5,56×45mm NATO
| 5.56×45mm NATO | ||
|---|---|---|
| ||
| 5.56×45mm NATO with measurement, left to right: Bullet, case, and complete cartridge | ||
| Kiểu đạn | Súng trường, carbine, DMR, và LMG | |
| Quốc gia chế tạo | Bỉ | |
| Lịch sử phục vụ | ||
| Trang bị | 1980–hiện tại | |
| Quốc gia sử dụng | NATO, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc, Israel, và các nướ ngoài khối NATO | |
| Lịch sử chế tạo | ||
| Nhà thiết kế | FN Herstal | |
| Năm thiết kế | cuối thập niên 1970–1980 | |
| Thông số | ||
| Vỏ đạn gốc | .223 Remington (M193) | |
| Kiểu vỏ đạn | Không vành,vỏ thắt cổ chai | |
| Đường kính đạn | 5,70 mm (0,224 in) | |
| Đường kính cổ | 6,43 mm (0,253 in) | |
| Đường kính thân | 9,00 mm (0,354 in) | |
| Đường kính dưới | 9,58 mm (0,377 in) | |
| Đường kính vành | 9,60 mm (0,378 in) | |
| Độ dày vành | 1,14 mm (0,045 in) | |
| Chiều dài vỏ đạn | 44,70 mm (1,760 in) | |
| Chiều dài tổng thể | 57,40 mm (2,260 in) | |
| Dung tích vỏ đạn | 1.85 cm³ (29 gr H2O) | |
| Chiều dài rãnh xoắn nòng | 1 in 7 in (178 mm) hay 1 in 9 in (229 mm) | |
| Kiểu hạt lửa | Small rifle | |
| Áp suất tối đa | 430,00 MPa (62.366 psi) | |
| Thông số đường đạn | ||
| Trọng lượng / Kiểu đạn | Sơ tốc | Năng lượng |
| 3,56 g (54,9 gr) XM193 FMJBT | 993 m/s (3.260 ft/s) | 1.755 J (1.294 ft⋅lbf) |
| 4 g (62 gr) SS109 FMJBT | 948 m/s (3.110 ft/s) | 1.797 J (1.325 ft⋅lbf) |
| 4 g (62 gr) M855A1 FMJBT | 961 m/s (3.150 ft/s) | 1.847 J (1.362 ft⋅lbf) |
| 4,1 g (63 gr) DM11 FMJBT | 856 m/s (2.810 ft/s) | 1.796 J (1.325 ft⋅lbf) |
| 4,1 g (63 gr) GP 90 FMJBT | 851 m/s (2.790 ft/s) | 1.679 J (1.238 ft⋅lbf) |
| Test barrel length: 508 mm (20,0 in) Source: NATO EPVAT testing, QuickLOAD, SAAMI, C.I.P.[1][2][3][4] | ||
5,56×45mm NATO (tên gọi chính thức theo định danh NATO: 5,56 NATO, thường được đọc là "five-five-six") là một họ đạn cỡ trung gian kiểu không vành, vỏ thắt cổ chai, điểm hỏa trung tâm, được FN Herstal phát triển tại Bỉ vào cuối thập niên 1970.[5] Họ đạn này gồm các biến thể SS109, L110 và SS111. Ngày 28 tháng 10 năm 1980, theo STANAG 4172, nó được tiêu chuẩn hóa thành loại đạn súng trường tiêu chuẩn thứ hai cho lực lượng NATO, và cũng được nhiều quốc gia ngoài NATO sử dụng.[5][6][7] Mặc dù không hoàn toàn giống hệt nhau, họ đạn 5,56×45mm NATO được phát triển dựa trên đạn .223 Remington do Remington Arms thiết kế vào đầu thập niên 1960, và có vỏ đạn gần như tương đồng. Tuy nhiên, kích thước buồng đạn giữa các khẩu súng được chế tạo cho từng loại đạn có khác biệt nhỏ. Những khác biệt này có thể gây ra áp suất buồng đạn không an toàn khi bắn đạn 5.56 NATO trong các khẩu súng thiết kế cho .223 Remington. Vì vậy, không khuyến nghị kết hợp theo cách này.[8]
Lịch sử

