Phạm Dương Lô thị
Phạm Dương Lô thị (chữ Hán: 范陽盧氏), còn gọi Phạm Dương Lư thị (范陽盧氏) là một danh tộc của Trung Quốc cổ đại. Gia tộc này từ thời Đông Hán, Tào Ngụy và Tây Tấn cho tới thời nhà Đường đều vô cùng hiển hách, cùng Lũng Tây Lý thị, Triệu Quận Lý thị, Thanh Hà Thôi thị, Bác Lăng Thôi thị, Thái Nguyên Vương thị và Huỳnh Dương Trịnh thị được liệt vào [Thất tính Thập gia; 七姓十家] - những danh gia sĩ tộc nổi tiếng.
Nguồn gốc
Gia tộc này vốn là hậu duệ của nước Tề, có thể truy về dòng dõi Tề Thái công Khương Tử Nha thời nhà Chu. Đến thời vua thứ 10 của nước Tề là Tề Văn công có con trai là Công tử Cao (公子高) sau khi cha mất có công đưa Tề Hoàn công lên ngôi nên được ban thái ấp nước Lô, từ đó lấy tên nước làm họ.[1] Về sau, Điền Tề Thái công cướp ngôi của họ Khương, họ Lô di cư đến nước Yên và nước Tần. Khi ở nước Tần, có một vị tên Lô Ngao, con cháu sinh sống ở gần sông Trạc Thủy, từ đó nhận quận Phạm Dương (nay thuộc Trác Châu) làm đất tổ.[2]
Nhân vật nổi bật
Phả hệ
- Lư Thực, danh thần cuối thời Đông Hán, nhậm Cửu Giang thái thú, Nghị lang, Thị trung, Thượng thư, là thầy dạy của Công Tôn Toản và Lưu Bị. Vốn có bốn người con trai, hai người tử trận trong khởi nghĩa Khăn Vàng.
- Lư Dục (盧毓, 183 - 257), nhậm Kí Châu Chủ bộ, Lại bộ Thượng thư, tước Dung Thành hầu (容城侯).
- Lư Khâm (盧欽, ? - 278), nhậm Thượng thư lang, Lang Tà quận Thái thú, Tán kị thường thị, Đại tư nông, Lại bộ Thượng thư, tước Đại Lương hầu (大梁侯). Qua đời tặng Vệ tướng quân, Khai phủ nghi đồng tam tư, truy thụy Nguyên hầu (元侯).
- Lư Phù (卢浮), kế thừa tước vị Đại Lương hầu, nhậm Thái tử xá nhân, Quốc tử giám Bác sĩ, Bí thư giám.
- Lư Chí (盧志, ? - 312), tướng nhà Tây Tấn, nhậm Nghiệp Huyền huyện lệnh, Quân tư tế tửu, Vệ úy, Thượng thư, tước Võ Cường hầu (武強侯). Là thân tín của Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh (司馬穎), tham gia loạn bát vương, trong khởi nghĩa Vĩnh Gia bị quân Hậu Triệu xử tử. Lấy Thanh Hà Thôi thị, con gái Ngự sử Trung thừa Thôi Kham (崔参).
- Lư Kham (盧諶, 285 - 351), nhậm Tư không, Chủ bộ, Ngự sử trung lang, Trung thư thị lang, Quốc tử Tế tửu, Thị trung, Trung thư giám, tử trận tại Hình Châu. Lấy Huỳnh Dương công chúa (滎陽公主), con gái Tư Mã Viêm.
- Lư Úc (盧勗)
- Lư Yến (卢偃), tổ tiên nhánh phía Bắc, thời Hậu Yên nhậm Doanh Khâu quận Thái thú.
- Lư Mạc (卢邈), nhậm Phạm Dương quận Thái thú.
- Lư thị, lấy Tán kị thường thị Phong Khải (封恺).
