Kế hoạch Madagascar

Kế hoạch Madagascar (tiếng Đức: Madagaskarplan) là một kế hoạch do chính quyền Đức Quốc xã đề xuất nhằm di dời cưỡng bức cộng đồng Do Thái ở châu Âu đến đảo Madagascar. Trưởng phòng Do Thái thuộc Bộ Ngoại giao Đức là Franz Rademacher đã đề xuất ý tưởng này vào tháng 6 năm 1940, ngay trước khi Pháp thất thủ. Đề xuất này kêu gọi chuyển giao quyền kiểm soát Madagascar, lúc đó là thuộc địa của Pháp, cho Đức như một phần của các điều khoản hòa bình sau này.
Ý tưởng tái định cư người Do Thái Ba Lan tại Madagascar được Đệ Tam Cộng hòa Pháp và Đệ Nhị Cộng hòa Ba Lan nghiên cứu vào năm 1937. Tuy nhiên, lực lượng đặc nhiệm được cử đến để đánh giá tiềm năng của hòn đảo đã xác định rằng chỉ có thể tiếp nhận từ 5.000 đến 7.000 gia đình, hoặc thậm chí chỉ 500 gia đình theo một số ước tính. Những nỗ lực của Đức Quốc xã nhằm khuyến khích người Do Thái di cư khỏi Đức trước Thế chiến II chỉ thành công một phần. Do đó, ý tưởng trục xuất người Do Thái đến Madagascar đã được chính quyền Quốc xã tái khởi động vào năm 1940.
Theo đề xuất của Rademacher vào ngày 3 tháng 6 năm 1940, Madagascar nên được mở cửa làm điểm đến cho người Do Thái ở châu Âu. Với sự chấp thuận của Adolf Hitler, Adolf Eichmann ban hành một bản ghi nhớ vào ngày 15 tháng 8 năm 1940, kêu gọi tái định cư một triệu người Do Thái mỗi năm trong vòng bốn năm, trong đó hòn đảo được quản lý như một nhà nước cảnh sát dưới quyền SS. Họ cho rằng nhiều người Do Thái sẽ không chịu nổi điều kiện khắc nghiệt đến mức bỏ mạng nếu kế hoạch được thực hiện. Dù được đề xuất, kế hoạch đã trở nên bất khả thi do sự phong tỏa của Hải quân Anh, rồi bị hoãn sau thất bại của Đức Quốc xã trong Trận chiến nước Anh vào tháng 9 năm 1940, và bị gác lại vĩnh viễn vào năm 1942.
Nguồn gốc

Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, đã có một số kế hoạch tái định cư người Do Thái châu Âu, là những tiền thân của Kế hoạch Madagascar. Học giả Đông phương học bài Do Thái Paul de Lagarde lần đầu đề xuất di tản người Do Thái châu Âu đến Madagascar trong tác phẩm Deutsche Schriften (dịch Những bài viết của nước Đức) xuất bản năm 1878.[1][2] Các thành viên của phong trào Phục quốc Do Thái trong giai đoạn 1904–1905 đã tranh luận nghiêm túc về Kế hoạch Uganda, theo đó người Do Thái Nga đang gặp nguy hiểm trước mắt từ các cuộc tàn sát đang diễn ra ở Đế quốc Nga sẽ được định cư tại Lãnh thổ Bảo hộ Đông Phi (nay là Kenya), vốn là một phần của Đế quốc Anh vào thời điểm đó. Kế hoạch này sau đó bị Đại hội Phục quốc Do Thái Thế giới bác bỏ vì không khả thi.[3]
