K9 Thunder
Trang hay phần này đang được viết mới, mở rộng hoặc đại tu. Bạn cũng có thể giúp xây dựng trang này. Nếu trang này không được sửa đổi gì trong vài ngày, bạn có thể gỡ bản mẫu này xuống. Nếu bạn là người đã đặt bản mẫu này, đang viết bài và không muốn bị mâu thuẫn sửa đổi với người khác, hãy treo bản mẫu {{đang sửa đổi}}.Sửa đổi cuối: Arest128 (thảo luận · đóng góp) vào 5 giây trước. (làm mới) |
| K9 Thunder | |
|---|---|
| Loại | Pháo tự hành |
| Nơi chế tạo | Hàn Quốc |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | K9: 1999–hiện tại K9A1: 2018–hiện tại |
| Trận | |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế |
|
| Năm thiết kế | 1989–1998 |
| Nhà sản xuất |
|
| Giá thành | 4 tỉ KRW (Quân đội Hàn Quốc, 2021)[1] |
| Giai đoạn sản xuất | K9: 1998–2018 K9A1: 2018–hiện tại |
| Số lượng chế tạo | 1,900 (2025) |
| Các biến thể | See Các biến thể và nâng cấp |
| Thông số | |
| Chiều dài | Tổng thể: 12 m (39 ft 4 in) Thân xe: 7,44 m (24 ft 5 in) |
| Chiều rộng | 3,4 m (11 ft 2 in) |
| Chiều cao | 2,73 m (8 ft 11 in) |
| Kíp chiến đấu | K9 & K9A1: 5 (trưởng xe, lái xe, pháo thủ, trợ lí pháo thủ, người nạp đạn) K9A2: 3 (trưởng xe, lái xe, pháo thủ) |
| Tầm bắn xa nhất | 18 km (M107, HE) 30 km (M549A1, RAP/HE) 36 km (K310, BB/DP-ICM) 41 km (K307, BB/HE) 54 km (K315, LAP/HE) |
| Ngắm bắn | Ống ngắm toàn cảnh(chế độ thủ công) Safran MINEO DFSS (tùy chọn) |
| Phương tiện bọc thép | Giáp thép POSCO MIL-12560H (Phiên bản sản xuất bởi Hàn Quốc từ 2022) Giáp thép bởi Bisalloy (phiên bản sản xuát theo giấy phép, từ 2022) Lớp chống mảnh văng (tùy chọn) Giáp hộp Plasan (tùy chọn) |
Vũ khí chính | Pháo Hyundai WIA CN98 155 mm, 48 viên đạn |
Vũ khí phụ | Súng máy hạng nặng SNT Dynamics K6 12,7x99mm NATO |
| Động cơ | Động cơ diesel STX Engine/MTU Friedrichshafen MT881Ka-500 8 xy lanh làm mát bằng nước 735 kW (1,000 hp) @ 2,700 rpm Động cơ diesel STX Engine SMV1000 8 xy lanh làm mát bằng nước 735 kW (1,000 hp) @ 2,700 rpm (từ 2024) |
| Công suất/trọng lượng | 21.3 hp/t (15.88 kW/t) |
| Hệ truyền động | SNT Dynamics/Allison Transmission X1100-5A3 4 số tiến, 2 số lùi |
| Hệ thống treo | Hệ thống treo thủy khí Mottrol/Horstman |
| Khoảng sáng gầm | 410 mm (16 in) Khả năng vượt dốc: 60 % Dốc nghiêng: 30 % Vật đứng: 0.75 m Hào: 2.8 m |
| Sức chứa nhiên liệu | 850 L (225 gal Mỹ) |
| Tầm hoạt động | 360 km (220 mi) |
| Tốc độ | 67 km/h (42 mph) |
K9 Thunder là loại pháo tự hành 155 mm do Hàn Quốc thiết kế và phát triển bởi Cơ quan Phát triển Quốc phòng (Agency for Defense Development - ADD) phối hợp cùng các tập đoàn tư nhân gồm Samsung Aerospace Industries, Kia Heavy Industry, Dongmyeong Heavy Industries và Poongsan Corporation, trang bị cho Lực lượng Vũ trang Hàn Quốc, và hiện nay được Hanwha Aerospace sản xuất.[2] Các pháo K9 thường hoạt động theo cụm, phối hợp với biến thể xe tiếp đạn tự động K10 nhằm đảm bảo duy trì khả năng tác chiến liên tục.[3][4]
Toàn bộ số lượng K9 do Lực lượng Vũ trang Hàn Quốc vận hành hiện đang được nâng cấp lên phiên bản K9A1, đồng thời một biến thể nâng cấp tiếp theo là K9A2 cũng đang trong giai đoạn thử nghiệm để tiến tới sản xuất. Tính đến năm 2022, dòng K9 đã chiếm 52% thị phần toàn cầu về pháo tự hành, bao gồm cả các loại pháo tự hành bánh lốp.[3][4]
Phát triển
Vào thập niên 1980, Lực lượng Vũ trang Hàn Quốc nhận thấy cần phải có một mẫu pháo tự hành mới mới để đối trọng với trang bị của Triều Tiên. Khi đó, họ đang vận hành pháo tự hành M107 và K55 (phiên bản của M109), nhưng cả hai loại đều có tầm bắn ngắn hơn so với pháo M-1978 Koksan và lại bị áp đảo về số lượng bởi nhiều loại pháo khác của Triều Tiên. Dựa trên thành công trong thiết kế và chế tạo các loại pháo kéo KH178 105 mm và KH179 155 mm, cùng với kinh nghiệm thu được từ việc sản xuất theo giấy phép pháo K55 (KM109A2), Bộ Quốc phòng Hàn Quốc đã ra lệnh phát triển một hệ thống pháo tự hành mới có tầm bắn xa hơn, tốc độ bắn nhanh hơn và khả năng cơ động cao.Quá trình phát triển bắt đầu từ năm 1989, do Cơ quan Phát triển Quốc phòng (ADD) và Samsung Aerospace Industries (nay là Hanwha Aerospace) chủ trì.[5]
Từ năm 1983, các nhà nghiên cứu của Cơ quan Phát triển Quốc phòng Hàn Quốc (ADD) đã bắt đầu thu thập và phân tích dữ liệu để định hướng cho pháo binh tương lai. Họ nhận thấy rằng khả năng bắn loạt nhanh và cơ động rút lui nhanh chóng sẽ trở thành yếu tố then chốt trong chiến tranh pháo binh, và vì vậy đã phát triển một hệ thống nạp đạn tự động để thử nghiệm vào năm 1984. Đến năm 1987, ADD đề xuất một kế hoạch nâng cấp pháo tự hành K55, lấy cảm hứng từ chương trình cải tiến pháo M109 của Hoa Kỳ (được chuẩn hóa thành M109A6 vào năm 1990), nhưng đề xuất này đã bị Lục quân Hàn Quốc bác bỏ vào năm 1988. Kết quả là, ngay từ đầu quá trình phát triển K9, ADD đã quyết tâm tạo ra một hệ thống vũ khí hoàn toàn mới, và làm việc trên mô hình khái niệm cho đến năm 1991. Những ý tưởng ban đầu do quân đội đưa ra bao gồm khả năng vượt sông và lắp đặt pháo phòng không M61 Vulcan, nhưng sau đó bị loại bỏ vì không cần thiết đối với một loại vũ khí tầm xa như K9.[5][6]
Vào năm 1989, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc chỉ có thể tiếp cận dữ liệu thiết kế từ thỏa thuận đạn đạo bốn nước (Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Đức và Ý), nhằm đảm bảo tính đồng nhất của đạn dược. Khẩu pháo nòng dài 52 caliber (chiều dài nòng pháo gấp 52 lần cỡ nòng) mới được thiết kế để bắn loại đạn tiêu chuẩn NATO L15A1, với tốc độ đầu nòng 945 m/s, từ buồng đạn có thể tích 3.556 cm³. Thiết kế trong nước đầu tiên được phát triển bằng cách kéo dài và cải tiến khẩu pháo 155 mm nòng 39 caliber vốn được dùng cho KH179.[7] Lần bắn thử nghiệm đầu tiên diễn ra vào tháng 1 năm 1992, nhưng gặp nhiều sự cố do lỗi thiết kế.[8]
Đến tháng 9 năm 1990, một kỹ sư Hàn Quốc đã sang Anh để tìm hiểu công nghệ thiết kế tháp pháo, vốn do Vickers phát triển cho AS-90. Tuy nhiên, Vickers từ chối chuyển giao công nghệ và thay vào đó chỉ đề nghị bán trực tiếp AS-90. Nhà phát triển Hàn Quốc cũng tìm đến Marconi, nhưng đàm phán thất bại do mức giá yêu cầu quá cao. Vì vậy, nhóm phát triển quyết định tự nghiên cứu hệ thống dẫn động điện–thủy lực trong nước, tận dụng kinh nghiệm từ xe tăng chủ lực K1 trong thiết kế và điều khiển tháp pháo. Đến năm 1991, một mô phỏng tháp pháo đã được chế tạo để thử nghiệm.[9][10]
Năm sau đó, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng mô-men mất cân bằng của khẩu pháo nòng 52 lớn gấp đôi so với K55. Máy cân bằng thủy lực hiện có, dù đã được nâng cấp, vẫn không đủ khả năng bù trừ hoàn toàn mô-men mất cân bằng do thay đổi vị trí của cụm vũ khí. Lực dẫn động thay đổi đáng kể tùy theo góc quay. Vấn đề tương tự cũng xuất hiện ở pháo tự hành Panzerhaubitze 2000 của Đức, vốn cũng đang trong giai đoạn phát triển. Một nhóm nghiên cứu chung giữa ADD và Đại học Khoa học & Công nghệ Quốc gia Seoul đã xây dựng được mô hình lý thuyết chính xác, và kết luận rằng việc điều chỉnh cấu hình hệ thống hoàn toàn khả thi mà không cần thay đổi lớn trong thiết kế.[9][10]
Trong quá trình phát triển K9, các kỹ sư cũng gặp phải vấn đề tiếng ồn lớn từ các máy phát thủy lực, vốn có thể gây mất thính lực nếu tiếp xúc trong thời gian dài. Các kỹ sư của ADD và Dongmyeong Heavy Industries (nay là [[Mottrol]ư) phát hiện nguyên nhân là do dao động áp suất thủy lực quá mức, và đã chế tạo một thiết bị thử nghiệm dựa trên nguyên lý bộ giảm âm Helmholtz thường dùng trong ống xả ô tô. Nhờ đó, tiếng ồn từ thiết bị đã được giảm đáng kể và hiện tượng dao động thủy lực cũng được cải thiện mạnh mẽ. Kết quả, thiết kế trong nước cho thấy độ chính xác điều khiển đạt sai số chuẩn dưới 1 mil.[9][10]
