọi học sinh và là bắt buộc theo luật. Tuy nhiên, "bắt buộc" không hoàn toàn được tôn trọng. Đã có các kế hoạch nhằm thay đổi vấn đề này trong tương lai gần.

Các trường cao đẳng và đại học

Sau trung học, sinh viên Liban có thể lựa chọn học tập tại một trường đại học, một trường cao đẳng, một học viện hay một "trường kỹ thuật cao cấp". Số năm học thay đổi tuỳ theo từng trường.

Liban có 15 trường đại học trong số đó Đại học Hoa Kỳ tại Beirut (AUB) và Đại học Hoa Kỳ Liban được công nhận quốc tế. AUB là trường đại học sử dụng tiếng Anh đầu tiên mở cửa tại Liban, trong khi trường đại học đầu tiên là Đại học Saint-Joseph của Pháp. 15 trường đại học, cả công và tư đều có sử dụng tiếng Ả Rập, tiếng Pháp hay tiếng Anh bởi vì đây là những ngôn ngữ được dùng nhiều nhất ở Liban. Có bốn học viện Pháp, 7 học viện Anh và 1 học viện Armenia. Nói chung, các trường đều dạy tiếng Ả Rập và bởi vì đây là ngôn ngữ được dùng nhiều nhất, vì thế nó cũng là ngôn ngữ căn bản trong chương trình học.

Tại các trường đại học dùng tiếng Anh, sinh viên nào đã tốt nghiệp từ một trường sử dụng chương trình dạy kiểu Mỹ vào học sẽ được cấp bằng tương đương với bằng của Bộ giáo dục cao học Liban. Bằng này chứng nhận cho họ được theo học các mức cao hơn. Các sinh viên đó cần có trình độ SAT I, SAT II và TOEFL để không phải qua các kỳ thi chính thức.

Giao thông vận tải

Văn hóa

Liban từng là ngã ba đường giữa các nền văn minh trong nhiều thiên niên kỷ, vì vậy không ngạc nhiên khi một đất nước nhỏ lại sở hữu một nền văn hóa giàu có và mạnh mẽ đến như vậy. Số lượng lớn các nhóm sắc tộc, tôn giáo ở Liban khiến nước này có một nền văn hóa ẩm thực, âm nhạc và các truyền thống văn học cũng như lễ hội rất lớn và đa dạng. Các trường phái nghệ thuật ở Beirut phát triển đầy sinh khí với nhiều cuộc trưng bày nghệ thuật sắp đặt, triển lãm, các buổi trình diễn thời trang, và các buổi hòa nhạc được tổ chức quanh năm tại các gallery, các bảo tàng, nhà hát và các tụ điểm công cộng. Liban có một xã hội hiện đại, giáo dục cao và có lẽ có thể so sánh được với các nước châu Âu ở vùng Địa Trung Hải. Đa số người Liban có thể sử dụng hai thứ tiếng, tiếng Ả rậptiếng Pháp, điều này giải thích việc Liban là một thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie); tuy nhiên, tiếng Anh cũng đã dần trở nên phổ biến, đặc biệt trong các sinh viên đại học. Đất nước này không chỉ là nơi giao hòa giữa Thiên chúa giáo và Hồi giáo mà Liban còn là cánh cổng nối thế giới Ả Rập với châu Âu cũng như là cây cầu cho châu Âu tới Ả Rập.

Liban cũng có nhiều trường đại học lớn, gồm Đại học Liban, Đại học Hoa Kỳ tại Beirut, Đại học Saint-Joseph và Đại học Hoa Kỳ Liban.

Nhiều lễ hội quốc tế được tổ chức tại Liban, với những nghệ sĩ và khán giả từ Liban cũng như từ nước ngoài. Những lễ hội mùa hè nổi tiếng nhất tại Baalbek, Beiteddine và Byblos.