- Lư Huyền (盧玄), làm quan nhà Bắc Ngụy, từng được cử đi sứ sang Lưu Tống, tước Cố An tử (固安子), khi mất tặng tước Hầu, vợ là Lý thị.
- Lư Độ Thế (卢度世, 419 - 471), nhậm Trung thư thị lang, Thái thường khanh, Bình Đông tướng quân, Thanh Châu Thứ sử, khi mất tặng Huệ hầu (惠侯). Lấy Thanh Hà Thôi thị, con gái Thanh Hà hầu Thôi Trách (崔赜).
- Lô Uyên (卢渊, 454 - 501), nhậm Đại trung chính, Thị trung, An Nam tướng quân, Bí thư giám. Mất khi đang tại chức, tặng Cố An bá (固安伯). Lấy Triệu quận Lý thị, con gái Tuyên Thành công Lý Hiếu Bá (李孝伯).
- Lư Đạo Tương (卢道将), nhậm Thượng thư tả ngoại lang, Lang trung, Bí thư thừa, Yến quận Thái thú, Tư đồ. Khi mất, tặng Long Tương tướng quân, Thái thường tự Thiếu khanh.
- Lư Hoài Tố (卢怀祖), nhậm Tán kị thường thị, Thái học bác sĩ.
- Lư Hoài Nhân (卢怀仁), thời Bắc Tề nhậm Thái úy, Hoằng Nông quận Thái thú.
- Lư Ngạn Khanh (卢彦卿), nhậm Thạch môn thị lệnh, Đông cung bác sĩ.
- Lư Ngạn Chương (卢彦章), thời Đường nhậm Vũ Huyền huyện lệnh.
- Lư Ngạn Cao (卢彦高), thời Đường nhậm Vạn Niên huyện lệnh.
- Lư Đạo Lượng (卢道亮), lấy Thái Nguyên Vương thị, con gái Trường Xã bá Vương Quỳnh (王琼).
- Lư Tư Đạo (卢思道, 535 - 586), thời Bắc Chu nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, thời Tùy nhậm Vũ Dương quận Thái thú, Tán kị thị lang. Lấy ba người vợ: chính thê Thái Nguyên Vương thị, con gái Nam Cự Lộc quận Thái thú Vương Nghệ (王乂); kế thê Trường Lạc Phùng thị, con gái Xương Lê quận công Phùng Tử Tông (冯子琮); tam kế thê Lý Chiêu Tường (李昭相) xuất thân Lũng Tây Lý thị, con gái Bắc Tề Thượng thư Lý Thiến Chi (李倩之).
- Lư Xích Tùng (卢赤松, 569 - 635), nhậm Bắc Hải huyện lệnh, Hà Đông huyện lệnh, Thái tử xá nhân, thời Đường phong Cố An Huyện công (固安县公). Lấy Lan Lăng Tiêu thị (572 - 644), tằng tôn nữ của Bà Dương vương Tiêu Khôi (萧恢).
- Lư Thừa Khánh (卢承庆, 595 - 670), từng nhậm Tể tướng dưới thời Đường Cao Tông, tước Phạm Dương Quận công (范阳郡公).
- Lư Thừa Cơ (卢承基, 600 - 645), nhậm Dĩnh Châu Thứ sử. Lấy Cao Ấp huyện quân Trường An Lý thị, con gái Hình bộ Thượng thư Lý Can Hựu (李乾祐).
- Lư Minh Viễn (卢明远, 689-746), nhậm Thái Nguyên Thiếu doãn, lấy Hoằng Nông Dương thị.
- Lư Thừa Nghiệp (卢承业, 601 - 671), nhậm Ngân thanh quang lộc đại phu, Đồng Châu Thứ sử, tước Ngụy huyện tử (魏县子). Lấy Lý Quán Đính (李灌顶, 620 - 683) xuất thân Lũng Tây Lý thị, con gái Kinh Sơn huyện lệnh Lý Đức Luân (李德伦).
- Lư Bân (卢玢, 657 - 710), nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, Tam châu thứ sử, Tịnh Châu Trường sử.