Vào mùa đông năm 1991, ADD tổ chức các cuộc thảo luận với các kỹ sư từ viện nghiên cứu đặc biệt của Samsung Aerospace Industries. Ban đầu, ADD chỉ yêu cầu Samsung đảm nhiệm khâu lắp ráp hệ thống, vì công ty này chưa có kinh nghiệm phát triển phương tiện bánh xích, mặc dù từng sản xuất K55 theo giấy phép. Tuy nhiên, quyết định này sau đó được thay đổi, và Samsung được giao nhiệm vụ chế tạo MTR (Mobility Test Rig).[11] Samsung phối hợp với KAIST trong nghiên cứu hệ thống treo, còn Đại học Quốc gia Seoul và Đại học Khoa học & Công nghệ Pohang phụ trách hệ thống cơ động. Động cơ được đồng phát triển với AAI Corporation (Hoa Kỳ). Việc thử nghiệm MTR hoàn tất vào tháng 11 năm 1992.[12]
Đến tháng 4 năm 1992, BMY Combat Systems (nay là BAE Systems Land and Armaments) mời các thành viên ADD tham dự lễ ra mắt M109A6 Paladin đầu tiên, đồng thời bày tỏ mong muốn tham gia chương trình pháo tự hành của Hàn Quốc thông qua việc nâng cấp K55 lên chuẩn Paladin. Tháng 5 cùng năm, các đại diện của BMY Combat Systems và Teledyne Brown đến thăm ADD, đề xuất cùng phát triển một loại pháo mới dựa trên P-52 – biến thể Paladin nòng 52 caliber. Tuy nhiên, đề xuất này đã bị các nhà phát triển Hàn Quốc từ chối. Sau đó, trong một cuộc họp theo thỏa thuận trao đổi dữ liệu, Hàn Quốc và Hoa Kỳ thống nhất rằng Mỹ không có bất kỳ quyền sở hữu trí tuệ nào đối với mẫu pháo này, nhằm tránh các tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai.[13][14]
Từ năm 1992 đến 1993, các nhà phát triển đã nghiên cứu và xác nhận những yêu cầu năng lực tác chiến cần thiết, bao gồm khả năng vận hành của các thành phần chính và khả năng đạt tầm bắn tối đa 40 kilômét (25 mi). Một báo cáo đánh giá nội bộ dự đoán rằng pháo tự hành mới có thể đạt tỷ lệ nội địa hóa 107 trên 235 công nghệ (45,5%) vào cuối những năm 1990. Tuy nhiên, do chưa hài lòng với kết quả này, Hàn Quốc quyết định tự phát triển hệ thống chính, pháo chính, đạn pháo 155 mm, hệ thống điều khiển hỏa lực, kết cấu và hệ thống nạp đạn tự động; trong khi đó, động cơ, hộp số và hệ thống dẫn đường quán tính (INS) sẽ nhập khẩu từ nước ngoài, còn hệ thống treo thủy khí được sản xuất theo giấy phép, đặt mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa 70%. Thách thức lớn nhất đối với các kỹ sư là thiết kế pháo chính và hệ thống treo, bởi trong quá trình sản xuất K55 theo giấy phép, pháo chính được nhập nguyên chiếc còn hệ thống treo chủ yếu dựa vào kiến thức chuyển giao từ Hoa Kỳ.[13][15]
Dựa trên bản đánh giá yêu cầu tác chiến vào tháng 10 năm 1992, tốc độ bắn được lựa chọn là 3 phát trong vòng 15 giây, nhằm cân bằng giữa hiệu quả và chi phí. Lý do là trong vòng 15 giây sau phát bắn đầu tiên, mục tiêu khó có thể ra khỏi khu vực sát thương, đồng thời tốc độ bắn thực tế có thể rút ngắn hơn tùy thuộc vào trình độ huấn luyện kíp pháo. Nếu yêu cầu tốc độ bắn 3 phát trong 10 giây, điều đó sẽ làm chi phí phát triển tăng vọt và tạo gánh nặng không cần thiết cho nhóm nghiên cứu.[16]
Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1993, dự án phát triển bị trì hoãn do Tổng thống Kim Young-sam, người được bầu qua bầu cử dân chủ, tiến hành thanh trừng Hanahoe – một câu lạc bộ sĩ quan bí mật trong quân đội có liên hệ với cựu tổng thống độc tài Chun Doo-hwan. Thêm vào đó, Cục hậu cần Lục quân cũng từ chối ký thỏa thuận cho dự án XK9 cho đến khi có kế hoạch bảo đảm công tác bảo dưỡng.[17] Đến cuối tháng 8 năm 1993, khi Bộ Tổng tham mưu liên quân hoàn tất thỏa thuận phát triển hệ thống, Bộ Quốc phòng đã phê chuẩn kế hoạch phát triển nguyên mẫu vào tháng 9, và dự án được Tổng thống phê duyệt chính thức vào đầu tháng 10.[18]
Ngay từ giai đoạn đầu, các nhà phát triển đã phải giải quyết nhiều thách thức kỹ thuật quan trọng. Lần đầu tiên, Hàn Quốc áp dụng giáp thép do trong nước phát triển, nên để giảm rủi ro, họ tiến hành sản xuất và so sánh cả thép nhập khẩu lẫn thép nội địa. Song song, Samsung bắt đầu đào tạo và sử dụng các thợ hàn bậc thầy, với tay nghề được kiểm chứng bởi Trung tâm Thử nghiệm Aberdeen (Mỹ). Các tấm thép giáp được đưa qua nhiều thử nghiệm như chịu ứng suất và tác động đạn đạo, và kết quả cho thấy thép giáp sản xuất trong nước thậm chí hoạt động tốt hơn thép nhập khẩu.[19]
Hệ thống treo thủy khí (HSU) cũng được nghiên cứu kỹ lưỡng vì nó mang lại khả năng cơ động và sự thoải mái cho kíp lái. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, HSU còn gây ra nhiều vấn đề về độ bền, gây tranh cãi ngay cả trên quốc tế. Do vậy, Hàn Quốc buộc phải nhập khẩu và bản địa hóa HSU của hãng Air-Log (Anh, nay là Horstman) vốn được dùng cho pháo AS-90. Khi được lắp trên MTR và nguyên mẫu, hệ thống này nhanh chóng bộc lộ hạn chế: không chịu được tải trọng lớn, dẫn tới thất bại trong các bài thử nghiệm độ bền. Từ tháng 5 năm 1997, các kỹ sư của ADD và Dongmyeong Heavy Industries đã thực hiện tới 5 lần tái thiết kế và 11 lần thử nghiệm độ bền trong vòng một năm. Kết quả, họ phát triển thành công HSU mới, thậm chí còn xuất khẩu thiết kế ngược trở lại cho Anh.[20][21]
Về động lực, các nhà phát triển ban đầu lắp cho MTR tổ hợp gồm động cơ 850 mã lực của Detroit Diesel (có hệ thống làm mát nhỏ gọn hơn) và hộp số tự động X1100 của Allison Transmission. Tổ hợp này vượt qua các thử nghiệm trên MTR, nhưng khi lắp vào nguyên mẫu, động cơ nhanh chóng hỏng hóc do độ bền thấp. Sau đó, nhóm phát triển tìm kiếm các lựa chọn động cơ từ nước ngoài. Perkins Engines và MTU Friedrichshafen đều bày tỏ quan tâm vào tháng 8 năm 1995. Perkins đề xuất động cơ CV12 Condor (dùng trên xe tăng Challenger 2), điều chỉnh xuống 1.000 mã lực, nhưng giá cao hơn Detroit Diesel, lại là động cơ 12 xi-lanh cỡ lớn, buộc phải thay đổi thiết kế khung gầm và hệ thống làm mát cũng chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Trong khi đó, động cơ MTU MT-881 của Đức, dù đắt hơn, nhưng là loại 8 xi-lanh nhỏ gọn, sử dụng công nghệ làm mát hiện đại từ Euro Pack, vốn cũng trang bị cho PzH 2000 và đang được thử nghiệm tại Đức và Canada. Sau khi đánh giá, nhóm phát triển chọn thiết kế của Đức và tiến hành thử nghiệm trên ATR (Automotive Test Rig) trong vòng một năm, bắt đầu từ tháng 9 năm 1997.[22]
Vào mùa xuân năm 1992, khẩu pháo thử nghiệm gặp sự cố nổ kíp nổ do chênh lệch áp suất, khi áp suất tăng ngược chiều với đường đạn. Sau nhiều năm thất bại và điều chỉnh, đến năm 1997 các nhà nghiên cứu quyết định thay đổi hình dạng thuốc phóng. Loại thuốc phóng kiểu Mỹ sử dụng các hạt nhỏ có 7 lỗ (giống như than tổ ong) được thay thế bằng loại có 19 lỗ, mô phỏng theo kiểu Đức dù không có thông số kỹ thuật chính thức. Sau nhiều lần thử nghiệm, đến năm 1998 khẩu pháo đạt tầm bắn 40 kilômét (25 mi) với áp suất dưới 53.000 psi.[23]
Tổng cộng ba nguyên mẫu được chế tạo và tiến hành thử nghiệm công khai lần đầu vào năm 1996. Trong quá trình thử nghiệm, chúng đã bắn thành công ở tầm 40 km với tốc độ 6 phát mỗi phút, nhưng không đạt yêu cầu bắn 3 phát trong 15 giây.[24][25] Đến tháng 12 năm 1997, một nguyên mẫu bị hỏng do cháy nổ khi bắn thử 18 phát trong 3 phút, vì thuốc phóng không cháy hết; sự cố khiến một nhà nghiên cứu thiệt mạng và hai người bị thương. Tuy nhiên, hệ thống bên trong nguyên mẫu này vẫn sống sót sau vụ cháy và được sửa chữa để tiếp tục thử nghiệm. Nhìn chung, các nguyên mẫu đã bắn 4.100 phát đạn và trải qua 13.800 km (8.600 dặm) thử nghiệm cơ động trong nhiều điều kiện khắc nghiệt, bao gồm cả chạy thử trên đường trượt tuyết mùa đông.[1][10][26]
Trong vòng 10 năm phát triển, hệ thống đã trải qua 12.000 phát bắn và hơn 18.000 km (11.000 dặm) chạy thử, và đến tháng 10 năm 1998 dự án được hoàn tất, đạt tỷ lệ nội địa hóa 87%.[27] Tháng 12 cùng năm, hợp đồng cho lô K9 Batch I được trao cho Samsung Aerospace Industries.[28] Theo kế hoạch, các xe pháo sẽ bàn giao cho Lục quân Hàn Quốc, nhưng sau trận hải chiến liên Triều năm 1999, việc bàn giao được chuyển hướng sang Thủy quân Lục chiến Hàn Quốc. Chiếc K9 đầu tiên được xuất xưởng vào tháng 12 năm 1999 và bàn giao cho lính thủy đánh bộ tại Yeonpyeongdo.[29][30][31]
