Bước tới nội dung

Lũng Tây Lý thị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lũng Tây Lý thị (chữ Hán: 陇西李氏) là một trong các sĩ tộc nổi danh có tầm ảnh hưởng trong lịch sử Trung Quốc, bắt nguồn từ quận Lũng Tây (nay là huyện Lũng Tây, tỉnh Cam Túc). Gia tộc này từ thời Tào Ngụy và Tây Tấn cho tới thời nhà Đường đều vô cùng hiển hách, cùng Thái Nguyên Vương thị, Triệu Quận Lý thị, Thanh Hà Thôi thị, Bác Lăng Thôi thị, Phạm Dương Lô thị và Huỳnh Dương Trịnh thị được liệt vào [Thất tính Thập gia; 七姓十家] - những danh gia sĩ tộc nổi tiếng. Đây là gia tộc phát tích của hoàng tộc nhà Đường, đến mức khi tới thời Nam Tống, khi Trịnh Tiều biên soạn Thông chí đã nhận định rằng: "Hể hễ nói đến họ Lý thì đều xưng là Lũng Tây"[1].

Lịch sử Lũng Tây Lý thị

Lũng Tây Lý thị trỗi dậy vào thời Ngụy Tấn, truy về thủy tổ thường được nhận là danh tướng Lý Quảng nhà Tây Hán[2]. Tuy nhiên về sau, khi khai quật lăng mộ của Lý Huy Nghi (李晖仪) thời Bắc Ngụy phát hiện văn bia ghi lại là hậu duệ của Lý Thái, em họ của Lý Quảng. Lý Cảo sau khi cha Lý Xưởng (李暠) qua đời thì kiến lập triều Tây Lương, sau khi Tây Lương diệt vong thì cháu của Lý Cảo là Lý Bảo (李宝) quy thuận Bắc Ngụy, do có tài năng nên được triều đình trọng dụng. Sáu người con của ông, ngoại trừ một người chết yểu thì đều ra làm quan cho Bắc Ngụy, đặc biệt là con trai út Lý Xung (李冲) làm đến chức Thượng thư bộc xạ, từ đó kết thân được với hoàng thất mà thường xuyên liên hôn, trở thành hậu tộc (tộc của hoàng hậu), được Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế định ra là "Tứ tính". Lũng Tây Lý thị cũng trở thành "Ngũ tính" sánh ngang với "Tứ tính" này. Về sau, phát triển thành "Thất tính Thập gia".

Hoàng thất nhà Đường tự nhận là dòng dõi của Lũng Tây Lý thị, tuy nhiên nhà nghiên cứu Trần Dần Khác (陈寅恪) qua khảo cứu cho rằng họ hoặc là từ một nhánh sa sút của Triệu Quận Lý thị, hoặc là mạo danh từ bình dân họ Lý ở Quảng A[3]. Trong khi đó, Chu Hy Tổ (朱希祖) khảo cứu lại cho rằng cha con Lý Hy từng trấn thủ Võ Xuyên, sau đó con là Lý Thiên Tích vì tránh loạn binh Lục trấn đã mang hài cốt cha dời xuống phía nam đến Quảng A thuộc Triệu Quận rồi định cư tại đó. Con ông là Lý Hổ đã hợp táng cha ông mình tại Quảng A. Vì vậy họ Lý này không phải xuất thân từ Triệu Quận Lý thị mà thực chất là thuộc Lũng Tây Lý thị. Đường Thái Tông tu soạn Thị tộc chí đã đặt hoàng tộc đứng đầu các sĩ tộc, hơn nữa ông còn ban họ Lý cho những công thần có công, từ đó Lũng Tây Lý thị từ một tông tộc dựa trên hệ thống huyết thống đã diễn biến thành một thế tộc khổng lồ "đa nguyên nhất thể".

Tộc phổ Lũng Tây Lý thị

  • Lý Yểm (李弇), hậu duệ đời thứ 14 của Lý Quảng, thời Tiền Lương nhậm Võ vệ tướng quân, tước An Thế Đình hầu (安世亭侯), được ví tài năng như Cảnh Yểm. Về sau, nhà Đường truy phong Cảnh vương (景王). Vợ là phu nhân Lương thị (梁氏).