Ngày lễ và lễ hội

Liban cử hành các ngày lễ quốc gia cùng các ngày lễ của cả Kitô giáo và Hồi giáo. Các ngày lễ Kitô giáo được tổ chức theo cả Lịch GregoryLịch Julius. Các cộng đồng Chính thống giáo Hy Lạp (ngoại trừ lễ Phục sinh), Công giáo, Tin Lành và Kitô giáo Melkite tuân thủ lịch Gregory và cử hành lễ Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12. Trong khi đó, các tín đồ Giáo hội Tông truyền Armenia cử hành lễ Giáng sinh vào ngày 6 tháng 1 do tuân theo lịch Julius.[115]

Các ngày lễ Hồi giáo được xác định dựa trên âm lịch Hồi giáo. Những dịp lễ quan trọng được cử hành bao gồm Eid al-Fitr (lễ hội kéo dài ba ngày kết thúc tháng Ramadan), Eid al-Adha (Lễ Hiến sinh) diễn ra trong kỳ hành hương hàng năm đến Mecca kỷ niệm sự sẵn lòng hiến dâng con trai cho Thiên Chúa của Abraham, ngày sinh của thiên sứ Hồi giáo Muhammad, và ngày Ashura (ngày lễ tang của người Shia). Các ngày lễ quốc gia của Liban bao gồm Ngày Quốc tế Lao động, Ngày Độc lập và Ngày Liệt sĩ. Các lễ hội âm nhạc, thường được tổ chức tại các di tích lịch sử, là một thành tố truyền thống trong văn hóa Liban.[115]

Trong số các lễ hội nổi tiếng nhất có Lễ hội Quốc tế Baalbeck, Lễ hội Quốc tế Byblos, Lễ hội Quốc tế Beiteddine, Lễ hội Quốc tế Jounieh, Lễ hội Broumana, Lễ hội Quốc tế Batroun, Lễ hội Ehmej, Lễ hội Dhour Chwer và Lễ hội Tyr.[115][116] Những sự kiện này đều được Bộ Du lịch Liban quảng bá rộng rãi. Mỗi năm, Liban đăng cai khoảng 15 buổi hòa nhạc của các nghệ sĩ quốc tế, xếp thứ nhất về đời sống về đêm ở Trung Đông và thứ 6 trên toàn thế giới.[117]

Thể thao

Sân vận động Thành phố Thể thao Camille Chamoun tại Beirut

Liban có sáu khu nghỉ dưỡng trượt tuyết. Nhờ địa hình độc đáo, quốc gia này cho phép du khách có thể đi trượt tuyết vào buổi sáng và bơi lội dưới làn nước Địa Trung Hải vào buổi chiều.[118] Ở cấp độ thi đấu, bóng rổ và bóng đá là những môn thể thao phổ biến nhất. Chèo thuyền canoe, đạp xe, chèo thuyền vượt thác (rafting), leo núi, bơi lội, chèo thuyền buồm và thám hiểm hang động là những môn thể thao giải trí thông dụng khác tại đây. Giải Beirut Marathon được tổ chức vào mỗi mùa thu, thu hút các vận động viên hàng đầu từ Liban và quốc tế tham dự.[119]

Rugby league là một môn thể thao tương đối mới nhưng đang phát triển nhanh chóng. Đội tuyển rugby league quốc gia Liban từng tham dự Giải vô địch rugby league thế giới 2000,[120] và suýt chút nữa đã giành quyền tham dự các kỳ giải năm 2008[121] và 2013.[122] Đội tuyển đã trở lại tại Giải vô địch rugby league thế giới 2017, lọt vào tứ kết và chỉ để thua sát nút 24–22 trước Tonga.[123] Thành tích này giúp họ đảm bảo một suất tham dự giải năm 2021. Tại tứ kết năm 2021, họ đã để thua 48–4 trước đội vô địch sau đó là Australia.[124] Liban cũng tham dự Cúp châu Âu 2009, nơi họ đánh bại Ireland để giành vị trí thứ 3 chung cuộc.[125]