Những người theo chủ nghĩa lãnh thổ tách khỏi phong trào phục quốc Do Thái chính và tiếp tục tìm kiếm một địa điểm mà người Do Thái có thể định cư và thành lập một nhà nước, hoặc ít nhất là một khu tự trị.[4] Những người Anh bài Do Thái như Henry Hamilton Beamish (người sáng lập hội bài Do Thái Anh The Britons), Arnold Leese (người sáng lập Liên đoàn Phát xít Đế quốc) đã thúc đẩy ý tưởng tái định cư người Do Thái ở Madagascar.[5] Với sự hợp tác của người Pháp,[6] chính phủ Ba Lan thành lập một lực lượng đặc nhiệm vào năm 1937 để xem xét khả năng định cư người Do Thái Ba Lan trên đảo.[6][7] Lãnh đạo ủy ban Mieczysław Lepecki cảm thấy hòn đảo có thể chứa 5-7.000 gia đình, nhưng các thành viên Do Thái của nhóm ước tính rằng, do khí hậu và cơ sở hạ tầng kém, chỉ 500 gia đình hoặc thậm chí ít hơn có thể được tiếp nhận an toàn.[7]
Nhà sử học Eric T. Jennings lập luận rằng sự tồn tại dai dẳng của kế hoạch này—từ những đề xuất công khai ban đầu cho đến các cuộc thám hiểm của chính phủ Pháp, Ba Lan và Đức trong Thế chiến II—bắt nguồn từ "luận điểm Do Thái" liên quan đến nguồn gốc Do Thái cổ xưa được cho là của Madagascar. Năm 1937, một phái đoàn Pháp gồm ba người, trong đó có hai người Do Thái, xác định Bealanana và Ankaizinana, hai khu vực cao và hẻo lánh, là địa điểm tiềm năng cho việc tái định cư.[8][9]
Tại Đức Quốc xã
Phân biệt chủng tộc và bài Do Thái là những nguyên tắc cơ bản của Đảng Quốc xã và chính phủ Quốc xã.[10] Sự phân biệt đối xử và các cuộc tấn công bạo lực chống lại người Do Thái bắt đầu ngay sau khi phe Quốc xã lên nắm quyền vào năm 1933.[11] Họ sử dụng bạo lực và áp lực kinh tế nhằm khuyến khích người Do Thái tự nguyện rời khỏi đất nước.[12] Đến năm 1939, khoảng 250.000 trong số 437.000 người Do Thái Đức đã di cư đến Hoa Kỳ, Argentina, Vương quốc Anh và các quốc gia khác, cũng như Lãnh thổ Ủy trị Palestine của Anh.[13][14]
Giới lãnh đạo Quốc xã nắm bắt ý tưởng trục xuất những người Do Thái Đức còn lại ra nước ngoài. Những vùng đất cằn cỗi, không màu mỡ được xem là điểm đến thích hợp vì điều này sẽ ngăn cản những người bị trục xuất phát triển thịnh vượng ở nơi ở mới.[15] Trong bản ghi nhớ gửi Hitler tháng 5 năm 1940, Liên quan đến việc đối xử với dân cư ngoại lai ở phương Đông, Reichsführer-SS Heinrich Himmler tuyên bố rằng ông hy vọng sẽ thấy "thuật ngữ "Do Thái" […] hoàn toàn bị xóa bỏ thông qua làn sóng di cư ồ ạt của tất cả người Do Thái đến châu Phi hoặc thuộc địa khác nào đó".[16]
Bắt đầu lên kế hoạch
Các cuộc thảo luận ban đầu bắt đầu diễn ra vào năm 1938 giữa các nhà tư tưởng Quốc xã như Julius Streicher, Hermann Göring, Alfred Rosenberg và Joachim von Ribbentrop.[17] Mười phần trăm người Do Thái dưới quyền tài phán của Đức vào thời điểm đó là công dân Ba Lan. Đại sứ Ba Lan tại Đức Józef Lipski bày tỏ sự miễn cưỡng của đất nước mình trong việc tiếp nhận họ trở lại, và chính phủ Ba Lan ra sắc lệnh rằng những người mang hộ chiếu Ba Lan sẽ không được phép quay trở lại trừ khi đáp ứng các điều kiện cụ thể.