SS-Totenkopfverbände
| SS-Totenkopfverbände (SS-TV) | |
Phù hiệu cổ áo phải (phiên bản thứ hai, 1934–1945) | |
Các sĩ quan SS-TV tại trại tập trung Gusen (tháng 10 năm 1941) | |
| Tổng quan Cơ quan | |
|---|---|
| Thành lập | 1936 |
| Giải thể | 8 tháng 5 năm 1945 |
| Loại | Tổ chức bán quân sự |
| Quyền hạn | |
| Trụ sở | Oranienburg, gần Berlin 52°45′16″B 13°14′13″Đ / 52,75444°B 13,23694°Đ |
| Số nhân viên | 22.033 (SS-TV 1939[1] và Sư đoàn SS Totenkopf k. 1942) |
| Lãnh đạo chịu trách nhiệm |
|
| Các Lãnh đạo Cơ quan |
|
| Trực thuộc cơ quan | Schutzstaffel |
SS-Totenkopfverbände (SS-TV; n.đ. 'Các đơn vị Đầu lâu của SS'[2] hoặc 'Các tiểu đoàn Đầu lâu của SS'[3]) wà một nhánh lớn của tổ chức bán quân sự thuộc Đảng Quốc xã Schutzstaffel (SS). Lực lượng này chịu trách nhiệm quản lý các trại tập trung và các trại hành quyết của Đức Quốc xã, cùng các nhiệm vụ tương tự khác[4] SS-TV vừa là tổ chức kế thừa, vừa là phiên bản mở rộng của SS-Wachverbände(các đơn vị canh gác) được thành lập năm 1933. Trong khi Totenkopf (biểu tượng đầu lâu) là phù hiệu mũ phổ biến của SS nói chung, thì SS-TV còn đeo phù hiệu này trên miếng ve cổ áo bên phải để phân biệt với các lực lượng SS khác.
On 29 March 1936, concentration camp guards and administration units were officially designated as the SS-Totenkopfverbände (SS-TV).SS-TV ban đầu được thành lập vào năm 1933, khi đó độc lập với SS và có hệ thống quân hàm và cơ cấu chỉ huy riêng. Tổ chức này điều hành các trại trên khắp nước Đức và sau đó là trên các lãnh thổ châu Âu bị chiếm đóng. Các trại ở Đức bao gồm Dachau, Bergen-Belsen và Buchenwald; các trại khác ngoài lãnh thổ Đức bao gồm Auschwitz-Birkenau ở Ba Lan và Mauthausen ở Áo cùng một số lượng lớn trại tập trung và trại tử thần khác được điều hành hết sức bí mật. Chức năng chính của các trại tử thần là diệt chủng. Các trại Treblinka, Bełżec và Sobibór được dựng lên để phục vụ Aktion Reinhard. Các trại có sẵn như trại hủy diệt Chełmno, Majdanek và Auschwitz được trang bị các phương tiện giết người hàng loạt. SS-TV chịu trách nhiệm tạo điều kiện cho cái mà Đức Quốc xã gọi là Giải pháp cuối cùng diễn ra một cách thuận lợi, được biết đến từ sau chiến tranh với cái tên Holocaust.[5] SS-TV được điều hành bởi Văn phòng An ninh chính Quốc gia của Heinrich Himmler và Văn phòng Hành chính và Kinh tế SS (WVHA).[6]
Sư đoàn SS Totenkopf được thành lập từ các nhân viên SS-TV khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở Châu Âu. Sư đoàn này sớm trở nên khét tiếng về độ tàn bạo, tham gia tiến hành hàng loạt tội ác chiến tranh như vụ thảm sát Le Paradis năm 1940 trong trận chiến nước Pháp. Trên Mặt trận phía Đông, các vụ xả súng hàng loạt vào dân thường Ba Lan và Liên Xô trong chiến dịch Barbarossa được xem là "chiến tích" của các đội cảm tử cơ động Einsatzgruppen và các phân đội Einsatzkommando do Heinrich Himmler và Reinhard Heydrich tổ chức.[7][8]
Thành lập