    • Lý Sưởng (李昶, 333 - 351), truy phong Giản vương (简王).
      • Lý Cảo, vị vua khai quốc nhà Tây Lương, qua đời tặng Vũ Chiêu vương (武昭王), miếu hiệu Thái Tổ. Về sau, nhà Đường truy phong Hưng Thánh Hoàng đế (興聖皇帝). Vợ là Tân phu nhân (辛夫人), con gái Tân Nạp (辛纳); Doãn phu nhân (尹夫人), con gái Mã Nguyên Chính (馬元正).
        • Lý Đàm (李谭, ? - 404), được phong Thái tử, mất sớm.
        • Lý Hâm, kế vị cha làm vua Tây Lương, sau bị Thư Cừ Mông Tốn xử tử.
          • Lý Trọng Nhĩ (李重耳), thời Bắc Ngụy nhậm Hoằng Nông quận Thái thú, khi mất tặng Dự châu Thứ sử. Trong Tống thư được ghi tên là Lý Sơ Cổ Bạt (李初古拔).
            • Lý Hy (李熙), nhậm Kim Môn trấn tướng, sau trấn thủ Vũ Xuyên trấn. Về sau, nhà Đường truy tặng Tuyên Giản công (宣简公), sau cải thành Tuyên Hoàng đế (宣皇帝), miếu hiệu Hiến Tổ (獻祖). Vợ là Trương thị (張氏).
              • Lý Thiên Tích (李天锡), nhậm Tràng chủ, sau tặng Tư không. Về sau, nhà Đường truy tặng Ý vương (懿王), sau cải thành Quang Hoàng đế (光皇帝), miếu hiệu Ý Tổ (懿祖). Vợ là Giả thị (贾氏).
                • Lý Khởi Đầu (李起头), phong Trường An hầu (长安侯).
                  • Lý Đạt Ma (李达摩), nhậm Vũ Lâm giám, Thái tử Tẩy mã thời Bắc Chu, được phong tước Trường An huyện bá (长安县伯).
                • Đường Thái Tổ Lý Hổ
                • Lý Khất Đậu (李乞豆), thành lập Định Châu Thứ sử phòng (定州刺史房).
        • Lý Nhượng (李让), nhậm Ninh Sóc tướng quân, Phụ quốc tướng quân, Đôn Hoàng thái thú, tước Tân Hương hầu (新乡侯). Khi mất, tặng Phiêu kị đại tướng quân, hiệu Mục (穆).
        • Lý Âm (李愔)
          • Chắt: Lý Hệ (李系), lập nên nhánh Bình Lương phòng (平凉房).
        • Lý Tuân, sau khi anh Lý Hâm bị giết thì làm chủ Tây Lương, sau tự sát, Tây Lương diệt vong.
        • Lý Phiên (李翻), nhậm Kiêu kỵ tướng quân, Kỳ Liên, Tửu Tuyền, Tấn Xương quận Thái thú. Nguyên phối Tấn Xương Đường thị (晋昌唐氏), con gái Vĩnh Hưng Hoàn hầu Đường Dao (唐瑶); kế phối Thiên Thủy Doãn thị (天水尹氏), con gái Trương Dịch huyện lệnh Doãn Vinh (尹永).
          • Lý Bảo (李宝, 407 - 459), tái lập nhà Tây Lương, về sau đầu hàng Bắc Ngụy, được phong Trấn Bắc tướng quân, tước Đôn Hoàng Tuyên công (敦煌宣公). Nguyên phối Kim Thành Dương thị (金城杨氏), con gái Tiền quân tham quân Dương Y (杨袆); kế phối Lũng Tây Bành thị (陇西彭氏), con gái Tây Hải quận Thái thú Bành Hàm (彭含).
            • Lý Thừa (李承, 431 - 475), nhậm Long tương Tướng quân, Huỳnh Dương quận Thái thú, tước Cô Tang Mục hầu (姑臧穆侯). Vợ là Thái Nguyên Vương thị, con gái Mục hầu Vương Tuệ Long (王慧龍).