[18] Khi Ribbentrop nêu vấn đề này với Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Georges Bonnet vào tháng 12 năm đó, Bonnet cho biết Pháp tỏ ra không thoải mái trong việc tiếp nhận thêm người Do Thái Đức và hỏi liệu có thể thực hiện biện pháp để ngăn chặn sự đổ bộ của họ hay không. Bản thân Pháp khi ấy đang tìm phương án trục xuất khoảng 10.000 người Do Thái và xem xét liệu Madagascar có phải là một điểm đến thích hợp.[19] Việc lập kế hoạch trục xuất người Đức đến Madagascar chính thức bắt đầu vào năm 1940.[20] Vừa được bổ nhiệm làm người đứng đầu Vụ Do Thái thuộc Bộ Ngoại giao, Franz Rademacher đã chuyển cho cấp trên của mình là nhà ngoại giao Martin Luther một bản ghi nhớ về số phận của người Do Thái vào ngày 3 tháng 6.[7] Rademacher nói: "Giải pháp mong muốn là: tất cả người Do Thái phải rời khỏi châu Âu".[16] Ông thoáng cân nhắc việc di dời họ đến Palestine, nhưng thấy không phù hợp, vì ông cho rằng việc thành lập một nhà nước Do Thái hùng mạnh ở Trung Đông là điều không mong muốn. Hơn nữa, Palestine lúc đó đang nằm dưới sự kiểm soát của Anh.[21] Rademacher đề xuất rằng Madagascar thuộc Pháp nên được sử dụng làm điểm đến cho người Do Thái ở châu Âu như một trong những điều khoản đầu hàng của Pháp, vốn đã bị Đức xâm lược vào ngày 10 tháng 5 năm 1940.[22] Rademacher lưu ý rằng những người Do Thái được tái định cư có thể bị sử dụng làm con tin để đảm bảo "những người đồng chủng của họ ở Mỹ sẽ có hành vi tốt trong tương lai".[16] Kế hoạch này được phát triển bởi Bản báo cáo D III của Abteilung Deutschland.[23]
Luther đã đề cập vấn đề này với Bộ trưởng Ngoại giao Ribbentrop, người đồng thời đang phát triển một kế hoạch tương tự. Đến ngày 18 tháng 6, Hitler và Ribbentrop thảo luận với nhà lãnh đạo Ý Benito Mussolini về khả năng theo đuổi Kế hoạch sau thất bại của Pháp.[16][17] Sau khi biết về kế hoạch này, SS-Obergruppenführer Reinhard Heydrich, người đứng đầu Cơ quan An ninh Trung ương Đế chế (RSHA), nhấn mạnh rằng Ribbentrop phải chuyển bất kỳ trách nhiệm nào trong tương lai đối với Kế hoạch cho cơ quan đó. Vì Heydrich đã được Göring bổ nhiệm vào tháng 1 năm 1939 để giám sát việc di tản người Do Thái khỏi lãnh thổ do Đức chiếm đóng, nên vấn đề Do Thái do đó nằm trong phạm vi quản lý của ông.[17] Adolf Eichmann, Lãnh đạo Tiểu ban IV-B4 của RSHA, người phụ trách các vấn đề của người Do Thái và việc di tản đã sớm tham gia. Ngày 15 tháng 8, ông công bố một bản ghi nhớ có tựa đề Reichssicherheitshauptamt: Madagaskar Projekt (dịch Cơ quan An ninh Trung ương Đế chế: Dự án Madagascar), kêu gọi tái định cư một triệu người Do Thái mỗi năm trong bốn năm và từ bỏ ý định giữ lại bất kỳ người Do Thái nào ở châu Âu. Ông nhấn mạnh rằng RSHA sẽ kiểm soát mọi khía cạnh của chương trình.[24] Trong khi Rademacher kêu gọi thuộc địa nằm dưới sự kiểm soát của Đức nhưng tự quản dưới sự quản lý của người Do Thái, Eichmann nói rõ rằng ông muốn SS kiểm soát và giám sát mọi khía cạnh của cuộc sống trên đảo, và cai trị đảo dưới hình thức nhà nước cảnh sát.[25]