Năm 1954, loại đạn súng trường 7,62×51mm NATO cỡ lớn hơn[9] được chọn làm loại đạn súng trường tiêu chuẩn đầu tiên của NATO. Tuy nhiên, ngay tại thời điểm lựa chọn đã có chỉ trích rằng độ giật của 7,62×51mm NATO khi bắn từ súng trường hiện đại nhẹ ở chế độ tự động khiến người bắn khó kiểm soát, do đó các phát bắn tự động liên tiếp không đủ độ chính xác, mà sẽ tản mát quanh mục tiêu.[10]
Người Anh đã có nhiều bằng chứng từ các thử nghiệm của họ về đạn cỡ trung từ năm 1945, và họ gần như sắp chính thức sử dụng loại đạn .280 (7 mm × 43mm) thì quyết định chọn 7,62×51mm (.308) làm chuẩn NATO được đưa ra. FN cũng tham gia phát triển đạn .280, trong đó có việc phát triển một phiên bản FN FAL dùng đạn .280.[11] Concerns about the recoil and overall effectiveness of 7.62 mm were overruled by the US, and the other NATO nations accepted that standardization was more important than the selection of a cartridge that was otherwise ideal.[5]Người Anh đã có nhiều bằng chứng từ các thử nghiệm của họ về đạn cỡ trung từ năm 1945, và họ gần như sắp chính thức sử dụng loại đạn .280 (7 mm × 43mm) thì quyết định chọn 7,62×51mm (.308) làm chuẩn NATO được đưa ra. FN [11] Những lo ngại về độ giật và hiệu quả tổng thể của 7,62 mm đã bị Hoa Kỳ bác bỏ, và các nước NATO khác chấp nhận rằng tiêu chuẩn hóa quan trọng hơn việc chọn một loại đạn "lý tưởng" hơn về mặt khác.[5]

Sự phát triển của loại đạn sau này trở thành .223 Remington (nguồn gốc của 5,56mm NATO) gắn liền với việc phát triển một súng trường chiến đấu mới, nhẹ. Đạn và súng được phát triển như một hệ thống thống nhất bởi Fairchild Industries, Remington Arms, và một số kỹ sư làm việc theo mục tiêu do Bộ Tư lệnh Lục quân Lục địa Hoa Kỳ (CONARC) đề ra. Các nghiên cứu ban đầu bắt đầu từ năm 1957. Một dự án chế tạo vũ khí cỡ nòng nhỏ, tốc độ cao được khởi động. Eugene Stoner của Armalite được mời để thu nhỏ thiết kế AR-10 sử dụng cỡ đạn 7,62mm. Winchester cũng được mời tham gia.[5][12] Các tham số CONARC yêu cầu bao gồm:
- Cỡ .22
- Đầu đạn vượt tốc độ âm ở khoảng cách 500 thước Anh (457 mét)[12]
- Trọng lượng súng 6 pound (2,72 kilôgam)
- Sức chứa hộp tiếp đạn 20 viên
- Có thể lựa chọn chế độ bắn giữa bán tự động và tự động hoàn toàn
- Xuyên được tại mặt bên mũ thép M1 ở khoảng cách 500 yd (457 m)
- Xuyên được tấm thép dày 0,135 inch (3,43 milimét) ở khoảng cách 500 yd (457 m)
- Độ chính xác và đường đạn tương đương đạn M2 ball (.30-06 Springfield) đến 500 yd (457 m)
- Khả năng gây thương tích tương đương M1 carbine[5]
Kỹ sư Earle Harvey của Springfield Armory đã kéo dài vỏ đạn .222 Remington để đáp ứng yêu cầu. Khi đó nó được gọi là .224 Springfield. Đồng thời với dự án SCHV, Springfield Armory cũng đang phát triển một khẩu súng trường 7,62mm. Harvey được lệnh dừng toàn bộ công việc với SCHV để tránh cạnh tranh nguồn lực.
