Bước tới nội dung

Karl VII của Thánh chế La Mã

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Karl VII của Thánh chế La Mã
Karl VII
(vẽ bởi Georg Desmarées)
Hoàng đế La Mã Thần thánh
Tại vị24 tháng 1 năm 174220 tháng 1 năm 1745
Đăng quang12 tháng 2 năm 1742, Frankfurt
Tiền nhiệmKarl VI
Kế nhiệmFranz I
Vua của Bohemia
Tại vị19 tháng 12 năm 1741
12 tháng 5 năm 1743
Đăng quang19 tháng 12 năm 1741, Prague
Tiền nhiệmMaria Theresia của Áo
Kế nhiệmMaria Theresia của Áo
Tuyển hầu xứ Bayern
Tại vị26 tháng 2 năm 172620 tháng 1 năm 1745
Tiền nhiệmMaximilian II Emanuel
Kế nhiệmMaximilian III Joseph
Thông tin chung
Sinh6 tháng 8 năm 1697
Brussels, Hà Lan
Mất20 tháng 1 năm 1745 (47 tuổi)
Munich, Bayern
An tángNhà thờ Theatine, Munich
Phối ngẫuMaria Amalia Josefa của Áo
Hậu duệMaria Antonia, Nữ Tuyển hầu tước xứ Sachsen
Theresa Benedicta
Maximilian III Joseph
Maria Anna Josepha, Nữ Bá tước Baden-Baden
Maria Josepha, Hoàng hậu Thánh chế La Mã
Hoàng tộcNhà Wittelsbach
Thân phụMaximilian II Emanuel
Thân mẫuTheresa Sobieska
Tôn giáoCông giáo Roma

Karl VII (tiếng Đức: Karl Albrecht; 6 tháng 8 năm 1697 – 20 tháng 1 năm 1745) là Tuyển hầu tước của Bayern từ năm 1726 và là Hoàng đế La Mã Thần thánh từ 24 tháng 1 năm 1742 đến khi ông qua đời, năm 1745. Là một thành viên của Nhà Wittelsbach, Karl được chú ý là người duy nhất không thuộc Nhà Habsburg trở thành Hoàng đế trong 3 thế kỷ qua, mặc dù bản thân có quan hệ huyết thống và hôn nhân với dòng họ này.

Karl là con trai cả của Tuyển hầu Maximilian II Emanuel xứ Bayern và Vương nữ Ba Lan Theresa Kunegunda Sobieska. Năm 1726, sau khi phụ vương qua đời, ông kế vị tước hiệu Tuyển hầu. Trước đó, năm 1722, Karl kết hôn với nữ Đại vương Công Maria Amalia của Áo, con gái của Hoàng đế La Mã Thần thánh Joseph I và là cháu ruột của Hoàng đế Karl VI. Cuộc hôn phối này sinh được bảy người con. Sau khi Hoàng đế Karl VI qua đời năm 1740, Tuyển hầu Karl tuyên bố quyền thừa kế Đại Công quốc Áo, đồng thời trong một thời gian ngắn chiếm giữ ngai vàng Bohemia. Năm 1742, ông được tuyển bầu làm Hoàng đế La Mã Thần thánh, trị vì cho đến khi qua đời ba năm sau đó.[1][2][3]

Thời niên thiếu

Karl lúc nhỏ, 1703, bởi Martin Maingaud.

Karl sinh tại Brussels, là trưởng nam của Tuyển hầu Maximilian II Emanuel xứ Bayern và Vương nữ Theresa Kunegunda Sobieska, con gái của Quốc vương Jan III Sobieski của Ba Lan.[4] [5]Ông có bảy em trai ruột, trở thành trưởng tử trong tám vương tử, ngoài ra còn có ba người anh cùng cha khác mẹ sinh từ cuộc hôn nhân đầu của phụ thân với Maria Antonia của Đế quốc La Mã Thần thánh, song cả ba đều qua đời khi còn nhỏ.