Hầu hết các cơ quan Đức Quốc xã, bao gồm Bộ Ngoại giao, Cảnh sát An ninh và Phủ Toàn quyền (lãnh thổ Ba Lan bị chiếm đóng) đều đặt hy vọng vào kế hoạch này như cơ hội cuối cùng để "giải quyết vấn đề Do Thái" thông qua di cư.[26] Đặc biệt, thống đốc Phủ Toàn quyền Hans Frank coi việc tái định cư cưỡng bức sang Madagascar là lựa chọn tốt hơn so với những nỗ lực từng phần trước đây nhằm trục xuất người Do Thái về Ba Lan. Tính đến ngày 10 tháng 7, các vụ trục xuất về Ba Lan đã bị hủy bỏ, đồng thời việc xây dựng Ghetto Warszawa bị dừng lại do bị xem là không cần thiết.[17]
Tiếp tục lên kế hoạch
Rademacher hình dung việc thành lập một ngân hàng châu Âu, cuối cùng sẽ thanh lý toàn bộ tài sản của người Do Thái tại châu Âu để chi trả cho kế hoạch. Ngân hàng này sau đó sẽ đóng vai trò trung gian giữa Madagascar và phần còn lại của thế giới, vì người Do Thái sẽ không được phép giao dịch tài chính với người ngoài. Văn phòng Kế hoạch Bốn năm của Göring sẽ giám sát việc quản lý kinh tế của kế hoạch.[27]
Ngoài ra, Rademacher còn dự kiến các vai trò cho các cơ quan chính phủ khác. Bộ Ngoại giao của Ribbentrop sẽ đàm phán các điều khoản với Pháp để bàn giao Madagascar cho Đức. Bộ này cũng sẽ đóng vai trò trong việc soạn thảo các hiệp ước khác để giải quyết vấn đề người Do Thái ở châu Âu. Sở Thông tin của Bộ, cùng với Joseph Goebbels và Bộ Khai sáng và Tuyên truyền Công chúng của ông, sẽ kiểm soát luồng thông tin trong và ngoài nước. Viktor Brack, một trưởng phòng trong Quan phòng Quốc trưởng, sẽ giám sát việc vận chuyển. SS sẽ thực hiện việc trục xuất người Do Thái khỏi châu Âu và cai trị hòn đảo như một nhà nước cảnh sát.[28] Đức Quốc xã dự kiến rằng sau cuộc xâm lược Vương quốc Anh trong Kế hoạch Sư tử biển, họ sẽ chỉ huy đội tàu buôn của Anh để vận chuyển người Do Thái đến Madagascar.[27] Đức Quốc xã dự kiến nhiều người bị trục xuất sẽ chết trong điều kiện khắc nghiệt hoặc chết dưới tay SS.[29] Nhà sử học Ian Kershaw mô tả kế hoạch này là một cuộc diệt chủng bằng một phương pháp thay thế.[30]
Bãi bỏ kế hoạch
Do không thể đánh bại Không quân Hoàng gia trong Trận chiến nước Anh, kế hoạch xâm lược Vương quốc Anh đã bị hoãn vô thời hạn vào ngày 17 tháng 9 năm 1940. Điều này có nghĩa đội tàu thương mại của Anh sẽ không nằm trong tầm tay của Đức để sử dụng cho việc di tản, và việc lên kế hoạch cho đề xuất Madagascar bị đình trệ.[27] Cuối tháng 8 năm 1940, Rademacher yêu cầu Ribbentrop tổ chức một cuộc họp tại bộ của mình để bắt đầu lập một nhóm chuyên gia nhằm củng cố kế hoạch. Ribbentrop không bao giờ hồi đáp. Tương tự, bản ghi nhớ của Eichmann bị Heydrich trì hoãn và không bao giờ chấp thuận.[27] Việc thành lập các khu ổ chuột ở Warszawa và các thành phố khác ở Ba Lan được nối lại vào tháng 8 năm 1940.