              • Lý Thiều (李韶, 453 - 524), nhậm Tán kỵ Thường thị, Định Châu Thứ sử, Phiêu kỵ Đại tướng quân, tước An Thành Văn Cung bá (安城文恭伯). Vợ là Huỳnh Dương Trịnh thị (荥阳郑氏), con gái Nam Dương Văn công Trịnh Hy (郑羲).
                • Lý Dữ (李玙, 482 - 553), nhậm Tiền quân Tướng quân, Hộ quân, tước An Thành huyện bá (安城县伯).
                  • Lý Thuyên (李诠), nhậm Nhậm Thành quận Thái thú.
                  • Lý Mịch (李谧), nhậm Cao Dương quận Thái thú, Tư nông khanh, An Châu Thứ sử.
                  • Lý Tụng (李诵), nhậm Nghi đồng Tam ty, Lâm Chương huyện Huyện lệnh.
                    • Trưởng nữ, gả cho Mộc Hoài Hối (穆怀廆).
                    • Nhị nữ, gả cho Trường Lạc huyện hầu Phong Tự Đạo (封嗣道).
                  • Lý Thế Uẩn (李世韫), nhậm Thái tử Xá nhân, Điện trung lang.
                  • Lý Thế Quân (李世君), nhậm Khai phủ Tham quân sự.
                  • Lý Thế Cử (李世举, 519 - 575), nhậm Doanh Châu Tư mã, Tân Hưng quận Thái thú. Nguyên phối Lô thị (卢氏), con gái U Châu thứ sử Lô Tư Không (卢司空); kế phối Hình thị (邢氏) và Thôi thị (崔氏).
                  • Lý Thế Lâm (李世林, ? - 545), nhậm Trung phủ Chủ bạ, bị Cao Hoan xử tử.
                • Lý Cẩn (李瑾, 490 - 528), nhậm Long tương Tướng quân, Thông trực Tán kỵ Thị lang. Vợ là Phạm Dương Lô thị, con gái Cố An Ý bá Lô Uyên (卢渊).
                  • Lý Sản Chi (李产之), nhậm Bắc Dự Châu Tư mã. Vợ là Lô Thắng Dịch (卢胜豛) xuất thân Phạm Dương Lô thị, con gái Ngân thanh Quang lộc Đại phu Lô Cảnh Hy (卢景熙).
                    • Lý Bá Hiến (李伯宪, 536 - 565), nhậm Tham quân. Vợ là Lang Da Vương thị, tằng tôn nữ của Thượng thư Vương Dực Chi (王翼之).
                    • Lý Trọng Ưng (李仲膺), nhậm Kinh Châu Tổng quản Tư mã thời Tùy
                    • Trưởng nữ Lý Nguyệt Tướng (李月相, 535 - 618), gả cho Lô Văn Cấu (卢文构).
                    • Nhị nữ Lý Thục Nghi (李淑仪), gả cho Nội thư Thị lang Triệu Thúc Tương (赵叔将), con trai Nghi Dương vương Triệu Ngạn Thâm (赵彦深).
                  • Lý Thiến Chi (李倩之, 512 - 558), nhậm Khinh xa Tướng quân, Thượng thư Khảo công Lang trung. Vợ là Thái Nguyên Vương thị, con gái Trung thư Thị lang, Tề Châu Thứ sử Vương Diên Nghiệp (王延业).
                    • Lý Nguyên Kiệm (李元俭, 542 - 577), nhậm Tịnh Châu Điền tào Tham quân. Vợ là Bác Lăng Thôi thị (博陵崔氏), con gái Khai phủ Nghi đồng Tam ty Thôi Quý Thư (崔季舒). Có ba con trai.
                    • Lý Võ Khanh (李武卿), nhậm Ty Châu Chủ bạ, quá kế cho người chú thứ tư là Lý Lễ Chi (李礼之). Vợ là Nam Dương Triệu thị (南阳赵氏), con gái Ty đồ công Triệu Ngạn Thâm (赵彦深).
                    • Trưởng nữ Lý Nguyệt Tĩnh (李月静), gả cho Tùng sự sử Vương Tu (王修).