Đặc điểm tổng quát
K9 được chế tạo bằng kết cấu hàn, sử dụng khoảng 20.000 kilôgam (44.000 lb) thép giáp chuẩn MIL-12560H do POSCO phát triển trong chương trình xe tăng K2 Black Panther.[32][33] Loại thép này có khả năng chịu được sức ép nổ và mảnh đạn của pháo 152 mm, đạn xuyên giáp 14,5 mm, cũng như mìn chống bộ binh từ mọi hướng. Ngoài ra, xe còn được trang bị hệ thống lọc khí để bảo vệ kíp lái trước các mối đe dọa CBRN (hạt nhân, sinh học, hóa học và phóng xạ).[2]
Cụm động lực của K9 bao gồm động cơ MT881Ka-500 của MTU Friedrichshafen, công suất 1.000 mã lực (750 kW), được sản xuất theo giấy phép bởi Ssangyong Heavy Industries (nay là STX Engine),[34] cùng với hộp số tự động Allison Transmission X1100-5A3 sản xuất theo giấy phép của Tongil Precision Machinery Industries (nay là SNT Dynamics).[35] Toàn bộ hệ thống được lắp đặt trên khung gầm treo thủy khí. Với hệ thống lái do Firstec phát triển,[36] chiếc xe nặng 47 tấn (46 tấn Anh; 52 tấn Mỹ) có thể đạt tốc độ tối đa 67 km/h (42 mph) và duy trì tốc độ trên 56 km/h ngay cả khi leo dốc dọc 60%. K9 có khả năng vận hành hiệu quả trong nhiều điều kiện địa hình khác nhau, bao gồm sa mạc, tuyết, rừng rậm và núi cao, và thậm chí còn có thể được triển khai làm pháo tự hành phòng thủ bờ biển, tạo ra vùng cấm tiếp cận (A2/AD) trong phạm vi hỏa lực của nó.[3][37]
Vũ khí chính của K9 là pháo CN98 155 mm, 52 calibre do Kia Heavy Industry (nay là Hyundai WIA) chế tạo.[38] Loại pháo này có tầm bắn tối đa 41 km (25 dặm) với đạn K307, hoặc lên tới 54 km (34 dặm) khi sử dụng đạn K315 trên biến thể nâng cấp K9A1. CN98 được đánh giá ở mức 1.000 EFC (equivalent full charge), cho phép bắn liên tục trong điều kiện khắc nghiệt.[39] K9 có thể mang theo 32 quả đạn trong giá chứa phía sau tháp pháo (chia thành 2 hàng, mỗi hàng 16 quả) và thêm 16 quả đạn ở phía sau thân xe (mỗi bên 8 quả). Được hỗ trợ bởi hệ thống nạp đạn bán tự động, hệ thống điều khiển hỏa lực và Hệ thống chỉ huy tác chiến cấp tiểu đoàn (BTCS), K9 có khả năng bắn loạt 3 phát trong 15 giây và thực hiện chế độ MRSI (Multiple Rounds Simultaneous Impact), tức nhiều quả đạn rơi trúng mục tiêu cùng lúc.[40] Tốc độ bắn tối đa của K9 đạt 6–8 phát/phút trong vòng 3 phút (cho đến khi hết số đạn trong tháp pháo). Sau đó, tốc độ giảm xuống 2–3 phát/phút để duy trì hỏa lực, khi kíp pháo phải chuyển đạn thủ công vào bộ nạp. Pháo K9 có khả năng “bắn rồi cơ động” (shoot-and-scoot), sẵn sàng khai hỏa chỉ trong 30 giây sau khi dừng hoặc 60 giây khi thay đổi vị trí. Sau khi bắn, nó có thể nhanh chóng di chuyển sang vị trí mới trong vòng 30 giây, giúp tăng khả năng sống sót trước hỏa lực phản pháo của đối phương.[2]
Đạn pháo được tiếp tế từ xe tiếp đạn K10, đi vào từ cửa sau tháp pháo và được tự động nạp vào giá chứa. Khi phần tử bắn đã được xác định, quả đạn được chọn sẽ được đặt lên khay ở giữa giá. Người nạp kéo tay cầm khay, đạn trượt vào bộ mang. Sau đó, bộ mang sẽ điều chỉnh theo góc bắn và chuyển đạn đến bộ nạp tự động, nơi quả đạn lập tức được đẩy vào nòng pháo.[41]
K9 sử dụng TALIN (Tactical Advanced Land Inertial Navigator) 5000 làm hệ thống định vị quán tính (INS), được mua từ Honeywell Aerospace sau khi công bố phát triển hệ thống con quay laser vòng có thể chịu được chấn động khi bắn. Thiết bị định vị này bao gồm một con quay laser vòng có thể phát hiện đến một phần mười nghìn vận tốc góc quay của Trái Đất, một gia tốc kế có thể phát hiện đến một phần một trăm nghìn gia tốc trọng trường, và một máy tính dẫn đường tính toán dựa trên dữ liệu từ các cảm biến. Thiết bị định vị này tự động tính toán vị trí của pháo tự hành, góc phương vị của pháo so với hướng Bắc, cũng như góc nâng và góc nghiêng so với mặt phẳng ngang của Trái Đất. Các thông tin điều hướng và tư thế được cung cấp cho hệ thống điều khiển hỏa lực, đạt độ chính xác vị trí trong phạm vi 10 m, độ chính xác phương vị trong 0,7 mil, và độ chính xác góc nâng/nghiêng trong 0,35 mil.[42]
K9 có cả hệ thống điều khiển hỏa lực thủ công (cơ khí và quang học) và tự động (điện tử). Hệ thống thủ công tương tự K55, trong khi AFCS (Automatic Fire Control System) gồm bộ điều khiển trung tâm, màn hình hiển thị, bộ điều khiển bắn với chương trình đạn đạo tích hợp, bộ xử lý truyền tin và bộ điều khiển năng lượng, đóng vai trò là giao diện giữa người vận hành và máy móc. Nhiều thiết bị điện tử khác như thiết bị định vị, hệ thống điều khiển pháo & tháp pháo, hệ thống vận chuyển đạn, cơ cấu kích hỏa, cảm biến nhiệt độ nòng và hệ thống liên lạc vô tuyến được kết nối để đảm bảo tự động hóa. AFCS sử dụng chương trình đạn đạo và cảm biến vận tốc đầu nòng để tự tính toán dữ liệu bắn, đồng thời tiếp nhận lệnh bắn từ BTCS (Battalion Tactical Command System - Hệ thống chỉ huy cấp tiểu đoàn) qua truyền dữ liệu và thoại. Đây cũng là hệ thống đầu tiên có khả năng tính toán số liệu khí tượng theo độ cao, từ đó đưa ra thông số bắn chính xác hơn.[43]
Các nâng cấp
Đạn pháo
Đạn pháo tăng tầm
Vào tháng 10 năm 2013, DAPA công bố kế hoạch nâng cấp K9 trong tương lai cùng với việc phát triển loại đạn tầm xa mới, dự kiến bắt đầu từ năm 2014.[44]
Đến tháng 8 năm 2014,hai tập đoàn là Hanwha và Poongsan được chọn là các nhà thầu ưu tiên trong dự án đạn tầm xa mới dành cho cả K9 và K55A1. Hai công ty này sẽ cạnh tranh để giành quyền thực hiện dự án.[45] Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 2019, Hanwha bị loại khỏi dự án do kết quả thử nghiệm không đạt yêu cầu, khiến Poongsan trở thành nhà thầu duy nhất.[46]
Đến tháng 11 năm 2020, đạn tầm xa mới của Poongsan được chấp nhận đưa vào trang bị sau nhiều năm thử nghiệm. Loại đạn này kết hợp BB (base bleed) với RAP (rocket-assisted propulsion), đạt tầm bắn 54 km với đạn HE hoặc 45 km với đạn DP-ICM. Quá trình sản xuất dự kiến bắt đầu từ năm 2022 và đưa vào hoạt động năm 2023. Tuy nhiên, việc triển khai bị trì hoãn do 5 trong số 77 hạng mục không đạt tiêu chuẩn trong các thử nghiệm chịu nóng và lạnh khắc nghiệt.[47][48][49]
Tháng 2 năm 2023, quân đội Hàn Quốc chấp nhận các loại đạn mới hiệu suất cao cỡ 5,56×45mm NATO và 7,62×51mm NATO, có hiệu quả gấp ba lần so với các mẫu trước. Công nghệ này có thể áp dụng cho bất kỳ loại đạn nào, cho phép K9 Thunder có khả năng tăng tầm bắn lên gấp ba lần. Công nghệ này đã được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ, Nga, Liên minh châu Âu và nhiều quốc gia khác.[50]
Đến tháng 8 năm 2023, tập đoàn Poongsan thông báo đã hoàn tất phát triển loại đạn tầm xa 60 km, dự kiến sẽ được đưa vào trang bị trong năm 2024.[51][52]
Ngày 6 tháng 2 năm 2024, DAPA công bố đã hoàn tất chương trình phát triển đạn tầm xa 54 km. Loại đạn mới, được gọi là LAP, được lên kế hoạch sản xuất hàng loạt trong năm 2024.[53][54][55]
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại MADEX 2025, Poongsan cho biết loại đạn tầm xa 60 km mang tên ERM-HE (Extended Range Munition-High Explosive) đạt độ chính xác với sai số vòng tròn (CEP) 30 m.[56]
Đạn pháo đặc biệt
Poongsan cũng đã nghiên cứu và phát triển nhiều loại đạn dược đặc biệt, chẳng hạn như POM (PARA – Observation Munition: đạn quan sát PARA) và GGAM (Gliding Guided Artillery Munition: đạn pháo lượn dẫn đường) từ năm 2013 và 2014.[57]
Khả năng tương thích với đạn pháo nước ngoài
Năm 2010, K9 đã bắn thử đạn M982 Excalibur trong chương trình thay thế pháo binh Land 17 của Úc.[58]
Tháng 5 năm 2016, K9 đã bắn thử thành công loại đạn HE-ER tuân thủ tiêu chuẩn Bản ghi nhớ chung về đạn đạo tại Thụy Điển, đạt tầm bắn 43 km.[58]