Al Ansar FC tại Beirut

Liban là một quốc gia có thế mạnh về bóng rổ. Đội tuyển bóng rổ quốc gia Liban đã ba lần liên tiếp giành quyền tham dự Giải vô địch bóng rổ thế giới (FIBA).[126][127] Các đội bóng rổ hàng đầu quốc gia có thể kể đến Sporting Al Riyadi Beirut, đội từng vô địch Ả Rập và châu Á, cùng với Club Sagesse, đội bóng cũng từng sở hữu nhiều danh hiệu vô địch khu vực và châu lục.

Bóng đá cũng nằm trong số những môn thể thao được ưa chuộng nhất. Giải đấu cao nhất quốc gia là Giải bóng đá ngoại hạng Liban, với hai câu lạc bộ thành công nhất là Al Ansar FC và Nejmeh SC. Trong những năm gần đây, Liban từng đăng cai tổ chức Cúp bóng đá châu Á (AFC)[128]Đại hội Thể thao Ả Rập.[129] Quốc gia này cũng là chủ nhà của Đại hội Thể thao Pháp ngữ 2009[130]đã tham dự mọi kỳ Thế vận hội kể từ khi giành độc lập, giành được tổng cộng bốn huy chương.[131] Các môn thể thao dưới nước tại Liban phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây. Từ năm 2012, với sự ra đời của tổ chức phi chính phủ Lễ hội Nước Liban (Lebanon Water Festival), các môn thể thao này càng được chú trọng, giúp nâng tầm hình ảnh Liban như một điểm đến quốc tế cho thể thao dưới nước.[132] Họ thường xuyên tổ chức các cuộc thi và chương trình biểu diễn thể thao dưới nước, thu hút đông đảo người hâm mộ tham gia.[133]


Xem thêm

  • Viễn thông ở Liban
  • Danh sách các chủ đề liên quan tới Liban: nhằm liệt kê mọi bài viết liên quan tới Liban trên Wikipedia.
  • Danh sách người Liban: danh sách những người Liban nổi tiếng, gồm cả những người nước ngoài có tổ tiên là người Liban.
  • Quân đội Liban
  • Xung đột Nam Liban
  • Vận tải ở Liban