Gia tộc của Karl bị chia rẽ về chính trị trong thời kỳ Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, khiến ông phải trải qua nhiều năm bị quản thúc tại Áo. Năm 1701, hoàng gia rời Brussels và trở về Munich. Tuy nhiên, sau khi Tuyển hầu Maximilian Emanuel đại bại trong trận Blenheim (tháng 8 năm 1704), ông buộc phải trốn sang Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Karl và các anh em ở lại Munich cùng mẫu thân, lúc này giữ vai trò Nhiếp chính. Tháng 5 năm 1705, sau một thời gian lưu trú tại Venezia, chính quyền Áo từ chối cho Tuyển hầu phu nhân trở về Bayern, ép bà phải sống lưu vong trong suốt mười năm. Đến ngày 29 tháng 4 năm 1706, sau thất bại tiếp theo của Maximilian Emanuel trong trận Ramillies, Hoàng đế ban lệnh đặt ông ra ngoài vòng pháp luật của Đế quốc, buộc ông phải tiếp tục lưu vong tại Compiègne.[6] [5]Cùng năm đó, Karl bị chính quyền Áo bắt giữ và đưa tới Klagenfurt, nơi ông bị quản thúc tại gia theo lệnh của Joseph I. Trong thời gian này, ông được các tu sĩ Dòng Tên trực tiếp giáo dục. Karl được đào tạo nghiêm ngặt theo mô hình giáo dục Công giáo phản Cải cách của Dòng Tên, tập trung vào tiếng La-tinh, thần học, lịch sửtriết học luân lý.

Tình trạng giam lỏng kéo dài cho đến năm 1715, khi Hòa ước Baden khôi phục quyền cai trị của nhà Wittelsbach tại Bayern và cho phép gia đình đoàn tụ.

Sau khi đến tuổi trưởng thành vào tháng 8 năm 1715, Karl Albrecht thực hiện một chuyến du học giáo dưỡng tại Ý từ ngày 3 tháng 12 năm 1715 đến ngày 24 tháng 8 năm 1716. Năm 1717, ông tham gia quân đội với tư cách là sĩ quan trong lực lượng phụ trợ Bayern trong Chiến tranh Áo–Thổ.[7][8]

Ngày 5 tháng 10 năm 1722, Karl thành hôn với Nữ Đại Vương Công Maria Amalia của Áo, người mà ông quen biết tại triều đình Đế quốc ở Viên. Bà là con gái út của Hoàng đế Joseph I quá cố và Hoàng hậu Wilhelmine Amalia xứ Brunswick-Lüneburg. Theo điều khoản hôn phối, Bayern từ bỏ mọi yêu sách đối với ngai vàng Đế quốc, nhưng cuộc hôn nhân này lại tạo cơ sở pháp lý cho quyền thừa kế một số lãnh thổ Áo.

Năm 1725, Karl viếng thăm Versailles nhân dịp lễ thành hôn của Quốc vương Louis XV của Pháp, và từ đó thiết lập mối quan hệ cá nhân mật thiết với triều đình Pháp.[9]

Tuyển hầu xứ Bayern

Chân dung năm 1717-1719, bởi Joseph Vivien.

Năm 1726, sau khi phụ vương qua đời, Karl kế vị tước hiệu Công tước xứ Bayern và Tuyển hầu Palatine, trở thành một trong các Tuyển hầu của Thánh chế La Mã.

Khi trị vì, Ông thừa hưởng một Bayern kiệt quệ vì Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, với khoản nợ lớn lên tới 26 triệu gulden[10] và nền kinh tế nông nghiệp kém hiệu quả, trong đó phần lớn đất đai thuộc sở hữu của Giáo hội.[11] [1]Chính quyền của ông ít chú trọng cải cách nội bộ, ưu tiên chi tiêu cho triều đình và các mục tiêu đối ngoại. Ông duy trì quan hệ hữu hảo song song với cả nhà Habsburg lẫn vương triều Pháp, tiếp tục đường lối ngoại giao do phụ vương để lại.