                    • Nhị nữ Lý Chiêu Minh (李昭明), gả cho Thái tử bộc xạ Thôi Chửng (崔拯).
                    • Tam nữ Lý Chiêu Tương (李昭相), gả cho Cấp sự Hoàng môn Thị lang Lô Tư Đạo (卢思道).
                    • Tứ nữ Lý Lương Nguyện (李良愿), gả cho Dương Hạ quận Thái thú Trịnh Uẩn (郑蕴).
                  • Lý Thọ Chi (李寿之), nhậm Lương Châu Trung tùng sự.
                  • Lý Lễ Chi (李礼之, ? - 555), nhậm Khinh xa Tướng quân, Tư đồ Kỵ binh Tham quân. Vợ là Trịnh Tu Nghi (郑修仪), con gái Trung thư lệnh Trịnh Chi (郑□之).
                  • Lý Hành Chi (李行之), nhậm Đường Châu Hạ Tra quận Thái thú, tước Cố Thủy huyện nam (固始县男).
                  • Lý Ngưng Chi (李凝之), nhậm Quang Châu Trung tùng sự.
                  • Lý thị, gả cho Tu Xương huyện công Tư Mã Ưng Chi (司马膺之).
                • Lý Toản (李瓒), nhậm Tư đồ Tham quân sự.
                  • Lý Tu Niên (李脩年), nhậm Đại tướng quân Khai phủ Sĩ tào Tham quân.
                  • Nhị nữ, phi tần của Bắc Ngụy Hiếu Minh Đế, phong Thế phụ (世妇).
                • Trưởng nữ, gả cho Hậu tướng quân, Ân Châu Thứ sử Thôi Khải (崔楷).
              • Lý Ngạn (李彦, ? - 524), nhậm Phủ quân Tướng quân, Tần Châu Thứ sử. Vợ là Thôi thị (崔氏).
                • Lý Tiết (李燮), nhậm Trước tác Tá lang, Ty đồ Tế tửu, Chủ bạ.
                • Lý Đức Quảng (李德广), nhậm Trung tán Đại phu.
                • Lý Đức Hiển (李德显), nhậm Thái úy Hành tham quân, Tán kỵ Thị lang.
                • Lý Đức Minh (李德明), nhậm Bí thư lang, Cao Dương quận Thái thú.
                • Trưởng nữ, gả cho Thành Dương huyện tử Lô Nguyên Minh (卢元明).
                • Nhị nữ, gả cho Hoàng môn lang Vương Tuân Nghiệp (王遵业).
              • Lý Càn (李虔, 457 - 530), nhậm Tán kỵ Thường thị, Phiêu kỵ Đại tướng quân, Khai phủ Nghi đồng Tam ty, tước Cao Bình Tuyên Cảnh nam (高平宣景男).
                • Lý Hoán (李㬇), nhậm Thượng thư Tả ngoại binh lang.
                • Lý Bỉnh (李昞, 491 - 528), nhậm Viên ngoại Tán kỵ Thị lang, Thái úy Lục sự Tham quân.
                • Lý Hạo (李晧), nhậm Tán kỵ Thị lang.
                  • Lý Trọng Cử (李仲举), nhậm Soái đô đốc, Lạc Dương huyện Huyện lệnh. Vợ là Thôi Diệu Diệu (崔曜曜), con gái Tương Viên quận Thái thú Thôi Tuyên Độ (崔宣度).
                    • Lý Đại Sư (李大师, 570 - 628), nhậm Thượng thư Lễ bộ Thị lang.
                      • Lý Khánh Nam (李庆孙)
                      • Lý Chính Lễ (李正礼)
                      • Lý Lợi Vương (李利王), nhậm Kim Thành huyện, Bình Lợi huyện nhị huyện Huyện lệnh.
                      • Lý Diên Thọ, nhậm Phù tỷ lang, biên soạn và tu sửa hai bộ sách sử khác là Tùy thưTấn thư.
                      • Lý An Thế (李安世)
                    • Lý Hành Sư (李行师), nhậm Cùng Châu Thứ sử thời Đường.