Chú thích

  1. Cộng đồng người Maronite và người Melkite được biết là phản đối việc bị coi là người Ả Rập.

Tham khảo

  1. "Lebanon – the World Factbook". ngày 23 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
  2. Khashan, Hilal (tháng 12 năm 1990). "The Political Values of Lebanese Maronite College Students". The Journal of Conflict Resolution. 34 (4): 723–744. doi:10.1177/0022002790034004007. JSTOR 174186. S2CID 145632505. The heritage of the Maronites is perceived as anything Phoenician, Greco-Roman, Mediterranean, or internationalist, but not Arab.
  3. International Foundation for Electoral Systems (tháng 9 năm 2011). "Overview of the current 26 electoral districts" (PDF).
  4. دراسة نقدية في قانون الانتخاب النسبي. Lebanon Files
  5. "Lebanon". The World Factbook (ấn bản thứ 2026). Cơ quan Tình báo Trung ương. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2024. (Archived 2024 edition.)
  6. 1 2 3 4 "World Economic Outlook Database, October 2023 Edition. (Lebanon)". Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 10 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2023.
  7. "Gini Index coefficient". CIA World Factbook. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2021.
  8. "Human Development Report 2023/24" (PDF) (bằng tiếng Anh). Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 13 tháng 3 năm 2024. tr. 275. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  9. "Driving in Lebanon". adcidl.com. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  10. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên cia
  11. http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/nr040830134623/nr040819103013/ns080619151144#OmJVZEXL8g5f. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2015. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  12. "Results of 2nd round of Lebanon presidential election: Michel Aoun – 83 (winner); blank votes – 36; others/cancelled – 8". The Daily Star. ngày 31 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  13. Fadi Tawil (ngày 17 tháng 10 năm 2019). "Protests spread across Lebanon over proposed new taxes". Washington Post (bằng tiếng Anh). AP. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2019.
  14. "Protests erupt over taxes as govt races to wrap up budget". The Daily Star. ngày 18 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2019.
  15. "Lebanon scraps WhatsApp tax as protests rage" (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2019.
  16. "Lebanese govt to charge USD 0.20 a day for WhatsApp calls". The Daily Star. ngày 17 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2019.
  17. "Protests erupt in Lebanon over plans to impose new taxes". aljazeera.com. ngày 18 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2019.
  18. "Lebanon: WhatsApp tax sparks mass protests". DW (bằng tiếng Anh). Deutsche Welle. ngày 10 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2019.
  19. 1 2 "Lebanon Protesters Found Strength in Unity, Ditched Sectarianism". Report Syndication. ngày 27 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2020.
  20. "Protesters march from Al Nour Square to Central Bank in Tripoli". MTV Lebanon (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
  21. "Protesters block Karakoul Druze-Mar Elias road". MTV Lebanon (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
  22. Khraiche, Dana (ngày 17 tháng 10 năm 2019). "Nationwide Protests Erupt in Lebanon as Economic Crisis Deepens". Bloomberg.com. Bloomberg News. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2019.
  23. "Lebanese Protesters Addressed President Aoun with an Urgent Demand/". the961.com (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2019.
  24. "Lebanon protests: University professor Hassan Diab nominated to be PM". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2020.
  25. "Lebanese president asks Hassan Diab to form government". Al Jazeera. ngày 19 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
  26. "Roadblocks across Lebanon as anger rises over Diab pick as PM". Al Jazeera. ngày 20 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020. {{Chú thích báo}}: dấu thời gian |ngày lưu trữ= / |url lưu trữ= không khớp; đề xuất ngày 21 tháng 12 năm 2021 (trợ giúp)
  27. "Day 76: New Year's Revolution". The Daily Star. ngày 31 tháng 12 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
  28. 1 2 "Lebanon Looks to China as US, Arabs Refuse to Help in Crisis". The Diplomat. ngày 16 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2020.
  29. 1 2 "The lights go out on Lebanon's economy as financial collapse accelerates". The Washington Post. ngày 19 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2020.
  30. "Lebanon becomes 1st country in Middle East and North Africa to enter hyperinflation". ABC News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  31. "Beirut explosion: What we know so far". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020.