Năm 1729, Karl cho thành lập Huân chương Hiệp sĩ Thánh George, đồng thời ra lệnh khởi công pháo đài Rothenberg, đánh dấu bước đi đầu tiên trong việc củng cố uy quyền quân sự và biểu tượng vương quyền của mình.[12][1]

Năm 1730, ông ban hành sắc lệnh hạn chế Giáo hội tiếp tục thâu tóm đất đai, song việc thi hành không hiệu quả. Đến cuối triều đại, nợ công của Bayern tiếp tục gia tăng, làm suy yếu nền tài chính nhà nước để lại gánh nặng lớn cho người kế vị.[11][1]

Trong Chiến tranh Kế vị Ba Lan (1733–1735), Karl duy trì lập trường trung lập, tránh can dự quân sự để bảo toàn lực lượng.[13] Tuy nhiên, sự bất mãn của nhà Wittelsbach trước việc hậu duệ của Joseph I bị loại khỏi quyền thừa kế Habsburg vẫn tồn tại, tạo tiền đề cho các hành động của ông sau khi Hoàng đế Karl VI qua đời năm 1740.

Hoàng đế La Mã Thần thánh

Lễ đăng quang của Karl VII, Hoàng đế La Mã Thần thánh.

Tiếp nối đường lối của phụ vương, Karl không che giấu tham vọng vươn tới địa vị tối cao hơn nữa. Với tư cách là phò mã của Hoàng đế Joseph I, ông công khai bác bỏ Sắc lệnh Thực dụng năm 1713 sau khi Hoàng đế Karl VI băng hà năm 1740, đã đưa ra yêu sách đối với các lãnh thổ Đức của nhà Habsburg, thách thức quyền kế vị của Nữ Đại công tước Maria Theresia, trưởng nữ của tiên đế Karl VI.

Theo Hiệp ước Nymphenburg ký tháng 7 năm 1741, Karl liên minh với Pháp và Tây Ban Nha để chống lại Áo, chính thức bước vào Chiến tranh Kế vị Áo.[14] Năm 1741, Charles đem quân xâm lược Thượng Áo, dự định tiến đánh Viên. Tuy nhiên, đạo quân Pháp do đồng minh là Công tước xứ Belle-Isle chỉ huy lại được điều hướng sang Bohemia, và đã chiếm được Praha vào tháng 11 năm 1741. Hệ quả là ngày 19 tháng 12 năm 1741, khi nhà Habsburg vẫn chưa bị đánh bại hoàn toàn, ông đã được đăng quang làm Quốc vương Bohemia tại Praha.

Ngày 24 tháng 1 năm 1742, Karl được nhất trí bầu làm Vua của người Đức, và đến 12 tháng 2 năm 1742, chính thức đăng quang Hoàng đế Thánh chế La Mã. Đáng chú ý, em trai ông là Klemens August, Tuyển hầu kiêm Tổng giám mục Köln vốn thường đứng về phe Habsburg–Lorraine trong các tranh chấp kế vị vẫn bỏ phiếu ủng hộ anh trai và đích thân làm lễ đăng quang cho Karl tại Frankfurt. Quốc vương George II của Đại Anh, với tư cách là Tuyển hầu xứ Hannover, cũng bỏ phiếu tán thành Karl, mặc dù cả Anh và Hannover lúc đó đang liên minh với Áo trong cuộc chiến. Karl VII trở thành Hoàng đế thứ hai của nhà Wittelsbach, sau Louis IV, đồng thời là vị “Vua nước Đức” đầu tiên của nhà này kể từ thời Rupert.[15][16][17]

Đồng tiền xu Thaler có in mặt của Karl VII, 1743.

Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau lễ đăng quang, phần lớn lãnh thổ của Karl bị quân đội Áo tràn ngập, và xứ Bayern rơi vào tay lực lượng của Maria Theresia. Hoàng đế buộc phải rời bỏ Munich, sống lưu vong gần ba năm tại Cung điện Barckhaus ở Frankfurt. Đến tháng 12 năm 1742, phần lớn Bohemia cũng bị mất, khi quân Áo cho phép quân Pháp dưới quyền Công tước Belle-Isle và Broglie rút lui trong danh dự. Karl VII vì thế trở thành đối tượng chế giễu đương thời, bị coi là một hoàng đế không kiểm soát được lãnh thổ của chính mình, cũng như không nắm thực quyền trong Đế quốc, vốn lúc này đã suy yếu đến mức chỉ còn mang tính biểu tượng. Một câu châm ngôn Latinh phổ biến khi ấy là et caesar et nihil – “vừa là hoàng đế, lại vừa là con số không”, chơi chữ từ câu aut caesar aut nihil (“hoặc là hoàng đế, hoặc chẳng là gì”). Tướng Bayern Ignaz Felix, Bá tước Törring-Jettenbach, cũng bị mỉa mai rằng giống như một chiếc trống, “chỉ nghe thấy khi bị đánh”.[18]

Từ Frankfurt, Karl VII tìm cách nâng cao uy tín đế vị thông qua nhiều sắc chỉ pháp lý: năm 1743, ban đặc quyền Đế quốc cho Đại học Erlangen; năm 1744, tuyên bố Công tước Charles Eugene xứ Württemberg được trưởng thành sớm trước tuổi luật định. Alexander Ferdinand, Thân vương thứ ba của Thurn und Taxis, giữ chức Đặc ủy viên Đế quốc của Karl VII tại Nghị viện Thường trực Regensburg, và năm 1744, gia tộc Thurn und Taxis được phong làm Tổng cục trưởng Bưu chính Đế quốc cha truyền con nối.[19][2] Tân tổng chỉ huy quân đội Bayern, Friedrich Heinrich von Seckendorff, tiếp tục giao tranh với Áo trong các năm 1743–1744. Năm 1743, quân Bayern cùng đồng minh tái chiếm được Bayern, cho phép Karl trở lại Munich vào tháng 4, nhưng chỉ trong thời gian ngắn, bởi sau đó quân Pháp thất bại và rút về sông Rhine. Mãi đến khi Quốc vương Friedrich II Đại đế của Phổ mở chiến dịch mới trong Chiến tranh Silesia lần thứ hai, quân Áo mới buộc phải rút khỏi Bayern. Tháng 10 năm 1744, Karl thu hồi Munich và trở về lần cuối cùng. Với sự trung gian của cựu Phó Thủ tướng Friedrich Karl von Schönborn, Hoàng đế tìm cách hòa giải với Viên, song không giành được thêm viện trợ quân sự từ Pháp.[20][4]

Do bệnh gout hành hạ nặng nề, Karl qua đời tại Cung điện Nymphenburg vào tháng 1 năm 1745. Ông được an táng tại hầm mộ nhà thờ Theatinerkirche ở Munich, trong khi trái tim được mai táng riêng tại đền Đức Mẹ Altötting.[1] Nhạc sĩ Georg Philipp Telemann đã sáng tác khúc Requiem “I was Hoping for Light” để tưởng niệm. Friedrich Đại đế của Phổ viết năm 1746: “Cái chết này đã cướp đi của ta một hoàng đế – người vốn là bằng hữu của ta.”[21]

Em trai ông, Klemens August, ngả hẳn về phía Áo, và Maximilian III Joseph, con trai kiêm người kế vị của Karl, đã ký hòa ước với Áo. Theo Hiệp ước Füssen, triều đình Viên chính thức công nhận tính hợp pháp của việc Karl VII được bầu làm Hoàng đế Thánh chế La Mã.[4]