                    • Nhị nữ, gả cho Ích Châu Tân Đô huyện úy Trịnh Sư Vạn (郑师万).
                • Lý Hiểu (李晓), nhậm Bình tây Tướng quân, Đông quận Thái thú
              • Lý Huy Nghi (李晖仪), gả cho Đông Bình Nguyên quận Thái thú Trịnh Bình Thành (郑平城).
              • Lý Nhuế (李蕤, 464 - 505), nhậm Đại tư nông Thiếu khanh. Vợ là Tấn Dương huyện quân Vương Ân Vinh (王恩荣), con gái Trung Sơn Tuyên vương Vương Lạc Thành (王洛成).
                • Lý Cai (李该), nhậm Tán kỵ Thường thị, An đông Tướng quân, Quảng Châu Thứ sử.
                  • Trưởng nữ Lý Diễm Hoa (李艳华), gả cho Nguyên Tử Thúy (元子邃).
                  • Nhị nữ, gả cho Hành đài Tả thừa Thôi Khiêm (崔谦).
                • Lý Nghĩa Thận (李义慎), nhậm Ty không thuộc
                • Lý Nghĩa Chân (李义真), nhậm Thông trực Tán kỵ Thường thị
                • Lý Nghĩa Viễn (李义远), nhậm Quốc tử Bác sĩ
                • Lý Nghĩa Ung (李义邕), con trai thứ bảy, nhậm Trung thư Thị lang, Thái thường Thiếu khanh.
          • Lý Mậu (李茂, 432 - 502), nhậm Trấn Tây tướng quân, Quang lộc đại phu, tước Đôn Hoàng Cung hầu (敦煌恭侯).
            • Lý Tĩnh (李静, 466 - 520), nhậm Định Châu Biệt giá, Đông Bình Nguyên quận Thái thú, tước Đôn Hoàng hầu (敦煌侯).
            • Lý Phu (李孚, 470 - 531), nhậm Trấn đông Tướng quân, Thương Châu Thứ sử, Tán kỵ Thường thị.
            • Lý Kính An (李敬安), nhậm Phụng triều thỉnh.
            • Lý Quý An (李季安, 475 - 521), nhậm Kiêu kỵ Tướng quân, Quan Tây Đô đốc Trưởng sử.
          • Lý Phụ (李辅, 436 - 482), nhậm Trấn Viễn tướng quân, Dĩnh Xuyên quận Thái thú, tước Tương Võ Huệ hầu (襄武惠侯).
            • Trưởng nữ Lý Khánh Dung (李庆容, 469 - 510), gả cho An Định vương Tân Tường (辛祥).
            • Lý Bá Thượng (李伯尚, 473 - 501), nhậm Bí thư thừa, Cấp sự Hoàng môn Thị lang.
            • Lý Trọng Thượng (李仲尚), nhậm Kinh Triệu vương phủ Tham quân.
            • Lý Quý Khải (李季凯, 477 - 531), nhậm Bí thư giám, Trung quân Tướng quân, tước Bác Bình huyện hầu (博平县侯).
              • Lý Thống (李统), kế thừa tước Hầu, nhâm Thái úy Hình ngục tham quân, sau bị hàng xuống tước Bá.
            • Lý Diên Khánh (李延庆, 482 - 533), nhậm Trấn đông Tướng quân, Kim tử Quang lộc Đại phu.
              • Lý Huệ Củ (李惠矩), nhậm Khai phủ nghi đồng tham quân sự.
            • Lý Diên Độ (李延度), nhậm Vệ tướng quân, An Đức quận Thái thú.
            • Nhị nữ, gả cho Hàm Dương vương Nguyên Hy (元禧).
            • Tam nữ, gả cho Nguyên Siêu (元超) - con trai thứ ba của Đông Dương vương Nguyên Phi (元丕).
          • Lý Tá (李佐), nhậm Phụ quốc tướng quân, Kinh châu thứ sử, Đô quan thượng thư, tước Kính Dương Chiêu tử (泾阳昭子). Nguyên phối Lũng Tây Tân thị (陇西辛氏), con gái Địch Đạo hầu Tân Tùng (辛松); kế phối Huỳnh Dương Trịnh thị (荥阳郑氏), con gái của Trịnh Định Tông (郑定宗).