Eugene Stoner của Armalite (một bộ phận của Fairchild Industries) được đề nghị chế tạo một phiên bản thu nhỏ của thiết kế AR-10 7,62mm. Vào tháng 5 năm 1957, Stoner trình diễn bắn đạn thật nguyên mẫu AR-15 cho Tướng Willard G. Wyman, Tổng tư lệnh CONARC. Sau đó, CONARC đặt súng để thử nghiệm. Stoner và Frank Snow của Sierra Bullet bắt đầu làm việc với đạn .222 Remington. Dùng máy tính đạn đạo, họ xác định rằng đầu đạn 55 grain phải được bắn ở tốc độ 3.300 ft/s (1.006 m/s) để đạt hiệu năng cần thiết ở cự ly 500 yard.[5]
Robert Hutton (biên tập kỹ thuật của tạp chí Guns & Ammo) bắt đầu phát triển liều thuốc phóng để đạt mục tiêu 3.300 ft/s (1.006 m/s) Ông dùng DuPont IMR4198, IMR3031, và một loại thuốc phóng của Olin để xây dựng các liều nạp. Thử nghiệm được thực hiện bằng súng Remington 722 với nòng Apex dài 22 inch. Trong một buổi trình diễn công khai, viên đạn xuyên được mũ thép M1 đúng như yêu cầu. Tuy nhiên, thử nghiệm cho thấy áp suất buồng đạn tăng quá cao.[5][12]
Stoner liên hệ cả Winchester và Remington về việc tăng thể tích vỏ đạn. Remington tạo ra một cỡ đạn lớn hơn gọi là “.222 Special”, sử dụng thuốc phóng DuPont IMR4475.[5]Trong các thử nghiệm song song của T44E4 (sau này là M14) và AR-15 vào năm 1958, T44E4 gặp 16 lỗi trên mỗi 1.000 viên, trong khi AR-15 là 6,1 lỗi.[5]
Do có nhiều loại đạn cỡ .222 được phát triển cho dự án SCHV, .222 Special được đổi tên thành .223 Remington vào năm 1959. Vào tháng 5 năm 1959, một báo cáo cho biết các tiểu đội 5–7 người trang bị AR-15 có xác suất trúng cao hơn so với tiểu đội 11 người trang bị M-14. Trong một buổi dã ngoại ngày 4 tháng 7, Tướng Không quân Curtis LeMay bắn thử AR-15 và rất ấn tượng. Ông đặt mua một số lượng để thay thế M2 carbine đang dùng trong Không quân. Đến tháng 11, thử nghiệm tại Aberdeen Proving Ground cho thấy tỷ lệ lỗi của AR-15 giảm còn 2,5 lỗi/1.000 viên, dẫn tới việc M-16 được phê duyệt cho các thử nghiệm của Không quân.[5]
Thử nghiệm bắn chính xác năm 1961 so sánh M-16 với M-14 cho thấy 43% xạ thủ M-16 đạt mức "chuyên gia", trong khi chỉ 22% xạ thủ M-14 đạt được. Tướng LeMay sau đó đặt 80.000 khẩu M-16.[5]
Vào mùa xuân năm 1962, Remington nộp thông số .223 Remington cho SAAMI (Sporting Arms and Ammunition Manufacturers’ Institute). Đến tháng 7 năm 1962, thử nghiệm thực địa kết thúc với khuyến nghị tiếp nhận súng trường M-16 dùng đạn .223 Remington.[5]
Vào tháng 9 năm 1963, đạn .223 Remington được chấp nhận chính thức và đặt tên "Cartridge, 5.56mm ball, M193". Tiêu chuẩn này gồm đầu đạn do Remington thiết kế và sử dụng thuốc phóng IMR4475, tạo sơ tốc đầu nòng 3.250 ft/s (991 m/s) và áp suất buồng đạn 52,000 psi.[5]
Năm 1970, các nước NATO ký thỏa thuận chọn một loại đạn thứ hai, cỡ nhỏ hơn, để thay thế 7,62×51mm NATO.[13] Trong số các loại đạn dự thầu, .223 Remington (M193) là nền tảng cho một thiết kế mới do FN Herstal phát triển. Loại do FN tạo ra được đặt tên "5.56×45mm NATO", với ký hiệu quân sự SS109 tại NATO và M855 tại Hoa Kỳ.[8] Các viên đạn SS109 mới này yêu cầu bước xoắn 228 mm (1 vòng/9 inch); trong khi để ổn định tốt đầu đạn vạch đường L110 dài hơn thì cần bước xoắn nhanh hơn nữa là 178 mm (1 vòng/7 inch).[5]