  32. "Lebanon's government resigns after Beirut blast". The National (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2022.
  33. "Lebanon threatened with total darkness: Ghajar". The Daily Star. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2021.
  34. "Lebanon fuel tanker explosion kills at least 28". France 24 (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2021.
  35. "Lebanon forms new government, ending 13-month standoff". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2022.
  36. Mistich, Dave (ngày 10 tháng 10 năm 2021). "Power returns to Lebanon after a 24-hour blackout". NPR (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2021.
  37. "Gunbattles erupt during protest of Beirut blast probe; 6 die". AP News (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
  38. Lebanon enters the new year in a deepening crisis – BBC News (bằng tiếng Anh), ngày 2 tháng 1 năm 2022, lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2022, truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2022
  39. "Situation in Lebanon: Severe and prolonged economic depression | Think Tank | European Parliament". www.europarl.europa.eu (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2022.
  40. "Lebanon: Almost three-quarters of the population living in poverty | UN News". news.un.org (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
  41. Chehayeb, Kareem. "After elections in Lebanon, does political change stand a chance?". www.aljazeera.com (bằng tiếng Anh).
  42. Chehayeb, Kareem. "Hezbollah allies projected to suffer losses in Lebanon elections". www.aljazeera.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2022.
  43. Chehayeb, Kareem. "Hariri's absence leaves Sunni voters unsure ahead of Lebanon poll". www.aljazeera.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2022.
  44. "Death toll from Lebanon migrant boat climbs to 73, minister says". gulfnews.com (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2022.
  45. Bassam, Laila; Gebeily, Maya; Azhari, Timour (ngày 31 tháng 1 năm 2023). "Lebanon to devalue currency by 90% on Feb. 1, central bank chief says". Reuters (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2023.
  46. 1 2 "Lebanon devalues official exchange rate by 90 percent". Aljazeera.com. Al Jazeera. ngày 1 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023.
  47. "Lebanon struggles to emerge from financial crisis and government corruption". pbs.org. ngày 3 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
  48. "Gallant threatens Hezbollah: 'What we can do in Gaza, we can do in Beirut'". The Jerusalem Post. ngày 11 tháng 11 năm 2023.
  49. "Mapping 11 months of Israel-Lebanon cross-border attacks". Al Jazeera. ngày 11 tháng 9 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2024.
  50. "Do Lebanon explosions violate the laws of war?". Al Jazeera. ngày 18 tháng 9 năm 2024.
  51. "Israel rejects US-backed Lebanon ceasefire plan, hits Beirut again". Reuters. ngày 26 tháng 9 năm 2024.
  52. "Israeli strikes cause deadliest day in Lebanon in nearly 2 decades. Here's what we know". CNN. ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  53. "In Lebanon, a million people displaced in a country in chaos". Le Monde. ngày 2 tháng 10 năm 2024.
  54. "Biden, Harris call Israeli killing of Hezbollah's Nasrallah 'measure of justice'". VOA News. ngày 28 tháng 9 năm 2024.
  55. "Israel-Hezbollah conflict in maps: Where is fighting happening in Lebanon?". BBC News. ngày 4 tháng 10 năm 2024.
  56. "Lebanon ceasefire: What we know about Israel-Hezbollah deal". www.bbc.com. ngày 27 tháng 11 năm 2024.
  57. Rebeiz, Mireille (ngày 11 tháng 12 năm 2024). "Assad's fall in Syria will further weaken Hezbollah and curtails Tehran's 'Iranization' of region". The Conversation.
  58. "What Assad's Fall Means for Lebanon". United States Institute of Peace (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2026.
  59. "Who is Joseph Aoun, the new president of Lebanon?". Al Jazeera (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2026.
  60. "Lebanon names new government after two-year caretaker cabinet". Al Jazeera (bằng tiếng Anh).
  61. "Lebanon's government wins confidence vote in Parliament". Al Arabiya English (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 2 năm 2025.
  62. "Lebanese Armed Forces, CSIS (Page 78)" (PDF). ngày 10 tháng 2 năm 2009. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012.
  63. 1 2 Stinson, Jefferey (ngày 1 tháng 8 năm 2006). "Lebanese forces may play bigger role in war". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2009.
  64. "LAF Mission". Lebanese Armed Forces. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009.
  65. Lanteaume, Sylvie (ngày 4 tháng 8 năm 2009). "US military aid at stake in Lebanon elections". Agence France-Presse. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2009.
  66. Schenker, David (ngày 3 tháng 10 năm 2008). "The Future of U.S. Military Aid to Lebanon". Washington Institute for Near East Policy. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2009.