- Lư Thừa Lễ (卢承礼, 609 - 686), nhậm Triều tán lang, Tịnh Châu Đại đô đốc, Hồ Châu Tư mã. Vợ là Lũng Tây Lý thị.
- Lư Thừa Phúc (卢承福, 612 - 666), nhậm Kì Châu, Hoài Châu Trường sử, Ích Châu Đại đô đốc, Ích Châu Tư mã. Lấy Bành Thành Lưu thị (625 - 664), con gái Bành Thành công Lưu Đức Uy (刘德威).
- Lư Xích Tùng (卢赤松, 569 - 635), nhậm Bắc Hải huyện lệnh, Hà Đông huyện lệnh, Thái tử xá nhân, thời Đường phong Cố An Huyện công (固安县公). Lấy Lan Lăng Tiêu thị (572 - 644), tằng tôn nữ của Bà Dương vương Tiêu Khôi (萧恢).
- Lư thị, lấy Thông Châu Thứ sử Phong Tử Tú (封子绣).
- Lư Tư Đạo (卢思道, 535 - 586), thời Bắc Chu nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, thời Tùy nhậm Vũ Dương quận Thái thú, Tán kị thị lang. Lấy ba người vợ: chính thê Thái Nguyên Vương thị, con gái Nam Cự Lộc quận Thái thú Vương Nghệ (王乂); kế thê Trường Lạc Phùng thị, con gái Xương Lê quận công Phùng Tử Tông (冯子琮); tam kế thê Lý Chiêu Tường (李昭相) xuất thân Lũng Tây Lý thị, con gái Bắc Tề Thượng thư Lý Thiến Chi (李倩之).
- Lư Đạo Kiền (卢道虔), nhậm Phiếu kị đại tướng quân, Thượng thư hữu phó xạ, Tư không, Doanh Châu Thứ sử, tước Cung Văn công (恭文公). Lấy ba người vợ: chính thê Nguyên thị, tức Tế Nam Trưởng công chúa (济南长公主), con gái Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế; kế thê Tư Mã thị (司马氏); tam kế thê Nguyên thị, tông thất nữ Bắc Ngụy.
- Lư Xương Ngụ (卢昌寓, 490 - 576), mẹ là Tế Nam Trưởng công chúa, nhậm Tán kị thường thị.
- Lư Xương Kỳ (卢昌期, ? - 578), mẹ là Nguyên thị, bị quân của Vũ Văn Thần Cử (宇文神举) xử tử.
- Lư Xương Hành (卢昌衡), mẹ là Nguyên thị, nhậm Thượng thư thị lang, thời Tùy nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, Thái tử Tả thư tử.[3] Lấy Lũng Tây Lý thị, con gái Lương Châu Thứ sử Lý Đức Minh (李德明).
- Lư thị, lấy Bình Dao huyện tử Tư Mã Ấu Chi (司马幼之).
- Lư thị, ban đầu lấy con trai Quách Quỳnh (郭琼). Gia quyến Quách Quỳnh bị Cao Hoan xử tử, tái giá thuộc tướng Trần Nguyên Khang (陈元康).
- Lư Đạo Khản (卢道侃), nhậm U Châu Chủ bộ.
- Lư Đạo Hòa (卢道和), nhậm Kí Châu Tham quân.
- Lư Cảnh Hi (卢景熙), nhậm Ngân thanh quang lộc đại phu, Khai phủ nghi đồng tam tư. Lấy Nguyên thị, con gái Tương Châu Thứ sử Nguyên Hi (元熙), hậu duệ Thác Bạt Hoảng.
- Lư Đạo Ước (卢道约, 491 - 548), nhậm Tư đồ, U Châu đại trung chính, Phụ quốc tướng quân, Quang lộc đại phu , Xa kị tướng quân. Khi mất, tặng Sử trì tiết, Phiếu kị đại tướng quân, Nghi đồng tam tư, U Châu Thứ sử. Lấy Huỳnh Dương Trịnh thị, con gái thư pháp gia, Văn Cung hầu Trịnh Đạo Chiêu (郑道昭).