Loại đạn SS109 62 grain của Bỉ được chọn để tiêu chuẩn hóa thành loại đạn súng trường chuẩn thứ hai của NATO, dẫn tới tiêu chuẩn STANAG 4172 vào tháng 10 năm 1980. SS109 dùng đầu đạn 62 grain kiểu full metal jacket với mũi thép mềm 7 grain, nhằm đẩy trọng tâm về phía sau, tăng ổn định bay và vì vậy tăng khả năng đầu đạn lao trúng theo hướng mũi ở cự ly xa, một phần để đáp ứng yêu cầu rằng đầu đạn phải xuyên được mặt bên mũ M1 của Mỹ thời Thế chiến II ở 500 yard (457 m) (đây cũng là yêu cầu cho đạn 7,62×51mm NATO). Trong thử nghiệm phát triển, họ không dùng mũ thật mà dùng tấm thép mềm SAE 1010 hoặc SAE 1020, đặt để viên đạn đánh trúng ở góc 90° chính xác. SS109 có vận tốc đầu nòng thấp hơn chút, nhưng hiệu năng tầm xa tốt hơn nhờ mật độ tiết diện cao hơn và hệ số cản tốt hơn.
Đạn .223 Remington đã tạo ra xu hướng quốc tế hướng tới các loại đạn quân dụng nhỏ, nhẹ, tốc độ cao, cho phép lính mang nhiều đạn hơn với cùng khối lượng so với các loại đạn lớn và nặng trước đó, có đặc tính "tầm bắn thẳng tối đa" thuận lợi, đồng thời tạo lực đẩy khóa nòng và xung giật tự do tương đối thấp, giúp thiết kế vũ khí nhẹ và cải thiện độ chính xác khi bắn ở chế độ tự động.[11][14][15]
Tham khảo
- ↑ "Téléchargement" [Downloads]. C.I.P. (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2008.
- ↑ "MIL-C-9963F, Military Specification: Cartridge, 5.56mm, Ball, M193". 1999.
- ↑ Clark, Philip (tháng 4 năm 2012). "M855A1 Enhanced Performance Round (EPR)" (PDF). Maneuver Ammunition Systems. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2017.
- ↑ Woods, Jeffrey K. (ngày 4 tháng 5 năm 2011). "M855A1 Enhanced Performance Round (EPR) Media Day" (PDF). Defense Technical Information Center. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Watters, Daniel. "A 5.56 x 45mm "Timeline"". The Gun Zone. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "STANAG 4172 5.56 mm Ammunition (Linked or Otherwise)" (PDF). NATO Military Agency for Standardization. tháng 5 năm 1993. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2020.
- ↑ Arvidsson, Per G. (2008). "NATO Infantry Weapons Standardization" (PDF). NATO Army Armaments Group. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2012.
- 1 2 Towsley, Bryce (ngày 4 tháng 3 năm 2013). ".223 Remington Vs. 5.56: What's in a Name?". American Rifleman. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Barnes, Frank C. (1972). Cartridges of the World. Northfield, IL: DBI Books. tr. 37. ISBN 978-0-695-80326-1.
- ↑ Tong, David (2006). "U.S. Rifle, cal. 7.62mm, M14". Chuckhawks.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
- 1 2 3 "Assault Rifles and Their Ammunition: History and Prospects". Anthony G. Williams. tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2014.
- 1 2 3 Barnes, Frank C. (2016). Cartridges of the World. Iola, WI: Krause Publishing. tr. 88. ISBN 978-1-4402-4265-6.
- ↑ Hogg, Ian V. Jane's Infantry Weapons 1986-87. tr. 362.
- ↑ "An Improved Battlesight Zero for the M4 Carbine and M16A2 Rifle". AR15.com. 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2007.
- ↑ "TM 9-1005-319-10 (2010) - Operator's Manual for Rifle, 5.56 MM, M16A2/M16A3/M4 (Battlesight Zero pages 48-55)" (PDF). AR15.com. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2014.