  67. "Mediterranean gas sends sparks flying between Lebanon and Israel". The Economist. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  68. 1 2 3 4 5 "What Is Hezbollah?". Council on Foreign Relations (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  69. Nashed, Mat. "Could rival Lebanese factions exploit a weakened Hezbollah?". Al Jazeera (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2024.
  70. "The world's worst central banker retires". The Economist. ngày 31 tháng 7 năm 2023. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2023.
  71. 1 2 "Lebanon goes to the polls amid its worst-ever financial crisis". The Economist. ngày 28 tháng 4 năm 2022. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  72. 1 2 "Lebanon is experiencing a tourism boom". The Economist. ngày 24 tháng 8 năm 2023. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2023.
  73. Cohen, Saul Bernard (2015). "Chapter 12: The Middle East Shatterbelt". Geopolitics: the geography of international relations (ấn bản thứ 3). Lanham Boulder New York London: Rowman & Littlefield. tr. 402. ISBN 978-1-4422-2349-3.
  74. "Why protesters firebomb banks in Lebanon". The Economist. ngày 9 tháng 5 năm 2020. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  75. 1 2 Jean Hayek et al, 1999. The Structure, Properties, and Main Foundations of the Lebanese Economy. In The Scientific Series in Geography, Grade 11, 110–114. Beirut: Dar Habib.
  76. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Canada
  77. "Header: People, 4th paragraph". U.S. Department of State. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  78. "Background Note: Lebanon" (PDF). washingtoninstitute.org. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  79. "Lebanon – Facts and Figures". Iom.int. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  80. "Facts on Lebanon's economy". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  81. 1 2 3 4 "Hobbyists hope to halt hunger in Lebanon by growing their own crops". The Economist. ngày 28 tháng 5 năm 2020. ISSN 0013-0613. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  82. "World Bank Open Data". World Bank Open Data. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  83. "Federal Research Division of the Library of Congress, U.S.A. 1986–1988". Countrystudies.us. ngày 13 tháng 6 năm 1978. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  84. 1 2 "Background Note: Lebanon". U.S. Department of State. ngày 22 tháng 3 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
  85. "Lebanese farmers face toughening crisis – DW – 06/15/2021". dw.com (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2024.
  86. "IATA – Lebanon Customs, Currency & Airport Tax regulations details". www.iatatravelcentre.com. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014.
  87. "The Next Big Lebanon-Israel Flare-Up: Gas". Time. ngày 6 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 4 2011. Truy cập 14 tháng 4 2011.
  88. "باسيل: حلم النفط صار واقعا وأنجزنا كل الخطوات الأساسية في فترة قياسية" [Basil: Oil dream became a reality and we did all the basic steps in record time]. LebanonFiles. Lebanonfiles.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  89. "GII Innovation Ecosystems & Data Explorer 2025". WIPO. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  90. Dutta, Soumitra; Lanvin, Bruno (2025). Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads (bằng tiếng Anh). Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới. tr. 19. doi:10.34667/tind.58864. ISBN 978-92-805-3797-0. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  91. Srour, M. (ngày 15 tháng 3 năm 2019). "6 Lebanese Geniuses That Make Us Proud". The961 (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  92. "Rammal Award attribution by the Euroscience Foundation". ngày 5 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  93. Hooper, Richard (ngày 14 tháng 11 năm 2013). "Lebanon's forgotten space programme". BBC News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  94. "The Bizarre Tale of the Middle East's First Space Program". Smithsonian Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  95. Podeh, Elie. The Quest for Hegemony in the Arab World: The Struggle Over the Baghdad Pact, Brill Academic Pub (1 August 1997), trang 154
  96. Baten, Jörg (2016). A History of the Global Economy. From 1500 to the Present. Cambridge University Press. tr. 231. ISBN 9781107507180.
  97. "Lebanon". The World Factbook (ấn bản thứ 2026). Cơ quan Tình báo Trung ương. ngày 2 tháng 3 năm 2023. (Archived 2023 edition.)
  98. "Registered Syrian refugees in surrounding states triple in three months". United Nations Refugee Agency. ngày 2 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.
  99. "CIA World Factbook 2001" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  100. "Deconstructing Beirut's Reconstruction: 1990–2000". Center for the Study of the Built Environment. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2006.