Tháng 9 năm 2022, một pháo tự hành K9A1 và xe tiếp đạn K10 đã chứng minh khả năng tương thích với nhiều loại đạn Mỹ trong một cuộc bắn đạn thật tại Bãi thử nghiệm Yuma ở Arizona. Pháo tự hành đã khai hỏa 3 phát trong 16 giây và 6 phát trong 43,3 giây với đạn M795. K9A1 trở thành nền tảng nước ngoài đầu tiên bắn được đạn XM1113 RAP và đạt tầm bắn 53 km ở góc nâng 900 mils.[59][60][61]
Tháng 11 năm 2023, Hanwha Aerospace đã ký hợp đồng xuất khẩu trị giá 160 tỷ KRW với BAE Systems để cung cấp hệ thống liều phóng module cho các quốc gia thành viên NATO.[62]
Tháng 4 năm 2024, Hanwha Aerospace đã tiến hành bắn thử nghiệm đạn M982A1 Excalibur Increment Ib tại Bãi thử nghiệm Yuma ở Arizona bằng biến thể K9 VIDAR của Na Uy. K9 đã sử dụng nhiều chế độ ngòi nổ khác nhau và đạt được sai số vòng tròn (CEP) dưới một mét ở chế độ nổ chạm, cũng như nổ cách mục tiêu 5 mét ở chế độ nổ trên không từ cự ly 50 km.[63][64]
Thiết bị điện tử và cảm biến
Vào năm 2004, Trung tâm nghiên cứu đo lường Hàn Quốc (Korea Research Center for Measuring Instruments - KRCMI) dã phát triển một radar hiệu chuẩn dùng sóng Doppler, giúp tăng độ chính xác bằng cách giảm sai số từ 0.1% xuống 0.05%.[65][66] Sử dụng công nghệ mới, ADD và DST (Davit System Technology) đã ra mắt một dự án hợp tác cho hệ thống radar tốc độ nòng súng (MVRS) trong nước. Vào tháng 9 năm 2007, DST đã công bố phát triển mẫu MVRS-3000, tăng cường cả hiệu suất và khả năng nội địa hóa của phương tiện.[67][68]
Tháng hai năm 2012, DAPA triển khai dự án nội địa hóa trang bị, trong đó có hệ thống định vị quán tính (INS) của K9.[69] In May 2012, Doosan DST was selected for the domestic INS development.[70] Kế hoạch trang bị INS nội địa trên K9 về sau được thay đổi thành sử dụng phiên bản sản xuất theo giấy phép vào năm 2015, trong khi mẫu nội địa được sử dụng cho xe bọc thép K21 và pháo phòng không K30.[71]
Vào tháng 9 năm 2015, một thỏa thuận trao đổi bù trừ (offset trade) đã được ký kết giữa Honeywell Aerospace và Navcours. Theo thỏa thuận, Navcours sẽ cấp phép sản xuất và dịch vụ cho hệ thống INS TALIN 5000, hiện đang được sử dụng trong các phương tiện K9 và K55A1, để sử dụng trong nước và cung cấp cho Honeywell Aerospace.[72]
Cải thiện hậu cần và vận hành
Vào tháng 12 năm 2006, quân đội Hàn Quốc đã phát hành một cuốn hướng dẫn số cho K10. Cuốn hướng dẫn được phát triển với ngân sách 1 tỷ KRW. Nó có thể dễ dàng nhận diện thành phần thiết bị, thông số kỹ thuật, quy trình vận hành, nguyên lý hoạt động, mẹo bảo trì và các dấu hiệu hỏng hóc của K10 ARV. Cuốn hướng dẫn này hình ảnh hóa phương tiện trong môi trường thực tế ảo 3D, giúp người vận hành dễ dàng hiểu hơn so với các hướng dẫn truyền thống dựa trên văn bản.[73] Sau khi có sự cải thiện đáng kể trong hiệu quả huấn luyện, khả năng vận hành và kỹ năng bảo trì của các binh sĩ, một cuốn hướng dẫn số cũng đã được áp dụng cho K9 vào tháng 5 năm 2007.[74]
Vào tháng 5 năm 2018, một mẫu máy làm sạch nòng tự động (ABC) RB-155 của SDI (SooSung Defense Industries) đã được chế tạo cho K9 của Hàn Quốc. Máy làm sạch tự động này mang lại hiệu quả bảo trì khi chỉ cần một người để làm sạch nòng trong vòng 20 phút, với kết quả vượt trội so với phương pháp làm sạch truyền thống.[75][76]
Tính đến tháng 6 năm 2023, tỷ lệ nội địa hóa đạt 80%. Một số nâng cấp nhỏ đã được thêm vào, chẳng hạn như thay đổi cấu trúc khung gầm để rút ngắn thời gian tháo rời bộ nguồn từ vài giờ xuống chỉ còn mười phút.[77]
Vào ngày 8 tháng 12 năm 2023, Na Uy, Phần Lan và Hàn Quốc đã ký kết một thỏa thuận cho phép hai quốc gia Bắc Âu chia sẻ linh kiện dự phòng mà không cần gửi đơn xin ký kết đến Hàn Quốc. Thỏa thuận này cho phép Na Uy và Phần Lan chỉ cần gửi báo cáo sau khi việc chia sẻ linh kiện đã được thực hiện, giúp rút ngắn thời gian xử lý và cải thiện hỗ trợ hậu cần.[78]
Chuơng trình huấn luyện quốc tế
Vào ngày 20 tháng 6 năm 2024, Quân đội Hàn Quốc và Hanwha Aerospace đã ký kết một Biên bản ghi nhớ (MOU) về hợp tác và hỗ trợ thúc đẩy Khóa học Quốc tế Quân đội Hàn Quốc (K-AIC), một chương trình giảng dạy hệ thống vũ khí Hàn Quốc sẽ bắt đầu vào tháng 7. Chương trình được tạo ra nhằm cung cấp sự đào tạo quân sự chính quy của Hàn Quốc cho các quốc gia đã mua hoặc dự định mua vũ khí Hàn Quốc. Theo thỏa thuận, quân đội sẽ tổ chức các chương trình đào tạo riêng biệt cho binh sĩ nước ngoài hai lần mỗi năm, kết hợp với các trường quân sự khác nhau, bao gồm trường pháo binh (K9 SPH) và trường cơ giới (K2 MBT). Người tham gia cũng sẽ được đào tạo về thiết bị và chiến đấu trong vòng bốn tuần, đồng thời quan sát Trung tâm Đào tạo Chiến đấu Hàn Quốc (KCTC) cũng như các nhà máy sản xuất.[79]
Danh sách các quốc gia tham gia K-AIC mà chưa mua vũ khí, do đó là ứng viên cho các đợt bán hàng trong tương lai bao gồm Qatar và Việt Nam.[80]
Khả năng cơ động
Tháng 10 năm 2013, Daeshin Metal trở thành nhà cung cấp linh kiện chính cho Allison Transmission trong việc chế tạo hộp số X1100-5A3 theo hình thức mậu dịch bù đắp, qua đó tiếp tục tăng tỷ lệ nội địa hóa. Hộp số áp dụng sẽ được trang bị bắt đầu từ lô Batch X và lô Batch V của K9 và K10.[81]
Động cơ nội địa

Tháng 9 năm 2020, DAPA khởi động dự án phát triển động cơ nội địa cho dòng xe, với tổng kinh phí dự kiến 75 tỷ won trong 5 năm.[82]
Ngày 31 tháng 5 năm 2021, STX Engine được chọn trúng thầu, sau khi cạnh tranh với Doosan Infracore (nay là HD Hyundai Infracore).[83]
Ngày 26 tháng 11 năm 2021, công ty kỹ thuật Ricardo PLC (Anh) giành hợp đồng từ STX Engine để hỗ trợ phát triển động cơ thiết kế mới hoàn toàn cho pháo tự hành K9. Theo hợp đồng, kỹ sư STX Engine sẽ làm việc cắm cùng đội phát triển của Ricardo để chuyển giao tri thức và tăng tốc dự án. Ricardo cho biết mục tiêu là tích hợp liền mạch với khung xe K9 nhằm giúp Hàn Quốc gỡ rào cản giấy phép khi xuất khẩu.[84][85]
Ngày 21 tháng 9 tại triển lãm DX Korea 2022, STX Engine giới thiệu động cơ diesel 1.000 mã lực thiết kế mới dành cho K9.[86]
Ngày 8 tháng 12 năm 2023, truyền thông đưa tin STX Engine đã hoàn tất thử bền cho động cơ mới SMV1000, và sẽ lắp lên pháo để thử chạy. SMV1000 có thể lắp đặt mà không cần thay đổi kết cấu trên K9, K10 hoặc AS21 Redback, nhẹ hơn 76 kg (168 lb), tiết kiệm nhiên liệu hơn 5% so với MT881, và cải thiện khả năng đề nổ ở nhiệt độ thấp. SMV1000 sẽ lắp cho K9A1EGY và K10EGY của Ai Cập, và AS21 của Úc. Động cơ mới nhằm thay thế thiết kế của Đức để tránh hạn chế xuất khẩu.[87][88][89] Ai Cập đã mua 355 động cơ trị giá 134,8 tỷ KRW cho chương trình K9 của họ.[90][91]
STX Engine bắt đầu sản xuất hàng loạt vào tháng 9 năm 2024 sau khi hoàn tất phát triển động cơ nội địa SMV1000 giai đoạn 2020–2023, nhằm vượt qua các hạn chế xuất khẩu áp trên động cơ MTU của Đức ở các thị trường xuất khẩu trong tương lai.[92][93]
Khả năng bảo vệ
Ngày 7 tháng 5 năm 2021, Hanwha Defense công bố hợp tác với công ty Úc HIFraser trong việc cung cấp hệ thống chữa cháy tự động AFSS cho AS9 và AS10 của Úc. HIFraser cũng sẽ bắt đầu hỗ trợ công ty Hàn Quốc DNB Co bàn giao AFSS cho các xe K9 do Hàn Quốc vận hành.[94]
Tháng 2 năm 2022, Hanwha Defense ký biên bản ghi nhớ (MoU) với công ty Úc Bisalloy Steels về việc cung cấp thép giáp cho AS9, AS10 và AS21 Redback nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng cường quan hệ đối tác. Hanwha Defense dự định sử dụng thép giáp của Bisalloy Steels cho các gói xuất khẩu (bao gồm cả biến thể cho Ai Cập), trong khi POSCO tiếp tục cung cấp thép cho sản xuất nội địa.[95][96]
Các bản nâng cấp
K9A1