- Lư Lệnh Viện (卢令媛, 511 - 522), phi tần của Bắc Ngụy Hiếu Minh Đế, khi mất tặng Chiêu tần (昭嫔).
- Lư thị, lấy An Bình vương Hồ Diên Chi (胡延之), sinh con gái là Hồ hoàng hậu của Bắc Tề Vũ Thành Đế.
- Lư Đạo Thư (卢道舒), nhậm Lang trung, Quan quân tướng quân, Trung thư thị lang, thụ tước Cố An bá (固安伯).
- Lư Hi Dụ (卢熙裕), kế tước Cố An bá.
- Lư thị, lấy Bộc Dương Hiếu Ý công Lý Diên Thực (李延寔) - anh trai Văn Mục Hoàng hậu Lý Viện Hoa (李媛華) - sinh mẫu của Bắc Ngụy Hiếu Trang Đế.
- Lư thị, lấy Tán kị thị lang Lý Cẩn (李瑾).
- Lư thị, lấy Định Châu thị trung Lý Tử Vân (李子云).
- Lư Đạo Tương (卢道将), nhậm Thượng thư tả ngoại lang, Lang trung, Bí thư thừa, Yến quận Thái thú, Tư đồ. Khi mất, tặng Long Tương tướng quân, Thái thường tự Thiếu khanh.
- Lư Mẫn (卢敏), nhậm Uy Viễn tướng quân, Phạm Dương Thái thú.
- Lư Nghĩa Hi (卢义僖), nhậm Tam kỳ trường sử, Đô quan thượng thư, Phiếu kị đại tướng quân, Quang lộc đại phu. Khi mất, tặng Doanh Châu Thứ sử.
- Lư tần (卢嫔), phi tần của Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế.
- Lư Sưởng (卢昶, ? - 516), nhậm Thị trung, Từ Châu, Ung Châu Thứ sử, Trấn Tây tướng quân, mất khi đang tại vị. Lấy Huỳnh Dương Trịnh thị, con gái Nam Cung Văn công Trịnh Hi (郑羲).
- Lư Nguyên Duật (卢元聿), nhậm Trung thư giám. Lấy Nghĩa Dương công chúa (义阳公主), con gái Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế.
- Lư Sĩ Thịnh (卢士晟), nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư.
- Lư thị, lấy Nguyên Lượng (元亮) - con trai Giang Dương vương Nguyên Nghệ (元乂).
- Lư Nguyên Minh (卢元明), nhậm Lại bộ lang trung, Tam kỳ trường sử, Hoàng môn thị lang, U Châu đại trung chính. Lấy hai người vợ: chính thê Lũng Tây Lý thị, con gái Tần Châu Thứ sử Lý Ngạn (李彦); kế thê Huỳnh Dương Trịnh thị, con gái Bí thư giám Trịnh Đạo Chiêu (郑道昭).
- Lư thị, lấy Tào nghị tham quân Lý Tử Vũ (李子羽).
- Lư Nguyên Duật (卢元聿), nhậm Trung thư giám. Lấy Nghĩa Dương công chúa (义阳公主), con gái Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế.
- Lư Thượng Chi (卢尚之, 463 - 524), nhậm Tiền tướng quân, Quang lộc đại phu, Tế Châu Thứ sử. Khi mất, tặng An Đông tướng quân, Tán kị thường thị, Thanh Châu Thứ sử.
- Lư Văn Dực (卢文翼), nhậm Hữu tướng quân, Tán trung đại phu, tước Phạm Dương tử (范阳子).
- Lư thị, lấy Vũ Thành huyện công Thôi Nghi (崔㥄).
- Lư thị, lấy Tán kị thường thị Thôi Trường Khiêm (崔长谦).