Di sản văn hóa

Nơi cư trú của Hoàng đế Karl VII trong thời kỳ lưu vong là Palais Barckhaus tại Zeil, Frankfurt.
Phòng Trưng bày Tổ tiên (Ahnengalerie, 1726–1731) tại Munich Residenz

Triều đại của Karl VII được xem là đỉnh cao của thời kỳ Rococo xứ Bayern. Cung điện Nymphenburg được hoàn thiện dưới thời ông. Grand Circle (Schlossrondell) – vòng kiến trúc lớn được bao quanh bởi hàng loạt dinh thự Baroque lộng lẫy. Ban đầu được quy hoạch như bản thiết kế nền tảng cho một đô thị mới mang tên Carlstadt, tuy nhiên dự án này rốt cuộc không thành hiện thực. Karl VII thường ngự tại Nymphenburg, từ đó, cung điện này trở thành nơi nghỉ hè ưa thích của các quân vương Bayern về sau. Ông cho xây dựng Phòng Trưng bày Tổ tiên và những Gian phòng Trang trí lộng lẫy tại Munich Residenz. Cung điện Munich Residenz là một trong những công trình tiêu biểu gắn liền với triều đại của ông. Năm 1731, ông mua lại Palais Porcia và cho trùng tu dinh thự này theo phong cách Rococo vào năm 1736 để ban cho tình nhân cũa ông là bá tước phu nhân Topor-Morawitzka, một trong những sủng cơ của ông; tòa nhà được đặt tên theo họ của phu quân bà là Thân vương Porcia. Ông cũng giao cho François de Cuvilliés, kiến trúc sư trưởng của triều đình, xây dựng Palais Holnstein cho một trong những tình nhân khác là Sophie Caroline von Ingenheim, bá tước phu nhân Holnstein, trong giai đoạn 1733–1737. Chính Cuvilliés cũng thiết kế Amalienburg cho Karl VII và vợ ông một lâu đài săn bắn cực kỳ tinh xảo theo phong cách Rococo, được xây dựng từ 1734 đến 1739 trong công viên Cung điện Nymphenburg.[4][2]

Trong thời trị vì của Charles VII, nhiều kiến trúc sư, nhà điêu khắc, họa sĩ và nghệ nhân xuất sắc đến từ Ý, Pháp, Bayern và các vùng Đức khác đã phục vụ lâu dài cho triều đình. Trong số đó có thể kể đến Dominique Girard, François de Cuvilliés, Joseph Effner, Ignaz Günther, Johann Michael Fischer, Cosmas Damian Asam và Egid Quirin Asam, Johann Michael Feuchtmayer, Matthäus Günther, Johann Baptist Straub và Johann Baptist Zimmermann.[22]

Con cái

Con hợp pháp

Charles và vợ ông, Nữ Đại Vương Công Maria Amalia của Áo, có bảy người con:

TênChân dungSinhMấtGhi chú
Maximiliane Maria

Vương nữ xứ Bayern

12 tháng 4 năm 1723Mất ngay sau khi sinh.
Maria Antonia Walpurgis

Tuyển hầu phu nhân xứ Sachsen

18 tháng 7 năm 172423 tháng 4 năm 1780Kết hôn năm 1747 với Frederick Christian xứ Sachsen, có con.
Theresia Benedicte

Vương nữ xứ Bayern

6 tháng 12 năm 172529 tháng 3 năm 1743Mất khi còn trẻ tuổi và chưa lập gia đình.
Maximilian III Joseph

Tuyển hầu xứ Bayern

28 tháng 3 năm 172730 tháng 12 năm 1777Kết hôn năm 1747 với Maria Anna Sophia xứ Sachsen, không có con.
Joseph Ludwig Leo

Vương tử xứ Bayern

25 tháng 8 năm 17282 tháng 12 năm 1733Mất khi còn nhỏ.
Maria Anna Josepha

Phiên hầu tước phu nhân xứ Baden-Baden

7 tháng 8 năm 17347 tháng 5 năm 1776Kết hôn năm 1755 với Ludwig Georg xứ Baden-Baden, không có con.
Maria Josepha

Hoàng hậu La Mã Thần thánh

30 tháng 3 năm 173928 tháng 5 năm 1767Kết hôn năm 1765 với Joseph, Vua của người La Mã, không có con.