Tháng 9 năm 2010, một vấn đề lớn liên quan đến động cơ đã được nêu ra bởi Ủy ban Quốc phòng. Theo báo cáo, tổng cộng 38 khẩu K9 đã gặp hiện tượng xâm thực trong động cơ kể từ năm 2005.Điều tra ban đầu trước phiên chất vấn cho rằng việc sử dụng dung dịch chống đông do bên thứ ba sản xuất có thể là nguyên nhân gây xâm thực.[97] Tuy nhiên, việc sử dụng đúng loại dung dịch được khuyến nghị là TK-6-03-01012 cũng không giải quyết được vấn đề, cho thấy nguyên nhân không nằm ở chất chống đông.[98] Một thành viên Ủy ban Quốc phòng đề cập rằng pháo T-155 của Thổ Nhĩ Kỳ, vốn sử dụng cùng hệ thống cơ động nhưng được lắp APU (động cơ máy phụ – auxiliary power unit), chưa từng ghi nhận trường hợp tương tự.[99] Quân đội quyết định tiếp tục nghiên cứu bằng cách theo dõi ảnh hưởng của các loại dung dịch chống đông lên động cơ, và thử nghiệm APU khi xe ở trạng thái nổ máy không tải.[100] Việc lắp APU lên K9 đã được thảo luận từ giai đoạn phát triển, nhưng không được đưa vào sản xuất loạt.[101]
Tháng 9 năm 2011, Ủy ban Quốc phòng nêu vấn đề về hệ thống điều khiển hoả lực (FCS) của K9 Thunder, lưu ý rằng máy tính và hệ điều hành (OS) được sử dụng đã ngừng sản xuất và lỗi thời, khiến chi phí hậu cần liên quan tăng 70% trong 3 năm qua. Ấn Độ cũng bày tỏ cùng mối lo trong quá trình đánh giá. 24 khẩu K9 đầu tiên được trang bị CPU i386, số còn lại dùng i486; cả hai loại đều cài DOS. Phía Samsung Techwin phản biện rằng cả bộ xử lý lẫn hệ điều hành này vẫn đang được dùng rộng rãi trong quân đội, kể cả trên các vũ khí mới sản xuất; rằng CPU đời cũ bền hơn, và DOS có tỷ lệ hỏng thấp hơn.[102]
Quân đội quyết định triển khai chương trình nâng cấp FCS bắt đầu từ năm 2013 vì lý do hậu cần, đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu từ phía Australia.[103][104] Tháng 12 năm 2013, Cơ quan Chương trình Mua sắm Quốc phòng (DAPA) trao cho Samsung Techwin vai trò nhà thầu chính cho chương trình nâng cấp K9.[105]
Tháng 3 năm 2015, quân đội Hàn Quốc thông báo Samsung Techwin đang phát triển hệ thống an toàn cho lái xe, sau một vụ tai nạn khiến một kíp pháo thủ thiệt mạng hồi tháng 1 năm 2015. Theo đó, hệ thống an toàn sẽ tự động dừng quay tháp pháo nếu nắp buồng lái đang mở và tháp quay đến một góc nguy hiểm đối với lái xe. Chức năng này có thể tắt nếu cần thiết.[106]
Tháng 8 năm 2017, DAPA phê duyệt sản xuất loạt các phiên bản K9 nâng cấp. Gói nâng cấp K9A1 bao gồm FCS tự động, tích hợp hệ thống GPS với INS, kính tiềm vọng lái xe ban đêm được cải tiến với camera ảnh nhiệt phía trước, camera lùi và hệ thống an toàn cho lái xe. Tổ máy phụ 8 kW do Farymann & TZEN Co. Ltd. cung cấp.[107][108] Chuẩn A1 cũng cho phép bắn loại đạn tầm xa mới.[2] Tất cả các khẩu K9 của Hàn Quốc sẽ được nâng cấp lên chuẩn A1 đồng thời với chu kỳ đại tu 12 năm tại Xưởng Bảo dưỡng Hợp nhất của Lục quân, bắt đầu từ năm 2018.[109][110] Khẩu K9A1 đầu tiên gia nhập Lục quân Hàn Quốc vào tháng 8 năm 2018.[111] Theo tạp chí do DAPA xuất bản tháng 10 năm 2024, Hàn Quốc dự định nâng cấp 600 xe lên chuẩn A1.[112]
Chi tiết gói nâng cấp K9A1:[113]
- Lắp đặt APU: APU cho phép xe phản ứng và khai hoả mà không cần nổ máy chính, qua đó giảm tiêu thụ nhiên liệu. Kíp xe có thể vận hành trong điều kiện không bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn động cơ. Do không cần để động cơ chính chạy khi xe đứng yên, chi phí bảo dưỡng động cơ được giảm xuống.
- Cải thiện hệ thống lái: Kính tiềm vọng ban đêm của lái xe được thay từ loại khuếch đại ánh sáng sang FLIR, và có thể quan sát qua màn hình. Lắp thêm camera lùi. Hệ thống an toàn cho lái xe sẽ vô hiệu hoá khả năng quay tháp pháo qua một góc nhất định khi nắp buồng lái đang mở. Chức năng này có thể tắt nếu cần.
- GPS: Bằng cách kết hợp INS và GPS, xe có thể xác định vị trí chính xác hơn và nhanh hơn, hai hệ thống bổ trợ lẫn nhau, đồng thời tăng độ chính xác bắn.
- FCS nâng cấp: Máy tính và hệ điều hành được nâng cấp. Cài đặt thêm các phần mềm như sổ tay dã chiến và giám sát tình trạng đạn dược. FCS được tự động hoá hoàn toàn nhờ bộ cài ngòi điện tử và hệ thống quản lý đạn. FCS mới chiếm ít không gian hơn, và được lập trình để dùng loại đạn tầm xa mới (tới 60 km).
K9A2
Tháng 5 năm 2016, DAPA công bố ý tưởng về một pháo tự hành “robot hoá” tại hội nghị pháo binh quốc tế tổ chức ở Vương quốc Anh. Sau đó, DAPA khởi động một loạt dự án bao gồm thuốc phóng ít nhạy nổ, cải thiện đường xoắn nòng pháo, và hệ thống nạp đạn tự động hoàn toàn. Phiên bản K9 nâng cấp sẽ có tầm bắn xa hơn, tốc độ bắn cao hơn và cần ít quân số vận hành hơn – tương tự năng lực của XM2001 Crusader (Mỹ), dự án đã bị huỷ[114]
Tháng 8 năm 2021, Cơ quan Phát triển Quốc phòng (ADD) và Hanwha Defense hoàn tất phát triển hệ thống tự động hoá pháo binh đáp ứng cao khởi động từ năm 2016.[115] Hệ thống mới là thành phần thiết yếu cho biến thể điều khiển từ xa trong tương lai, và sẽ cho phép hệ thống nạp đạn tự động hoàn toàn (bao gồm cả thuốc phóng và cài ngòi), tăng tốc độ bắn lên gấp 1,5 lần.[116] Ban đầu, thiết kế dự kiến đặt đạn trong thân xe. Do hạn chế về góc quay tháp pháo, góc nâng nòng, và để rút ngắn quãng đường đạn phải di chuyển tới buồng nạp (giúp nạp nhanh hơn), vị trí chứa đạn được chuyển từ thân sang trong tháp pháo.[117]
Lực lượng vũ trang Hàn Quốc sẽ xác nhận ROC (yêu cầu tác chiến – Requirements of Capability) cho gói nâng cấp K9A2 Block-I vào tháng 3 năm 2022. K9A2 dự kiến đạt trạng thái sẵn sàng tác chiến vào năm 2027. Quân đội đồng thời đang thiết kế K9A3 với tầm bắn 100 km.[118] Nguyên mẫu trình diễn công nghệ K9A2 ở trạng thái vận hành được Hanwha Defense công bố trước công chúng tháng 2 năm 2022.[119] Tháng 3 năm 2022, hệ thống tự động hoá pháo binh đáp ứng cao được giới thiệu công khai.[3] Tháp pháo của xe được kéo dài để lắp đặt hệ thống nạp đạn tự động. Vị trí trung tâm mới của tháp pháo được đánh giá là tối ưu hơn so với các biến thể trước. Nguyên mẫu có khối lượng 48,5 t (trong cấu hình chiến đấu) với xích kim loại; khối lượng có thể giảm hơn 2 tấn nếu chuyển sang xích cao su tổng hợp. Trọng lượng giảm cho phép lắp thêm giáp hoặc các hệ thống con khác.[117]
Tháng 7 năm 2022, Ủy ban Xúc tiến Chương trình Mua sắm Quốc phòng phê duyệt đề xuất ngân sách 2,36 nghìn tỷ KRW cho giai đoạn 2023–2034 để phát triển và nâng cấp K9A2 Block-I.[120]
Tháng 6 năm 2023, DAPA chính thức phê duyệt phát triển K9A2 Block-I với ngân sách 2,36 nghìn tỷ KRW cho giai đoạn 2023–2027.[121] Hàn Quốc có kế hoạch nâng cấp các khẩu K9 cơ bản lên chuẩn K9A2, đạt năng lực tác chiến đầy đủ vào năm 2034.[122]
Tại triển lãm Eurosatory 2024, Hanwha giới thiệu một mẫu K9A2 mới, có hình dáng bên ngoài tương tự AS9 Huntsman hơn là nguyên mẫu trước đó với tháp kéo dài.[123]
Chi tiết gói nâng cấp K9A2:[3][124]
- Nâng cấp pháo chính: Đường xoắn nòng mới và mạ crôm giúp tăng tuổi thọ nòng từ 1.000 EFC lên 1.500 EFC, tăng tầm bắn và cho phép tốc độ bắn cao hơn.
- Hệ thống tự động hoá pháo binh đáp ứng cao: Là tính năng chính của K9A2 và các nâng cấp K9A3 tương lai. Giảm quân số kíp pháo từ 5 người xuống còn 3 (2 người trong tình huống khẩn cấp) nhờ lắp đặt hệ thống nạp đạn tự động hoàn toàn, nâng tốc độ bắn tối đa từ 6–8 viên/phút lên 9–10 viên/phút, và tốc độ bắn duy trì từ 2–3 viên/phút lên 4–6 viên/phút.
- Tăng khả năng bắn duy trì: Cả 48 viên đạn đều được bố trí trong tháp pháo và có thể tiếp cận bằng hệ thống nạp đạn tự động.
- Hệ thống truyền động tháp pháo: Chuyển từ hệ thống truyền động điện–thuỷ lực sang truyền động điện hoàn toàn.
- Hệ thống chữa cháy tự động (AFSS): Hệ thống dập lửa nâng cấp nhằm tăng bảo vệ cho kíp xe.
- Trạm vũ khí điều khiển từ xa (RCWS): Cho phép sử dụng vũ khí phụ mà không cần thành viên kíp xe lộ diện.
- Điều hoà không khí: Nâng cao điều kiện làm việc cho kíp xe bằng cách giảm nhiệt độ bên trong.
- Hệ thống thuốc phóng mô-đun (MCS): Tăng bảo vệ kíp xe trước nguy cơ nổ thứ cấp do hoả lực đối phương (kể cả hoả lực hạng nặng) bằng cách áp dụng thuốc phóng ít nhạy nổ; đồng thời là điều kiện cần cho quy trình nạp đạn tự động.