- Lư Chân Tâm (卢真心), lấy Đông Bình vương Nguyên Lược (元略) - con trai Trung Sơn vương Nguyên Anh.
- Lư thị, lấy Đông Quận Trang vương Lục Định Quốc (陆定国).
- Lô Uyên (卢渊, 454 - 501), nhậm Đại trung chính, Thị trung, An Nam tướng quân, Bí thư giám. Mất khi đang tại chức, tặng Cố An bá (固安伯). Lấy Triệu quận Lý thị, con gái Tuyên Thành công Lý Hiếu Bá (李孝伯).
- Lư Độ Thế (卢度世, 419 - 471), nhậm Trung thư thị lang, Thái thường khanh, Bình Đông tướng quân, Thanh Châu Thứ sử, khi mất tặng Huệ hầu (惠侯). Lấy Thanh Hà Thôi thị, con gái Thanh Hà hầu Thôi Trách (崔赜).
- Lư Chiểu (卢昭)
- Lư Mân (卢珉)
- Lư Phụ (卢辅), nhậm U Châu Biệt giá.
- Lư Tĩnh (卢静), nhậm Thái thường thừa. Khi mất, tặng Thái phó, Bình Châu Thứ sử.
- Lư Cảnh Du (盧景裕), nhậm Quốc tử Bác sĩ, sau chuyên tâm dịch kinh điển Phật giáo, là thầy dạy của Bắc Tề Văn Tuyên Đế, dù không nhậm chức quan cao nhưng rất được người đương thời kính trọng.
- Lư Trọng Tân (卢仲宾), nhậm Cử Châu Thứ sử, tước Cầm Xương Huyện hầu (擒昌县侯).
- Lư Biện (卢辩), nhậm Thái tử Thiếu bảo, Quốc tử Tế tửu, Nghi Châu Thứ sử, mất khi đang tại vị, tặng Trầm quốc công (沈国公).
- Lư Thận (卢慎), nhậm Phục Châu Thứ sử, tước Phạm Dương Quận công (范阳郡公).
- Lư Thuyên (卢诠, ? - 593), nhậm Du kích tướng quân, Phiếu kị đại tướng quân, Khai phủ nghi đồng tam tư.
- Lư Quang (卢光, 506 - 567), nhậm Tấn Châu Thứ sử, An Tây tướng quân, Ngân thanh quang lộc đại phu, thụ tước Phạm Dương Huyện bá (伯的爵位) rồi Yến quận công (燕郡公). Là thầy dạy của Bắc Chu Vũ Đế, khi mất tặng Thiếu phó.
- Lư Bí (盧賁), kế tước Yến quốc công. Nhậm Tán kị thường thị, Thái tử tả thư tử, Quân hữu tướng quân.
- Lư Cảnh Du (盧景裕), nhậm Quốc tử Bác sĩ, sau chuyên tâm dịch kinh điển Phật giáo, là thầy dạy của Bắc Tề Văn Tuyên Đế, dù không nhậm chức quan cao nhưng rất được người đương thời kính trọng.
- Lư Tú (卢琇), nhậm An Châu Thứ sử.
- Lư Dũng (卢勇, 513 - 544), nhậm Nghiễm Châu Thứ sử, Nghi đồng tam tư, Thanh Châu Thứ sử. Khi mất, tặng Tư không, Kí Châu Thứ sử, tước Võ Trinh hầu (武贞侯).
- Lư Đồng (盧同, ? - 532), nhậm Tư không, Quốc tử Tế tửu, Xương Lê Thái thú, Định Châu Trường sử, Nhung Kiêm quận Thái thú, Hà Nam doãn thừa, Thái úy. Khi mất, tặng Tả tướng quân, Thái trung đại phu, tước Vũ huyện bá (武县伯).
- Lư Tĩnh (卢静), nhậm Thái thường thừa. Khi mất, tặng Thái phó, Bình Châu Thứ sử.