Con ngoài giá thú

Karl và người tình Sophie Caroline von Ingenheim có một con gái và một con trai:

  • Maria Josepha von Hohenfels (1720 – 1797), kết hôn với Emmanuel François Joseph, Bá tước xứ Bayern (1695–1747) – người anh cùng cha khác mẹ của ông, là con ngoài giá thú của Tuyển hầu Maximilian II Emanuel xứ Bayern với tình nhân người Pháp Agnès Le Louchier. Hai người có hậu duệ, gồm:
    • Marie Amélie Caroline Josèphe Francoise Xavière xứ Bayern, Nữ Bá tước xứ Hohenfels, Hầu tước phu nhân xứ Villacerf (1744–1820), kết hôn với Armand Charles Emmanuel de Hautefort, Hầu tước xứ Sarcelles.
  • Franz Ludwig, Bá tước xứ Hohenfels (4 October 1723 – 22 May 1780), kết hôn với Anna Marie zu Löwenfeld (1735–1783), con gái của Clemens August xứ Bayern.
    • Maximilian Joseph, Bá tước Holnstein kết hôn với Thân vương nữ Maria Josepha xứ Hohenlohe-Waldenburg-Schillingsfürst (1774 – 1824), con gái nữ Thân vương Karl Albrecht II.

Tước hiệu và huy hiệu

Karl VII, nhờ ân sủng của Thượng Đế được tuyển chọn làm Hoàng đế La Mã Thần thánh, vĩnh viễn là August, Quốc vương của Đức và Bohemia, Công tước ThượngHạ Bayern cùng Thượng Pfalz, Bá tước Pfalz vùng sông Rhine, Đại vương Công Áo, Tuyển hầu của Đế quốc La Mã Thần thánh, Phong địa bá tước xứ Leuchtenberg, v.v., v.v.[2]

Huy hiệu

Huy hiệu

Huy hiệu (biến thể khiên)

Huy hiệu (biến thể khiên có chống đỡ)