- Xích cao su tổng hợp (CRT): Cải thiện độ êm cho kíp xe bằng cách giảm rung và tiếng ồn, đồng thời giảm công bảo dưỡng. Trọng lượng nhẹ hơn giúp tăng tầm hoạt động. So với xích kim loại, xích cao su cũng ít gây sát thương hơn cho binh sĩ xung quanh khi bị mảnh văng tấn công.[125]
- Giáp tăng cường: Bảo vệ chống mìn chống tăng, tương tự chuẩn AS9 Huntsman.
K9A3
Năm 2020, DAPA công bố kế hoạch nâng cấp K9A3 sẽ áp dụng công nghệ không người lái và đạt tầm bắn 100 km bằng đạn lượn. DAPA cũng đề cập đến việc phát triển pháo siêu tầm xa hoặc pháo điện từ (railgun) để trang bị cho thế hệ pháo tự hành tiếp theo.[126]
háng 9 năm 2022, ADD bắt đầu nghiên cứu tăng tầm bắn cho pháo. Biến thể mới dự kiến được trang bị pháo cỡ 58 calibre, tương tự pháo M1299 của Lục quân Mỹ, cùng đạn dùng động cơ ramjet để đạt tầm bắn tối đa trên 80 km. Dự án được lên kế hoạch kéo dài 60 tháng, hoàn thành vào tháng 8 năm 2027.[127] Tháng 11 năm 2022, Ủy ban Xúc tiến Chương trình Mua sắm Quốc phòng phê duyệt ngân sách 440 tỷ KRW cho giai đoạn tài khoá 2024–2036 để phát triển và mua sắm đạn dẫn đường chính xác cho nền tảng K9.[128]
Tháng 10 năm 2024, tại Triển lãm Công nghiệp Quốc phòng Lục quân Hàn Quốc (KADEX), Hanwha Aerospace giới thiệu mô hình tỉ lệ nhỏ của K9A3, vốn không còn giữ hình dáng ngoài giống các biến thể trước. Mỗi khẩu K9A3 được điều khiển từ xa bởi một kíp vận hành ngồi trong xe chỉ huy–điều khiển hoả lực K11A1 FDCV; mỗi K11A1 mang theo ba nhân viên điều khiển và một sĩ quan chỉ huy. Để đáp ứng yêu cầu này, K9A3 được trang bị LiDAR (hỗ trợ lái tự động) và camera lái phía trước, camera hỗ trợ lái ở hai bên và thiết bị liên lạc từ xa trên nóc tháp pháo[129]
Các phiên bản
K10 ARV (ammunition resupply vehicle - Xe tiếp đạn)
K10 ARV (Automatic Resupply Vehicle) là một loại xe tiếp đạn tự động được phát triển dựa trên nền tảng của K9, chia sẻ phần lớn các linh kiện và đặc tính kỹ thuật với pháo tự hành này. Nghiên cứu khái niệm bắt đầu từ tháng 11 năm 1998 do Samsung Aerospace Industries phối hợp cùng Đại học Quốc gia Pusan. Thiết kế được khởi động từ tháng 2 năm 2002 bởi Samsung Techwin (trước đây là Samsung Aerospace Industries), Cơ quan Phát triển Quốc phòng Hàn Quốc (ADD) và Cơ quan Công nghệ & Chất lượng Quốc phòng (DTaQ). Quân đội Hàn Quốc chính thức công bố hoàn tất phát triển vào tháng 10 năm 2005. Chiếc K10 đầu tiên được xuất xưởng vào tháng 11 năm 2006 với giá 2,68 tỷ KRW, và được biên chế cho Lữ đoàn pháo binh số 1 của Lục quân Hàn Quốc. Với K10, Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới vận hành loại trang bị quân sự đặc thù này.[130][131][132][133]
K10 có trọng lượng chiến đấu 47 tấn, có khả năng hỗ trợ một khẩu đội K9 bằng cách mang theo và tiếp đạn 104 quả đạn pháo 155 mm cùng 504 liều thuốc phóng, ngay cả trong điều kiện hỏa lực dày đặc.[134] Xe được vận hành bởi kíp 3 người, trong đó chỉ cần 1 nhân viên nạp đạn, nhờ vào hệ thống điều khiển hoàn toàn tự động. K10 có thể tiếp đạn với tốc độ tối đa 12 quả/phút, mất khoảng 37 phút để nạp đầy và 28 phút để dỡ hết đạn cho K9.[131] Trong giới quân sự và công nghiệp quốc phòng, nó thường được gọi là “xe than tổ ong” do hình dạng các cụm đạn và cơ chế nạp đặc trưng.[135]
K10 AARV (armored ammunition resupply vehicle - Xe tiếp đạn bọc thép)
K10 AARV là phiên bản tăng cường giáp của K10 ARV. Chiếc đầu tiên sẽ được sản xuất tại Úc với tên gọi AS10.[136]
K11 FDCV (fire direction control vehicle - Xe chỉ huy)
K11 FDCV được thiết kế cho yêu cầu của Ai Cập nhằm đáp ứng yêu cầu về chỉ huy, liên lạc và trinh sát cho các phương tiện bọc thép. Khung xe dựa trên thiết kế của K10 với độ cơ động cao.[137]
K11A1 FDCV
Xuất hiện lần đầu trước công chúng tại KADEX 2024, K11A1 FDCV được thiết kế để điều khiển từ xa tối đa ba khẩu pháo tự hành K9A3. Mỗi xe K11A1 có kíp lái gồm ba nhân viên vận hành và một chỉ huy, và khi triển khai theo cặp, hai xe có thể phối hợp điều khiển tổng cộng sáu khẩu K9A3, hình thành một khẩu đội pháo. Phương tiện này được trang bị tháp súng điều khiển từ xa gắn súng máy hạng nặng K6 HMG, có khả năng bắn hạ máy bay không người lái nhờ công nghệ AI, cùng với bệ phóng tên lửa phòng không và tấm giáp bổ sung chống mìn để tăng khả năng bảo vệ.[138][139]
Các biến thể và nâng cấp
- XK9: Phiên bản thử nghiệm, 2 nguyên mẫu được chế tạo.
- K9 Thunder: Phiên bản sản xuất hàng loạt đầu tiên cho Lục quân Hàn Quốc
- T-155 Firtina (Storm): Phiên bản của Thổ Nhĩ Kỳ. Sản xuất bởi Lục quân Thổ Nhĩ Kỳ với các hệ thống con cung cấp bởi Hàn Quốc: Tháp pháo được cải tiến, giảm số đạn dự trữ trong tháp từ 32 xuống còn 30 viên, nhưng tăng số đạn dự trữ trong thân từ 16 lên 18 viên. Phương tiện được trang bị APU (Auxiliary Power Unit – tổ hợp nguồn phụ), nhưng không có kính ngắm toàn cảnh để thực hiện bắn thủ công.[140]
- Gürhan: Phương tiện thử nghiệm động cơ lai của T-155
- T-155 Firtina 2: Phiên bản nâng cấp của Thổ Nhĩ Kỳ.
- T-155 Firtina (Storm): Phiên bản của Thổ Nhĩ Kỳ. Sản xuất bởi Lục quân Thổ Nhĩ Kỳ với các hệ thống con cung cấp bởi Hàn Quốc: Tháp pháo được cải tiến, giảm số đạn dự trữ trong tháp từ 32 xuống còn 30 viên, nhưng tăng số đạn dự trữ trong thân từ 16 lên 18 viên. Phương tiện được trang bị APU (Auxiliary Power Unit – tổ hợp nguồn phụ), nhưng không có kính ngắm toàn cảnh để thực hiện bắn thủ công.[140]
- K9 PIP (Product Improvement Program): kế hoạch nâng cấp K9 của Hàn Quốc. Được trang bị APU và hệ thống điều khiển hỏa lực tốt hơn. Thiết kế về sau được đổi thành phiên bản K9A1 với nhiều cải tiến hơn.
- AS9 "Aussie Thunder": Biến thể dành cho Úc trong chương trình LAND 17 được giới thiệu với nhiều cải tiến quan trọng. Nó được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực (FCS) nâng cấp, tích hợp hệ thống quản lý chiến trường BMS-F, cùng với trạm vũ khí điều khiển từ xa (RWS). Xe cũng được bổ sung khả năng bảo vệ chống mìn chống tăng và hệ thống treo cải tiến nhằm hỗ trợ trọng lượng gia tăng do các nâng cấp này.
- PK9: phiên bản khung gầm được sửa đổi của K9 dùng để sản xuất phiên bản pháo tự hành AHS Krab của Ba Lan. Sản xuất theo giấy phép bởi Huta Stalowa Wola.
- K9 Vajra-T (Lightning):Biến thể Ấn Độ của K9 được sản xuất theo giấy phép bởi Larsen & Toubro, trong đó có 50% linh kiện do Ấn Độ chế tạo. Phiên bản này được tùy biến đặc biệt để phù hợp với điều kiện tác chiến sa mạc và vùng núi cao, đáp ứng yêu cầu địa hình đa dạng của Quân đội Ấn Độ. Đây cũng là biến thể đầu tiên được trang bị kính ngắm pháo thủ chuyên dụng Safran MINEO DFSS, cho phép thực hiện khả năng bắn trực xạ tương tự như trên các xe tăng chiến đấu chủ lực.[141][142]
- K9FIN Moukari (Sledge-hammer): Phiên bản của Phần Lan được chuyển giao từ Lục quân Hàn Quốc sau khi đã đại tu và nâng cấp. Các tùy chỉnh của Phần Lan được thực hiện bởi Millog.
- K9EST Kõu (Thunder): Phiên bản của Estonia được chuyển giao từ Lục quân Hàn Quốc sau khi đã đại tu và nâng cấp. Các tùy chỉnh của Phần Lan được thực hiện bởi Go Craft.
- K9A1: Phiên bản nâng cấp đầu tiên của Lục quân Hàn Quốc, vào biên chế từ năm 2018. Mọi mẫu K9 sẽ được năng cấp lên chuẩn K9A1 trước năm 2030.
- K9 VIDAR (versatile indirect artillery system - Hệ thống pháo binh gián tiếp đa năng) (Batch I): Phiên bản K9A1 của Na Uy với các bộ phận sản xuất tại Na Uy và tăng cường bảo vệ bởi lớp chống mảnh văng. Sử dụng kính ngắm Safran MINEO DFSS để bắn trực tiếp.[142]
- K9 VIDAR (Batch II): Phiên bản sản xuất loạy hai của K9 VIDAR, có nhiều thay đổi đáng kể như kính nagwms của lái xe.
- AS9 Huntsman: Phiên bản K9 VIDAR của Úc với giáp tăng cường và hệ giảm xóc cải tiến. Thiết kế thân mới giống bản AS21 Redback.[143]
- K9 Tunet: Phiên bản của Romania được cho là "với các đặc điểm tiến bộ nhất của K9".
- K9A1EGY: Phiên bản K9A1 của Ai Cập. Sản xuất theo giấy phép tại Ai Cập.