- Lư Phụ (卢辅), nhậm U Châu Biệt giá.
- Lư Mân (卢珉)
- Lư Mạc (卢邈), nhậm Phạm Dương quận Thái thú.
- Lư Kham (盧諶, 285 - 351), nhậm Tư không, Chủ bộ, Ngự sử trung lang, Trung thư thị lang, Quốc tử Tế tửu, Thị trung, Trung thư giám, tử trận tại Hình Châu. Lấy Huỳnh Dương công chúa (滎陽公主), con gái Tư Mã Viêm.
- Lư Chí (盧志, ? - 312), tướng nhà Tây Tấn, nhậm Nghiệp Huyền huyện lệnh, Quân tư tế tửu, Vệ úy, Thượng thư, tước Võ Cường hầu (武強侯). Là thân tín của Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh (司馬穎), tham gia loạn bát vương, trong khởi nghĩa Vĩnh Gia bị quân Hậu Triệu xử tử. Lấy Thanh Hà Thôi thị, con gái Ngự sử Trung thừa Thôi Kham (崔参).
- Lư Phù (卢浮), kế thừa tước vị Đại Lương hầu, nhậm Thái tử xá nhân, Quốc tử giám Bác sĩ, Bí thư giám.
- Lư Thỉnh (卢珽), nhậm Thị trung, Vệ úy.
- Lư thị, lấy Hoàng môn thị lang, Tán kị thường thị Hoa Nghi (華廙), sinh ba con trai. Nhi tử Hoa Hằng (華恆) nghênh giá Huỳnh Dương Trưởng công chúa (滎陽長公主) - con gái Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm.
- Lư Khâm (盧欽, ? - 278), nhậm Thượng thư lang, Lang Tà quận Thái thú, Tán kị thường thị, Đại tư nông, Lại bộ Thượng thư, tước Đại Lương hầu (大梁侯). Qua đời tặng Vệ tướng quân, Khai phủ nghi đồng tam tư, truy thụy Nguyên hầu (元侯).
- Lư Dục (盧毓, 183 - 257), nhậm Kí Châu Chủ bộ, Lại bộ Thượng thư, tước Dung Thành hầu (容城侯).
Đánh giá
Phạm Dương Lô thị từ cuối thời Đông Hán đã nằm trong số danh tộc thế gia, từ đó đến thời Đường, thời Tống phát triển rực rỡ, trải qua mấy trăm năm vinh hiển. Các gia tộc cùng thời như Thái Nguyên Vương thị, Lang Gia Vương thị, Trần quận Tạ thị sau đều vị loạn Hầu Cảnh mà mất đi phần lớn nhân lực, Phạm Dương Lô thị lại có thể vực dậy được không lâu sau đó, bằng chứng là trong thời nhà Đường, từ năm 784 đến 885, hơn một trăm người đỗ Tiến sĩ, mười người trở thành Tể tướng suốt từ thời Đường Cao Tông đến tận thời Lý Tùng Kha. Dù sau khi nhà Đường diệt vong, gia tộc này không còn chỗ đứng như trước nhưng hậu duệ sau này vẫn có thể kể đến Lư Đa Tốn (盧多遜) nhậm Tể tướng dưới thời Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa. Dòng tộc này sản sinh ra rất nhiều thầy dạy học cho Hoàng đế và quyền thần đương thời, ví dụ như Lưu Bị, các hoàng đế nhà Bắc Tề,...
Dù không thường xuyên liên hôn với hoàng thất đương triều, Phạm Dương Lô thị lại rất hay kết thông gia với sĩ tộc, điển hình như Lũng Tây Lý thị - dòng dõi nhà Đường sau này. Hơn nữa, gia tộc này nổi tiếng có nhiều người có tài văn chương, điển hình như Lư Si Lân (卢照邻) [zh] là một trong tứ đại thi hào Đường sơ cùng Lô Luân (卢纶) là một thi sĩ rất nổi tiếng dưới thời Đường Đại Tông.