[31] Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi RSHA ước tính sẽ mất khoảng bốn năm để chuyển tất cả người Do Thái đến bờ biển phía đông Châu Phi, khiến kế hoạch này càng trở nên không khả thi.[32] Kế hoạch đã chính thức bị gác lại trong Bộ Ngoại giao vào tháng 2 năm 1942.[33] Lực lượng Anh chiếm hòn đảo từ Vichy Pháp trong Trận Madagascar vào tháng 11 năm 1942 và quyền kiểm soát được chuyển giao cho nước Pháp Tự do.[34]
Việc Anh từ chối đầu hàng, Chiến dịch Sư tử biển thất bại và việc Đức không kiểm soát được hải quân đã khiến Kế hoạch Madagascar trở nên bất khả thi.[35][36] Do việc trục xuất không còn khả thi, chế độ Quốc xã đã chuyển sang thi hành các chính sách trong nước khắc nghiệt hơn, do thực tế thời chiến thúc đẩy nhiều hơn là do ý thức hệ.[37] Những cơ hội mới ở phía Đông đã khiến Hitler từ bỏ kế hoạch để ủng hộ việc trục xuất đến các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng.[33]
Sau khi kế hoạch cho Chiến dịch Barbarossa bắt đầu, Hitler yêu cầu Himmler soạn thảo một kế hoạch mới để tiêu diệt người Do Thái ở châu Âu, và Himmler chuyển giao nhiệm vụ cho Heydrich. Bản dự thảo của ông đề xuất trục xuất người Do Thái sang Liên Xô qua Ba Lan.[38] Sau này, Generalplan Ost (dịch Kế hoạch chung cho phương Đông), do Giáo sư Konrad Meyer và những người khác soạn thảo, kêu gọi trục xuất toàn bộ dân số Đông Âu bị chiếm đóng và Liên Xô đến Siberia để sử dụng làm lao động nô lệ hoặc bị sát hại sau khi Liên Xô thất bại. Kế hoạch này xoay quanh việc đánh bại nhanh chóng lực lượng Liên Xô.[39] Khi thực tế cho thấy cuộc chiến chống lại Liên Xô sẽ kéo dài hơn nhiều so với dự kiến, Heydrich đã sửa đổi kế hoạch của mình để tập trung vào cộng đồng Do Thái khi đó đang nằm dưới sự kiểm soát của Đức Quốc xã. Vì không thể chuyển hàng loạt người vào vùng chiến sự, Heydrich quyết định sát hại người Do Thái trong các trại hủy diệt được dựng lên ở các khu vực bị chiếm đóng của Ba Lan.[40] Ước tính tổng số người Do Thái bị sát hại trong cuộc diệt chủng Holocaust diễn ra sau đó dao động từ 5,5 đến 6 triệu người.[41]
Xem thêm
- Quan hệ Đức–Madagascar
- Tỉnh tự trị Do Thái
- Kế hoạch Nisko
- Đề xuất nhà nước Do Thái
Tham khảo
- ↑ Gerdmar 2009, tr. 180.
- ↑ Ehrlich 2009, tr. 452.
- ↑ Telushkin 2001, tr. 280–281.
- ↑ Cesarani 1995, tr. 101.
- ↑ Browning 2004, tr. 81.
- 1 2 Nicosia 2008, tr. 280.
- 1 2 3 Browning 2004, tr. 82.
- ↑ Rovner 2020, tr. 174.
- ↑ Jennings 2017, tr. 196.
- ↑ Longerich 2010, tr. 31.
- ↑ Shirer 1960, tr. 203.
- ↑ Longerich 2010, tr. 67–69.
- ↑ Longerich 2010, tr. 127.
- ↑ Evans 2005, tr. 555–558.
- ↑ Kershaw 2008, tr. 452–453.
- 1 2 3 4 Longerich 2012, tr. 508.
- 1 2 3 4 Kershaw 2000, tr. 320–322.
- ↑ Hilberg 1973, tr. 258.
- ↑ Hilberg 1973, tr. 259.
- ↑ Hilberg 1973, tr. 260.
- ↑ Longerich 2012, tr. 162.
- ↑ Browning 2004, tr. 82–85.