- K9PL (Batch I): Biến thể K9A1 Ba Lan. Được trang bị hệ thống mạng và hệ thống điều khiển hỏa lực của Ba Lan. 48 xe cũ đầu tiên được biết đến với tên gọi K9GF.
- K9PL (Batch II): Phiên bản K9A2 nâng cấp từ Batch I với 13 hệ thống bổ sung.
- K9 VIDAR (versatile indirect artillery system - Hệ thống pháo binh gián tiếp đa năng) (Batch I): Phiên bản K9A1 của Na Uy với các bộ phận sản xuất tại Na Uy và tăng cường bảo vệ bởi lớp chống mảnh văng. Sử dụng kính ngắm Safran MINEO DFSS để bắn trực tiếp.[142]
K9A2: biến thể nâng cấp thứ hai dành cho Lực lượng Vũ trang Hàn Quốc. 1 nguyên mẫu đã được chế tạo và trưng bày công khai vào năm 2022, hiện đang trong quá trình phát triển. Cũng được gọi là K9A2 Block-I để phân biệt với biến thể nòng 58 caliber.
- K9A2 Block-II:Phiên bản K9A2 với pháo 155 mm 58 caliber. Đang được đề xuất.
- K9A3: Phiên bản K9A2 hoàn toàn tự động và không người lái.[1]
- K10 ARV : Xe tiếp đạn tự động cho K9, dùng chung nền tảng với K9.
- K10 VIDAR : Phiên bản k10 của Na Uy.
- K10EGY: Phiên bản K10 của Ai Cập.
- K10 AARV: Phiên bản nâng cấp giáp của K10 ARV
- AS10: Phiên bản K10 AARV của Úc , cấu hình tương tự AS9.[143]
- AS10C2: suggested protected command & control post variant based on the AS10
- K11 FDCV: Xe chỉ huy dựa trên K10
- K11EGY: Phiên bản K11 của Ai Cập với khả năng cung cấp mục tiêu trên biển.
- K11A1: Phiên bản cải tiến của K11.
Tham khảo
- 1 2 3 [46회 무삭제 확장판] 세계 자주포 시장을 석권하다, K-9 자주포 ㅣ 뉴스멘터리 전쟁과 사람 / YTN2 (bằng tiếng Hàn). YTN. ngày 3 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2021.
- 1 2 3 4 "Hanwha Defense K9 Self-propelled Howitzer". Hanwha Defense. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 3 4 5 Kim Minseok (ngày 6 tháng 3 năm 2022). 8년전 우크라 때리자 꽂혔다...세계최강 K9자주포 진화 이유 [김민석 배틀그라운드]. JoongAng Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- 1 2 한화그룹, 대우조선해양 인수로 국내 유일 육·해·공 전문 방산기업으로 '우뚝'. 뉴스투데이 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2022.
- 1 2 [첨단국가의 초석, 방위산업] 자주포의 새 차원을 열다 – K-9 천둥(1부) (bằng tiếng Hàn). 국방TV. ngày 16 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "[K9 5회] 세계적 추세 '화포 자동화 방안' 연구". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 9회] 핵심 '무장' 개발 처음부터 난관". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 10회] 위험 도사린 무장 사격시험". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- 1 2 3 "[K9 12회] 회전시키는 포를 1mil 이내로 위치시켜라". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- 1 2 3 4 [첨단국가의 초석, 방위산업] 자주포의 새 차원을 열다 – K-9 천둥(3부) (bằng tiếng Hàn). 국방TV. ngày 15 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "[K9 13회] 신자포 체계개발과 차량개발의 분리 의견 나오자..." Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 16회] 기동실험차량 제작해 기동설계요소 확보". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- 1 2 [첨단국가의 초석, 방위산업] 자주포의 새 차원을 열다 – K-9 천둥(2부) (bằng tiếng Hàn). 국방TV. ngày 15 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "[K9 14회] "우리 자주포 우리가 개발한다"며 미측 제안 거부". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 8회] 적용가능 기술 45.5% 불과....국산화율 70%로 설정". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 15회] 신자포 개발 형태, 업체 주도로 전환할 수 있을까". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 17회] 신자포, 하천 장애물을 극복해야 한다지만..." Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 18회] 모델명, 90년대 기필코 전력화 의지 담아 '9' 선택". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 19회] 탁월한 장갑판재 용접실력...방호력 우수". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ Kim Daeyeong (ngày 4 tháng 10 năm 2018). [단독] K-9 자주포, 영국 수출길 오르나. Biz Hankook. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
- ↑ Shin Inho (ngày 3 tháng 5 năm 2022). "[K9 20회] HSU 개발 '땅팔 일 없고 사격도 빠르고 정확히". kookbang. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 23회] 우여곡절 끝 獨 MTU 엔진 장착". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 24회] 新자주포 포탄 독자개발 성공". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 28회] 신자포 공개시범사격....급속사격은 못했지만···". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 29회] ROC 수정... 전투중량 2톤 증가". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 30회] 안타까운 사고...개발 성공으로 승화". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
- ↑ 군인의 물건 군수품 돋보기 <15> K9 자주포와 K10 탄약운반차 (bằng tiếng Hàn). Republic of Korea Armed Forces Defense Media Agency. ngày 10 tháng 8 năm 2015.
- ↑ 삼성항공, 국방부와 신형 자주포 공급계약. Yonhap News Agency. ngày 22 tháng 12 năm 1998.
- ↑ "[e-무기]34세 연구원의 희생 딛고 탄생한 'K-9 자주포'" (bằng tiếng Hàn). Edaily. ngày 3 tháng 1 năm 2016.
- ↑ 국방부, 155mm 신형자주포 배치. Yonhap News Agency. ngày 17 tháng 12 năm 1999.
- ↑ "[K9 31회] K9이 제때 완성되지 못했다면?". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2022.
- ↑ 포스코에도 BTS가 있다. POSCO. ngày 23 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "POSCO Armour Plates" (PDF). Subcom Solution. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "STX Engine". STX ENGINE (bằng tiếng Korean).
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "SNT Dynamics".
- ↑ "Firstec". Firstec.
- ↑ 세계 최고 수준의 명품 자주포! [국군무기도감 시즌2:K9 자주포] (bằng tiếng Anh), ngày 29 tháng 12 năm 2019, truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2023
- ↑ Kim, Jae-Kab (2006). "An Study on the Erosion Characteristics of Tube CN98". ResearchGate.
- ↑ "Hyundai WIA". Hyundai WIA.
- ↑ "Finnish Army article on K9 Thunder". Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "[K9 21회] 포탄 이송·장전을 자동화...탄약 취급 안전 보장". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 11회] 화포 자동화와 링 레이저 자이로". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ "[K9 25회] 탄도·사격통제 독자개발 ... 완전 국산화". Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
- ↑ 제71회 방위사업추진위원회 개최결과. Republic of Korea. ngày 11 tháng 10 năm 2013.
- ↑ 사거리연장탄 개발놓고 한화와 풍산 정면대결. The Korea Economic Daily. ngày 12 tháng 8 năm 2014.
- ↑ "(주)한화, 성과 미달로 방위청으로부터 계약 해지 통보 받아". 디스커버리뉴스(DISCOVERYNEWS) (bằng tiếng Hàn). ngày 11 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2021.
- ↑ [단독] '최대 54km 타격' K9 자주포 155mm 사거리 연장탄 개발 완료. 비즈한국 (bằng tiếng Hàn). ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2021.
- ↑ 탄탄한 기술력이 일군 탄약 국산화 이제 세계가 배운다. Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2021.
- ↑ 홍, 석희 (ngày 20 tháng 2 năm 2023). [단독] 무기체계 47%는 자료만 보고 수입했다..."年 수천억대 추가 비용". 헤럴드경제 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
- ↑ [단독] 이번엔 K-총탄‥탱크 뚫는 총알 도입하나? (2023.06.06/뉴스데스크/MBC) (bằng tiếng Anh), ngày 6 tháng 6 năm 2023, truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2023
- ↑ 풍산, K방산 기술력 강화...155mm 사거리 연장탄 개발. 철강금속신문 (bằng tiếng Hàn). ngày 29 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "K9 계열 자주포 최대 사거리 40km → 60km". Kookbang Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
- ↑ 이, 종윤 (ngày 6 tháng 2 năm 2024). "155㎜ 자주포 사거리연장탄 개발 완료, 40→60㎞로 늘어". The Financial News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2024.
- ↑ 김, 준태 (ngày 6 tháng 2 năm 2024). "155㎜ 자주포 사거리연장탄 개발 완료…40→60㎞로 늘어". Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "K-9 사거리, 30% 확장…올해부터 LAP탄 양산 돌입". OBS경인TV (bằng tiếng Hàn). ngày 6 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2024.
- ↑ 최, 대성 (ngày 29 tháng 5 năm 2025). "[MADEX 2025] LIG넥스원·풍산, 새로운 '도전' 성공할까". Safe Times.
- ↑ 장사정 활공포탄 / 관측탄 / 상부공격 지능탄. 디펜스투데이 (bằng tiếng Hàn). ngày 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2021.
- 1 2 "K9 자주포 & 해외수출 Q&A". Defense Today. ngày 7 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Valpolini, Paolo (ngày 7 tháng 10 năm 2022). "Hanwha's K9 artillery solutions proven compatible with US munitions". EDR Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "K9A1 now fires US munitions - three rounds in 16 sec and 50km range" (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "K9 and K10 proven compatibility with US munitions at YPG live-fire demo". Hanwha Aerospace. ngày 10 tháng 11 năm 2022.
- ↑ 한화, NATO 호환 155mm 장약 첫 수출... "英과 전방위 방산협력". www.hanwhaaerospace.co.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "K9 Self-Propelled Howitzer Achieves Milestone with Raytheon M982A1 Excalibur Artillery Projectile". militaryleak.com. ngày 10 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Hanwha: K9 howitzer successfully tested with Excalibur artillery projectile" (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "'2018 계량측정의 날' 동탑산업훈장 수훈". NewsMaker. ngày 3 tháng 12 năm 2018.
- ↑ 국민행복과 신뢰의 기반은 정확한 계량측정에서. Republic of Korea. ngày 31 tháng 10 năm 2018.
- ↑ 포구속도측정기 국산화 성공. The Financial News. ngày 18 tháng 9 năm 2007.
- ↑ "DST Radar". DST.
- ↑ 방사청 "핵심무기 부품 국산화 실현한다". Money Today. ngày 9 tháng 2 năm 2012.
- ↑ 방사청, 핵심부품 국산화 개발에 박차. News 1. ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ↑ 탄약서 자주포.레이더까지...한화 '글로벌 톱10 방산기업' 정조준. Seoul Economics. ngày 30 tháng 3 năm 2016.