  101. Johnson, Anna (2006). "Lebanon: Tourism Depends on Stability". Chron. Lưu trữ bản gốc 13 tháng 1 2012. Truy cập 31 tháng 10 2006.
  102. 1 2 "Lebanon Economic Report: 2nd quarter, 2006" (PDF). Bank Audi. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  103. "Impact of the July Offensive on the Public Finances in 2006" (PDF). Lebanese Ministry of Finance. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  104. Joseph S. Mayton (ngày 28 tháng 9 năm 2007). "Saudi Arabia Key Contributor To Lebanon's Reconstruction". Cyprus News. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  105. "Donors pledge over $940 million for Lebanon". Reliefweb.int. ngày 31 tháng 8 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  106. "The Custodian of the Two Holy Mosques Reviews with the Jordanian King the Situation in Lebanon..." Ain-Al-Yaqeen. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  107. 1 2 "Lebanon's tourists: Can they be lured back?". The Economist. ngày 11 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017.
  108. "Tourist arrivals statistics – Countries Compared". NationMaster. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2011.
  109. Zach Wise; Miki Meek (ngày 11 tháng 1 năm 2009). "The 44 Places to Go in 2009 – Interactive Graphic". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
  110. "Ministry of Tourism :: Destination Lebanon". Lebanon-tourism.gov.lb. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012.
  111. "Lebanon Says 2009 Was Best on Record for Tourism". ABC News. Associated Press. ngày 19 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010.
  112. Qiblawi, Tamara (ngày 16 tháng 7 năm 2011). "Hospitality revenues plunge 40 percent in 2011". The Daily Star. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2011.
  113. "Lebanese Cuisine With a Japanese Twist". Embassy of Japan in Lebanon. ngày 12 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012.
  114. "UAE to lift Lebanon travel ban on May 7". Arab News PK (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2025.
  115. 1 2 3 Sheehan, Sean; Latif (ngày 30 tháng 8 năm 2007). "Leisure". Lebanon. Cultures of the World. Quyển 13. Zawiah. Marshall Cavendish Children's Books. tr. 123. ISBN 978-0-7614-2081-1.
  116. Carter, Terry; Dunston Lara (ngày 1 tháng 8 năm 2004). "Getting Started". Syria & Lebanon. Guidebook Series. Humphreys Andrew (ấn bản thứ 2). Lonely Planet. tr. 11. ISBN 978-1-86450-333-3.
  117. "Lebanon Summer & Winter Festivals". Lebanese Ministry of Tourism. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2013.
  118. Aikman, David (ngày 14 tháng 8 năm 2009). The Mirage of Peace: Understanding the Never-Ending Conflict in the Middle East. Gospel Light Publications. tr. 48. ISBN 978-0-8307-4605-7. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2013.
  119. "About BMA | Marathon". Beirutmarathon.org. ngày 19 tháng 10 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  120. Hadfield, Dave (ngày 24 tháng 10 năm 2000). "Lebanese rugby league team in storm over funny substances – Rugby League – More Sports". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  121. "Samoa beats Lebanon to be last team in league world cup". The Courier-Mail. ngày 14 tháng 11 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  122. "Lebanon's Rugby World Cup bid ends with draw | Sports, Rugby". The Daily Star. ngày 31 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  123. Risso, Angelo (ngày 18 tháng 11 năm 2017). "Tonga hold on against gallant Lebanon". NRL Telstra Premiership. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2024.
  124. "Rugby League World Cup : Quarter Finals". Rugby League World Cup 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2024.
  125. "2009 Rugby League European Cup Flashback". Rugby League Planet. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  126. "Team Lebanon Profile - 2011 FIBA Asia Championship | FIBA.COM". London2012.fiba.com. ngày 23 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  127. "Team Lebanon Profile – 2010 FIBA World Championship". Fiba.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  128. "Asian Nations Cup 2000". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. ngày 4 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  129. "2nd Pan Arab Games". goalzz.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  130. "Nine days of sport and culture in Beirut". FRANCE 24. ngày 27 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  131. "Athletes | Heroes". International Olympic Committee. ngày 26 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  132. "Lebanon Water Festival". lebanonwaterfestival.com. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015.
  133. "Past Festivals « Lebanon Water Festival". lebanonwaterfestival.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015.

Liên kết ngoài