- ↑ Hilberg 1973, tr. 260–261.
- ↑ Browning 2004, tr. 87.
- ↑ Kershaw 2008, tr. 577.
- ↑ Hilberg 1973, tr. 261.
- 1 2 3 4 Browning 2004, tr. 88.
- ↑ Browning 2004, tr. 87–88.
- ↑ Longerich 2012, tr. 509.
- ↑ Kershaw 2015, tr. 131.
- ↑ Longerich 2010, tr. 165.
- ↑ Longerich 2019, tr. 701.
- 1 2 Browning 2004, tr. 415.
- ↑ Jackson 2006, tr. 291–294.
- ↑ Longerich 2019, tr. 700–701.
- ↑ Berenbaum 2025.
- ↑ Cesarani 2016, tr. 301–306.
- ↑ Longerich 2012, tr. 511.
- ↑ Snyder 2010, tr. 416.
- ↑ Longerich 2010, tr. 309–310.
- ↑ Evans 2008, tr. 318.
Thư mục
- Berenbaum, Michael (ngày 11 tháng 7 năm 2025). "Wannsee Conference" [Hội nghị Wannsee]. Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
- Browning, Christopher R. (2004). The Origins of the Final Solution : The Evolution of Nazi Jewish Policy, September 1939 – March 1942 [Nguồn gốc của Giải pháp cuối cùng: Diễn biến Chính sách Do Thái của Đức Quốc xã, tháng 9 năm 1939 – tháng 3 năm 1942]. Comprehensive History of the Holocaust (bằng tiếng Anh). Lincoln: University of Nebraska Press. ISBN 0-8032-1327-1.
- Browning, Christopher R. (1995). The Path to Genocide: Essays on Launching the Final Solution [Con đường diệt chủng: Các bài luận về việc đưa ra giải pháp cuối cùng] (bằng tiếng Anh). Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-55878-5.
- Cesarani, David (2016). Final Solution: The Fate of the Jews, 1933–1945 [Giải pháp cuối cùng: Số phận của người Do Thái, 1933–1945] (bằng tiếng Anh). New York: St. Martin’s Press. ISBN 978-1-25000-083-5.
- Cesarani, David (1995) [1995]. The "Jewish Chronicle" and Anglo-Jewry: 1841–1991 ["Biên niên sử Do Thái" và người Do Thái ở Anh: 1841–1991] (bằng tiếng Anh). Cambridge; New York: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-43434-8.
- Ehrlich, Mark Avrum (2009). Encyclopedia of the Jewish Diaspora: Origins, Experiences, and Culture [Bách khoa toàn thư về cộng đồng Do Thái di cư: Nguồn gốc, Trải nghiệm và Văn hóa] (bằng tiếng Anh). Quyển 1. Santa Barbara, CA: ABC-CLIO. ISBN 978-1-85109-873-6.
- Evans, Richard J. (2005). The Third Reich in Power [Đệ Tam Đế chế nắm quyền] (bằng tiếng Anh). New York: Penguin. ISBN 978-0-14-303790-3.
- Evans, Richard J. (2008). The Third Reich at War [Đệ Tam Đế chế trong chiến tranh] (bằng tiếng Anh). New York: Penguin. ISBN 978-0-14-311671-4.
- Gerdmar, Anders (2009). Roots of Theological Anti-Semitism: German Biblical Interpretation and the Jews, from Herder and Semler to Kittel and Bultmann [Nguồn gốc của chủ nghĩa bài Do Thái thần học: Diễn giải Kinh thánh của Đức và người Do Thái, từ Herder và Semler đến Kittel và Bultmann]. Studies in Jewish History and Culture (bằng tiếng Anh). Leiden: Koninklijke Brill. ISBN 978-90-04-16851-0.
- Hilberg, Raul (1973). The Destruction of the European Jews [Sự hủy diệt người Do Thái ở Châu Âu] (bằng tiếng Anh). New York: New Viewpoints.
- Jackson, Ashley (2006). The British Empire and the Second World War [Đế quốc Anh và Thế chiến thứ hai] (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Academic. ASIN B004ZJBZOW.