- ↑ 하니웰, 넵코어스와 'TALIN관성항법장치' 관련 협력 계약 체결. Aving Global Network. ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ↑ 가상현실 이용한 'K-10' 교보재 개발. Naver News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "K-9 자주포 전자식 교보재 개발 완료". Naver News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2022.
- ↑ 수성정밀기계, K9 자주포 자동청소기 국방부 공급. Maeil Business Newspaper. ngày 13 tháng 5 năm 2018.
- ↑ Automatic Bore Cleaner – Soosung Defense Industries, Ltd. SooSung Defense Industries LTD. ngày 12 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2021.
- ↑ 이, 수기 (ngày 20 tháng 6 năm 2023). 폴란드·인도 사로잡은 K9 자주포..."다음 목표는 무인화". JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Forsvarsdepartementet (ngày 8 tháng 12 năm 2023). "Norway, Finland and South Korea have all signed an agreement to enhance Norwegian defence capabilities". Regjeringen.no (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2023.
- ↑ 외국군에 국산 무기체계 교육 국제과정 개설. Kookbang Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2024.
- ↑ 육군, K9 등 국산 무기체계 도입 7개국 대상 장비 운용 교육. The Seoul Economic Daily (bằng tiếng Hàn). ngày 22 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2024.
- ↑ 절충교역 통해 중소기업 방산수출 530만불 달성 (bằng tiếng Hàn). Republic of Korea. ngày 10 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "'K9 자주포' 엔진 국산화 추진...내년부터 750억원 투입". KBS News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2021.
- ↑ 황, 봉규 (ngày 31 tháng 5 năm 2021). "STX엔진, K9 자주포 엔진 국산화 사업자 선정". Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Ricardo nets contract from STX Engine for South Korean project | Shephard". www.shephardmedia.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024.
- ↑ [단독] 한화디펜스, K9자주포 국산 엔진 장착 추진. Global Economic (bằng tiếng Hàn). ngày 27 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "[DX KOREA 2022] STX엔진, K9 자주포 1000마력 개발 엔진 등 소개". FNTIMES (bằng tiếng Hàn). ngày 21 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Jeon Gang-yong (ngày 27 tháng 9 năm 2024). "K9 자주포 국산 엔진 양산 성공… 창원서 1호 엔진 출고". Kyongnam Shinmun. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2024.
- ↑ [단독] STX엔진 'K9 자주포' 디젤엔진 국산화 내구도 시험 완료 "중동 추가수출 파란불". 비즈한국 (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "ko:STX엔진, K9 자주포 엔진 국산화 '개가'..."수출 확대 청신호"". PAX경제 (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "'K9 자주포 엔진 부품 국산화' '장애인 운동보조 슈트형 로봇' 등 첨단 기술 총망라". The Dong-A Ilbo (bằng tiếng Hàn). ngày 28 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2023.
- ↑ [단독] STX엔진 'K9 자주포' 디젤엔진 국산화 내구도 시험 완료 "중동 추가수출 파란불". 비즈한국 (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "K9 자주포 국산 엔진 양산...K-방산 해외진출 이끈다". Defense Acquisition Program Administration. ngày 27 tháng 9 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2024.
- ↑ "STX엔진" (PDF). iM SECURITIES CO., LTD. ngày 11 tháng 3 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2024.
- ↑ 한화디펜스, 호주 엔지니어링 회사와 계약..."차량화재 안전성 강화". www.theguru.co.kr (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
- ↑ tf.co.kr (ngày 15 tháng 2 năm 2022). 한화디펜스,이집트 수출·K-9자주포에 호주산 강재 쓴다. 더팩트 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "K9 자주포 수출 물량, 국산 방탄강 후판 아닌 호주산 철강 적용키로". 철강금속신문 (bằng tiếng Hàn). ngày 16 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022.
- ↑ "K-9 자주포에 엉뚱한 부동액 넣어 엔진 고장". Asian Economy. ngày 8 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "K-9 자주포, 전용 부동액도 이상". Herald Corporation. ngày 9 tháng 9 năm 2010.
- ↑ 안규백 "K-9 자주포, 전용부동액에도 이상". Yonhap News Agency. ngày 9 tháng 9 năm 2010.
- ↑ [주력무기 K계열 무엇이 문제인가]②삼성테크윈의 K9자주포. Asian Economy. ngày 15 tháng 9 năm 2010.
- ↑ [군금해?!] 진화하는 K9자주포 (bằng tiếng Hàn). 국방TV. ngày 8 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "K-9 자주포에 왜 386컴퓨터와 DOS를 쓸까?". Digital Daily. ngày 22 tháng 9 năm 2011.
- ↑ ""2011년 생산 K-9에 99년형 386급 도스컴퓨터"". Yonhap News Agency. ngày 19 tháng 9 năm 2011.
- ↑ 육군, 수도군단 해체계획 "없던 일로". The Naeil News. ngày 29 tháng 9 năm 2011.
- ↑ 삼성테크윈, 방위사업청과 6126억 규모 공급 계약. eToday. ngày 24 tháng 12 năm 2013.
- ↑ '조종수 사망' K-9 자주포 성능개선키로. The Dong-A Ilbo. ngày 3 tháng 3 năm 2015.
- ↑ Farymann & TZEN (2018). "Auxiliary Power Units(APU)". Farymann & TZEN. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Kim Gwanyong (ngày 17 tháng 10 năm 2019). 방산 중소기업 '페리만&티젠', 궤도차량 수평식 디젤엔진 선보여. Edaily. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "軍, 육군·해병대 K-9 자주포 내년부터 성능개량". Korean Broadcasting System. ngày 18 tháng 8 năm 2017.
- ↑ KFN뉴스 (ngày 6 tháng 2 năm 2022). [K9A1, 명품의 재탄생] K9 자주포 완전분해! 성능개량+창정비 현장!. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2024 – qua YouTube.
- ↑ 자동사격통제·보조동력 장착¨더 세진 '개량 자주포' 떴다. Seoul Economics. ngày 24 tháng 8 năm 2018.
- ↑ 청아람 :: 사업편 :: 정확도를 높이는 위력 장착을 위해. dapa-magazine.kr (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2024.
- ↑ [단독] 육군7포병여단 백호대대, K9A1 자주포 사격훈련. Kookbang Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
- ↑ 크루세이더급 K-9 탄생하나?. Seoul Economics. ngày 30 tháng 6 năm 2016.
- ↑ 한화디펜스, 방위산업수출 첨병...K9 자주포 5조 계약. Maeil Business Newspaper (bằng tiếng Hàn). ngày 20 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ 진화하는 'K9 자주포'...산악·설원·정글·사막 다 통한다. No Cut News. ngày 30 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2021.
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênK9A2 UK interview - ↑ 정, 동훈 (ngày 17 tháng 2 năm 2022). [단독] K-9 '괴물' 자주포로 재탄생 '자동장전' 성능개량 다음달 확정. MBC News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Global No. 1 SPH, K9 Thunder (bằng tiếng Anh), ngày 21 tháng 2 năm 2022, truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2022
- ↑ Choe Gyeongseon (ngày 18 tháng 7 năm 2022). "K9자주포 국내연구개발로 성능개량". KONAS. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "'K9 자주포' 타격 능력 향상...4년간 2조3600억 원 투입". Kookbang Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "K-9 자주포 '송탄·장전 자동화' 본궤도... 발사 속도 1.5배+인원 40%↓". News1 (bằng tiếng Hàn). ngày 26 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023.
- ↑ "Korea to export K9 howitzers worth $920 mil. to Romania - The Korea Times". www.koreatimes.co.kr (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ K9A2 리얼웨폰205 ㅣ국방홍보원 (bằng tiếng Anh), ngày 22 tháng 8 năm 2023, truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2023
- ↑ 록히드마틴이 K9 자주포를 만든다? '팀 썬더' 영국 현지 취재! 레오나르도, 피어슨 엔지니어링, 수시 디펜스! 다 보고 왔습니다! l K-방산 팩트체크 6편 [프파S] (bằng tiếng Anh), ngày 15 tháng 11 năm 2022, truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2022
- ↑ 미·러, 사거리 100km 미래형 자주포 경쟁에 K-9도 진화 중. Global Economic (bằng tiếng Hàn). ngày 24 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
- ↑ 김, 지헌 (ngày 13 tháng 11 năm 2022). "K-9 자주포, 80km 너머 포탄 날린다...초장사정 체계 개발 착수". Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2022.
- ↑ 하, 채림 (ngày 28 tháng 11 năm 2022). 국산 소형무장헬기 양산...한국판 스파이크·엑스칼리버 개발(종합). Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2022.
- ↑ 박, 수찬 (ngày 6 tháng 10 năm 2024). ""K9 자주포, 괴물로 변한다" 1등 넘어 '싹쓸이' 특명 [박수찬의 軍]". Segye Ilbo.
- ↑ "KDX-III 전투체계 5월 선정". Yonhap News Agency. ngày 14 tháng 2 năm 2001.
- 1 2 "K9자주포만 따라 다니는 차량". The Asia Business Daily. ngày 12 tháng 4 năm 2011.
- ↑ 로봇형 탄약운반장갑차 K10 개발. The Korea Economic Daily. ngày 4 tháng 10 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2021.
- ↑ '서울 에어쇼' 국내 항공방위산업 새 지평 열었다. Newsis. ngày 24 tháng 10 năm 2007.
- ↑ "Hanwha Defense K10 ARV". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2021.
- ↑ [커버스토리]방위산업 '손 큰 로비'가 주도한다. Weekly Kyunghyang (bằng tiếng Hàn). ngày 29 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Hanwha Defense shortlisted for Australian SPH project". Hanwha Defense. ngày 3 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.
- ↑ 한화디펜스, 이집트와 2조원 규모 K9 수출 계약. EBN (bằng tiếng Hàn). ngày 3 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022.
- ↑ Triffaux. "Hanwha Aerospace Designs Next-Gen K11A1 Fire Direction Control Vehicle for Remote Operation of K9A3 Sel-Propelled Howitzers". www.armyrecognition.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2024.
- ↑ [단독] 한화, 차세대 자주포 K9A3 모형 최초 공개. 비즈한국 (bằng tiếng Hàn). ngày 2 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2024.
- ↑ Toper, Ezgi. "What you need to know about Türkiye's self-propelled Firtina II howitzers". What you need to know about Türkiye's self-propelled Firtina II howitzers (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2023.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ↑ Peri, Dinakar (ngày 9 tháng 11 năm 2018). "Army fire power gets booster shot". The Hindu (bằng tiếng Anh). ISSN 0971-751X. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2020.
- 1 2 한화 '호주 자주포 사업'에 프랑스 사프란 가세. www.theguru.co.kr (bằng tiếng Hàn). ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2022.
- 1 2 "Huntsman howitzers action ready by 2023". The Weekend Australian. ngày 1 tháng 6 năm 2021.