            • Lý Bá Khâm (李伯钦, 470 - 482), nhậm Quốc tử học sinh, mất sớm
            • Lý Tuân (李遵, 473 - 524), nhậm Trung lũy Tướng quân, Ty không Ty mã, tước Kính Dương huyện tử (泾阳县子).
            • Lý Giản (李柬), nhậm Trấn viễn Tướng quân, Tế Châu Thứ sử.
            • Lý Thần Tuấn (李神俊, 478 - 541), nhậm Phiêu kỵ Đại tướng quân, Thị trung, tước Thiên Thừa Văn Trinh hầu (千乘文贞侯). Nguyên phối Lưu Ấu Phi (刘幼妃), con gái Văn Trinh công Lưu Phương (刘芳), chưa thành hôn đã qua đời; kế phối Nguyên A Diệu (元阿妙), con gái Giang Dương vương Nguyên Kế (元继); tam kế phối Nguyên Quý Thông (元季聪), con gái Thanh Hà Văn Hiến vương Nguyên Dịch (元怿).
              • Con thừa tự: Lý Dung Nhi (李容儿), con trai thứ ba của Lý Diên Độ (李延度).
            • Lý Tuấn Công (李俊公), cha của Lý Tư Ước (李思约)
            • Lý Quế (李刿), nhậm Ty đồ Hành tham quân.
          • Lý Xung (李冲, 450 - 498), nhậm Trấn Nam tướng quân, Thượng thư bộc xạ, tước Thanh Uyên Văn Mục công (清渊文穆公), là sủng thần của Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế. Vợ là Huỳnh Dương Trịnh thị (荥阳郑氏), con gái Dương Võ Tĩnh hầu Trịnh Đức Huyền (郑德玄).
            • Lý Diên Thực (李延寔, ? - 531), nhậm Trì tiết Đốc Quang Châu chư quân sự, Tả tướng quân, Quang Châu Thứ sử, tước Thanh Uyên huyện Khai quốc hầu (清渊县开国侯). Vợ là Phạm Dương Lô thị, con gái Cố An Ý bá Lô Uyên (卢渊).
              • Lý Úc (李彧), nhậm Phiêu kỵ Đại tướng quân, Tả quang lộc Đại phu, Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Quảng Châu Thứ sử, tước Đông Bình Hiếu Chiêu công (东平孝昭公). Vợ là Nguyên Quý Dao (元季瑶), con gái Bành Thành Võ Tuyên vương Nguyên Hiệp (元勰).
                • Lý Đạo Đoan (李道端), thừa kế tước Đông Bình quận công (东平郡公).
                • Lý Nghĩa Hùng (李义雄), con trai thứ tư, nhậm Lang Gia quận Thái thú.
                • Lý Lễ Thành (李礼成, 528 - 583), con trai thứ năm, nhậm Thượng đại tướng quân, Ninh Châu Thứ sử, tước Giáng quận công (绛郡公). Nguyên phối Đậu thị (窦氏); kế phối Dương thị (杨氏), em gái Tùy Văn Đế Dương Kiên.
                • Lý Trí Nguyên (李智源, 529 - 575), con trai thứ sáu, nhậm Tán kỵ Thị lang, Dực quân Tướng quân, Thái thú hai quận Cao Đô và Trường Bình.
                • Lý Tín Tắc (李信则), con trai thứ bảy, nhậm Miện Châu Thứ sử.
              • Lý Bân (李彬), nhậm Xa kỵ Tướng quân, Tả quang lộc Đại phu, tước Thanh Uyên Hiến hầu (清渊献侯).
              • Lý Chương (李彰, 510 - 531), nhậm Thông trực Tán kỵ Thị lang.
              • Lý thị, sinh Lan Lăng quận Thái thú Trịnh Hạo.
            • Lý Hưu Toản (李休纂), nhậm Thái tử Xá nhân.
            • Lý Diên Khảo (李延考, ? - 528), nhậm Thái úy Ngoại binh Tham quân.