- Jennings, Eric T. (2017). Perspectives on French Colonial Madagascar [Quan điểm về Madagascar thuộc địa của Pháp] (bằng tiếng Anh). New York: Palgrave Macmillan. doi:10.1057/978-1-137-55967-8. ISBN 978-1-137-59690-1.
- Kershaw, Ian (2000). Hitler: 1936–1945: Nemesis [Hitler: 1936–1945: Kẻ thù] (bằng tiếng Anh). New York: Norton. ISBN 978-0-393-04994-7.
- Kershaw, Ian (2008) [2000]. Hitler: A Biography [Hitler: Tiểu sử] (bằng tiếng Anh). New York: Norton. ISBN 978-0-393-06757-6.
- Kershaw, Ian (2015) [1985]. The Nazi Dictatorship: Problems and Perspectives of Interpretation [Chế độ độc tài Quốc xã: Các vấn đề và quan điểm giải thích] (bằng tiếng Anh). London; New York: Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4742-4095-6.
- Longerich, Peter (2019). Hitler: A Biography [Hitler: Tiểu sử] (bằng tiếng Anh). Oxford and New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19005-673-5.
- Longerich, Peter (2010). Holocaust: The Nazi Persecution and Murder of the Jews [Thảm sát Holocaust: Cuộc đàn áp và giết hại người Do Thái của Đức Quốc xã] (bằng tiếng Anh). Oxford; New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-280436-5.
- Longerich, Peter (2012). Heinrich Himmler: A Life [Heinrich Himmler: Một cuộc đời] (bằng tiếng Anh). Oxford; New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-959232-6.
- Nicosia, Francis R. (2008). Zionism and Anti-Semitism in Nazi Germany [Chủ nghĩa phục quốc Do Thái và chủ nghĩa bài Do Thái ở Đức Quốc xã] (bằng tiếng Anh). Cambridge; New York: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-88392-4.
- Rovner, Adam L. (2020). "The Lost Jewish Continent". In the Shadow of Zion [Dưới bóng Zion] (bằng tiếng Anh). New York University Press. doi:10.18574/nyu/9781479804573.001.0001. ISBN 978-1-4798-0457-3. S2CID 250109046.
- Shirer, William L. (1960). The Rise and Fall of the Third Reich [Sự trỗi dậy và sụp đổ của Đệ tam Đế chế] (bằng tiếng Anh). New York: Simon & Schuster. LCCN 60-6729.
- Snyder, Timothy (2010). Bloodlands: Europe between Hitler and Stalin [Những vùng đất đẫm máu: Châu Âu giữa Hitler và Stalin] (bằng tiếng Anh). New York: Basic Books. ISBN 978-0-465-00239-9.
- Telushkin, Joseph (2001) [1991]. Jewish Literacy: The Most Important Things to Know About the Jewish Religion, Its People, and Its History [Kiến thức Do Thái: Những điều quan trọng nhất cần biết về tôn giáo Do Thái, con người và lịch sử của tôn giáo này] (bằng tiếng Anh). New York: Harper Collins. ISBN 978-0-688-08506-3.
Đọc thêm
- Ainsztein, Reuben (1974). Jewish Resistance in Nazi-Occupied Eastern Europe [Sự phản kháng của người Do Thái ở Đông Âu do Đức Quốc xã chiếm đóng] (bằng tiếng Anh). London: Elek Books. ISBN 978-0-236-15490-6.
- Brechtken, Magnus (1998). Madagaskar für die Juden: Antisemitische Idee und politische Praxis 1885–1945 [Madagascar đối với người Do Thái: Ý tưởng bài Do Thái và thực tiễn chính trị 1885–1945] (bằng tiếng Đức). Oldenbourg: Wissenschaftsverlag. ISBN 3-486-56384-X.
Liên kết ngoài
- Video tổng quan về Kế hoạch Madagascar trên YouTube bởi nhà sử học Đức Magnus Brechtken
- Văn bản Kế hoạch Madagascar