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 5 Fritz Wagner. "Karl VII". Deutsche Biographie.
  2. 1 2 3 4 Die Herrscher Bayerns: 25 historische Portraits von Tassilo III. bis Ludwig III. C.H.Beck. 2006. tr. 250–. ISBN 978-3-406-54468-2.
  3. Bettina Braun; Katrin Keller; Matthias Schnettger (2016). Nur die Frau des Kaisers?: Kaiserinnen in der Frühen Neuzeit. Böhlau Verlag Wien. tr. 194–. ISBN 978-3-205-20085-7.
  4. 1 2 3 4 Fritz Rudolf Künker GmbH & Co. KG. Künker Auktion 108 – Bayern und das Haus Wittelsbach, Eine bedeutende Spezialsammlung – p. 59. Numismatischer Verlag Künker. GGKEY:PTBHSKFT0ZC.
  5. 1 2 "Karl VII, Holy Roman Emperor, Elector of Bavaria | Unofficial Royalty" (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  6. Ludwig Hüttl. "Max Emanuel. Der Blaue Kurfürst 1679–1726. Eine politische Biographie". Google Sites. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020.
  7. Britta Kägler (ngày 30 tháng 6 năm 2009). "Weibliche Regentschaft in Krisenzeiten. Zur Interimsregierung der bayerischen Kurfürstin Therese Kunigunde (1704/05)". Zeitenblicke. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2020.
  8. Die Herrscher Bayerns: 25 historische Portraits von Tassilo III. bis Ludwig III. C.H.Beck. 2006. tr. 250. ISBN 978-3-406-54468-2.
  9. Andreas Kraus (1988). Das alte Bayern: Der Territorialstaat vom Ausgang des 12. Jahrhunderts bis zum Ausgang des 18. Jahrhunderts / in Verbindung mit Dieter Albrecht ... C.H.Beck. tr. 513–. ISBN 978-3-406-32320-1.
  10. Marcus Junkelmann (2000). Kurfürst Max Emanuel von Bayern als Feldherr. Herbert Utz Verlag. ISBN 978-3-89675-731-9.
  11. 1 2 "From a Feudal Electorate to Nation State: Secularization and Reformation in Bavaria, 1700-1825". repository.lsu.edu. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  12. Genoveva Rausch. "Mit uns muss man rechnen, 200 Jahre Bayerischer Oberster Rechnungshof, Die Zerrüttung der Staatsfinanzen in Bayern im 18. Jahrhundert" (PDF). Staatliche Archive Bayerns. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2020.
  13. ‘A Zealous Defender of German Freedom’: Constructing an Imperial Image for Charles Albert of Bavaria, 1726–1742
  14. Simon Winder (2014). Danubia: A Personal History of Habsburg Europe. Farrar, Straus and Giroux. tr. 177–. ISBN 978-0-374-71161-0.
  15. Genoveva Rausch. "Mit uns muss man rechnen, 200 Jahre Bayerischer Oberster Rechnungshof, Die Zerrüttung der Staatsfinanzen in Bayern im 18. Jahrhundert" (PDF). Staatliche Archive Bayerns. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2020.
  16. Hugh LeCaine Agnew (2004). The Czechs and the Lands of the Bohemian Crown. Hoover Press. tr. 131–. ISBN 978-0-8179-4492-6.
  17. Karl Otmar Freiherr von Aretin (1993). Das Alte Reich, 1648–1806: Kaisertradition und österreichische Grossmachtpolitik (1684–1745). Klett Cotta. tr. 430–. ISBN 978-3-608-91489-4.
  18. William D. Godsey (2018). The Sinews of Habsburg Power. Oxford University Press. tr. 189–. ISBN 978-0-19-880939-5.
  19. Barbara Stollberg-Rilinger (2018). The Holy Roman Empire: A Short History. Princeton University Press. tr. 106–. ISBN 978-0-691-17911-7.
  20. Joachim Whaley (2012). Germany and the Holy Roman Empire: Volume II: The Peace of Westphalia to the Dissolution of the Reich, 1648–1806. OUP Oxford. ISBN 978-0-19-969307-8.
  21. Anton Schindling; Walter Ziegler (1990). Die Kaiser der Neuzeit, 1519–1918: Heiliges Römisches Reich, Österreich, Deutschland. C.H. Beck. tr. 230. ISBN 978-3-406-34395-7.
  22. "Schlosspark Nymphenburg". München de. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2020.

Liên kết ngoài

Tư liệu liên quan tới Charles VII, Holy Roman Emperor tại Wikimedia Commons

Tước hiệu trị vì

Karl VII của Thánh chế La Mã
Sinh: 6 tháng 8, 1697 Mất: 20 tháng 1, 1745
Tước hiệu
Tiền nhiệm
Maximilian II Emanuel
Tuyển hầu xứ Bayern
26 tháng 2 năm 1726 – 20 tháng 1 năm 1745
Kế nhiệm
Maximilian III Joseph
Tiền nhiệm
Maria Theresia
Vua của Bohemia
19 tháng 12 năm 1741 – 12 tháng 5 năm 1743
Kế nhiệm
Maria Theresia
Tiền nhiệm
Karl VI
Hoàng đế La Mã Thần thánh
Vua ở Đức

24 tháng 1 năm 1742 – 20 tháng 1 năm 1745
Kế nhiệm
Franz I