            • Trưởng nữ Lý Trường Phi (李长妃), lấy Văn Cung tử Trịnh Đạo Chiêu (郑道昭).
            • Nhị nữ Lý Trọng Ngọc (李仲玉), gả cho Ty đồ Chủ bạ Trịnh Hồng Kiến (郑洪建).
            • Tam nữ Lý Lệnh Phi (李令妃), gả cho Văn tử Lô Đạo Dụ (卢道裕).
            • Tứ nữ Lý Viện Hoa (李媛华, 484 - 521), gả cho Bành Thành Võ Tuyên vương Nguyên Hiệp (元勰), sinh Bắc Ngụy Hiếu Trang Đế, truy phong Văn Mục Hoàng hậu (文穆皇后).
            • Ngũ nữ Lý Triết Phi (李稚妃), gả cho Triều Dương bá Thôi Úc (崔勗).
            • Lục nữ Lý Triết Hoa (李稚华, 498 - 564), được phong Quận quân, gả cho Thái úy Tham quân sự, Phùng Dực vương Nguyên Kế Hải (元季海).
            • Thất nữ, phi tần của Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, phong Phu nhân.
        • Lý Hoài Đạt (李怀达)
        • Lý Kháng (李抗), nhậm Thọ An quận Thái thú. Có mười bốn con trai.
          • Lý Bân (李斌), con trai đích, nhậm Tán kỵ Thị lang, tước Lạc Bình bá (乐平伯).
          • Lý Tưởng (李奖), anh trai của Lý Bân, nhậm Thị trung, Đại sứ ba châu Ký - Doanh - Thương, Ngụy Doãn, tước Quảng Bình hầu (广平侯).
      • Lý Dự (李豫), nhậm Tây Hải quận, Tân Thành quận Thái thú, Kích lỗ Tướng quân, lập nên nhánh Võ Dương phòng (武阳房).
        • Con trai không rõ tên
          • Lý Cảnh Siêu (李景超), nhậm Viên ngoại Tán kỵ Thị lang.
            • Lý Diễm Chi (李琰之, ? - 533), nhậm Thị trung, Xa kỵ Đại tướng quân, Tả quang lộc Đại phu. Vợ là Hà Đông Bùi thị (河东裴氏), con gá Thái phủ khanh Bùi Lương (裴良).
              • Lý Cương (李纲), nhậm Nghi Châu Thứ sử, Nghi đồng Tam ty, tước Võ Dương quận công (武阳郡公).
              • Lý Huệ (李惠), nhậm Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Dương Châu Thứ sử, tước Xương Bình huyện công (昌平县公).
              • Trưởng nữ, gả cho Nghĩa Môn Giản công Trưởng Tôn Sĩ Lượng (长孙士亮).
              • Nhị nữ, gả cho gả cho Vệ quân phủ Ngoại binh Tham quân Bùi Tử Thăng (裴子昇).
            • Lý Thông Dật (李通逸), nhậm Sứ trì tiết, Đông Nam đạo Đô đốc, tước Địch Đạo huyện Khai quốc tử (狄道县开国子).

Chú thích Lũng Tây Lý thị

  1. 《通志·氏族略第四》:臣谨按:李氏凉武昭王有国二十年,高祖有天下三百年,支庶既蕃,子孙必众。然谱牒之议纷纷,不知何始。以理官为氏,以食木子又为李氏,此何理也。以官为氏者,容有此理,以食木子为氏,而取理同音者,无是理也,今不得其始,姑从理说,置在官列。臣又按:唐家有天下,必欲世系详明。然自成纪令之后,信以传信。自成纪令之前,疑以传疑。盖谱谍之家,信疑相半。尚为成纪令,因居之,其后遂为陇西成纪人,故言李者称陇西。
  2. 陇西成纪孕李唐——就李唐祖籍问题与李宝通先生商榷. 天水日报社会数字报. 2015-08-02 [2018-01-07]. (原始内容存档于2020-09-20) (简体中文).
  3. 陳寅恪《唐代政治史述論稿.上篇》(臺北:里仁書局,1980)ISBN 9579133-0804