Sau khi giành được quyền lực toàn quốc vào năm 1933, Đảng Quốc xã khởi động một chương trình mới nhằm giam giữ hàng loạt những người bị gọi là "kẻ thù của nhà nước". Ban đầu, chỉ có các trại giam "tự phát" đang hoạt động. Chúng mọc lên ở mọi thị trấn trên khắp nước Đức "như nấm mọc sau mưa" (lời của Himmler)[9] và các trại thời kỳ đầu này thường tận dụng những không gian có thể khóa lại, thường không có hạ tầng cho việc giam giữ lâu dài (ví dụ: phòng máy, sàn nhà máy bia, kho chứa, tầng hầm).[10] Sau khi lực lượng bán quân sự Áo nâu của SA bị mất quyền lực trong cuộc thanh trừng của NSDAP được gọi là "Đêm của những con dao dài" (30 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1934), SS giành quyền kiểm soát hệ thống trại còn non trẻ này.[11] SS đã lập các trại tập trung do nhà nước điều hành tại Dachau, Oranienburg và Esterwegen; đến năm 1935, các trại này đã giam giữ tổng cộng 107.000 người bị coi là "không mong muốn".[12]

Ngày 26 tháng 6 năm 1933, Reichsführer-SS Heinrich Himmler bổ nhiệm SS-Oberführer Theodor Eicke làm Kommandant(chỉ huy trưởng) của trại tập trung Dachau.[13] Eicke yêu cầu một đơn vị thường trực chỉ trực thuộc mình, vì vậy SS-Wachverbände (đơn vị canh gác) đựuoc thành lập.[13] Eicke bắt đầu giai đoạn tai tiếng của mình bằng cách ban hành các mệnh lệnh mới về việc giết tù nhân cố gắng trốn trại (Postenpflicht). Ông soạn ra Lagerordnung, một bộ quy tắc kỷ luật và hình phạt của Quốc xã, quy định hệ thống các biện pháp trừng phạt kỷ luật cực đoan đối với người bị giam. Các quy tắc của Eicke được tất cả các trại tập trung của Đức Quốc xã áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 1934. Eicke được thăng lên chức SS-Brigadeführer (tương đưuong chwucs thiếu tướng trong lục quân) vào ngày 30 tháng 1 năm 1934. Sau "Đêm của những con dao dài", Eicke, người có liên quan trực tiếp đến sự kiện này khi bắn chết thủ lĩnh SA Ernst Röhm – tiếp tục được thăng lên cấp SS-Gruppenführer và được bổ nhiệm chính thức làm Thanh tra trại tập trung và Chỉ huy lực lượng SS-Wachverbände. Sau đó, toàn bộ các trại còn lại do SA điều hành đều bị SS tiếp quản.[14][15][16] Với vai trò Thanh tra trại tập trung, Eicke bắt đầu một cuộc tổ chức lại quy mô lớn vào năm 1935. Các trại nhỏ bị giải thể. Trại Dachau vẫn được duy trì; sau đó, nhân sự từ Dachau được điều đi làm việc tại Sachsenhausen và Oranienburg, nơi Eicke đặt văn phòng trung ương của mình.[2]
Năm 1935, Dachau trở thành trung tâm huấn luyện cho lực lượng phục vụ các trại tập trung.[2] Nhiều tân binh thời kỳ đầu đến từ hàng ngũ SA và Allgemeine SS. Các vị trí cấp cao được đảm nhiệm bởi nhân sự từ Ordnungspolizei, lực lượng duy trì trị an. Ngày 29 tháng 3 năm 1936, lực lượng lính gác trại và các đơn vị hành chính của trại tập trung được chính thức đặt tên là SS-Totenkopfverbände (SS-TV).[17] Vào mùa hè năm 1937, trại Buchenwald bắt đầu hoạt động; tiếp theo là Ravensbrück (gần Lichtenburg) vào May 1939. Ngoài ra còn có các trại mới ở Áo, như trại tập trung Mauthausen-Gusen, mở cửa năm 1938[2] Tất cả các quy định của các trại SS, cả đối với lính gác lẫn tù nhân, đều dựa theo mô hình của trại Dachau.[18]
Phát triển

Năm 1935, khi hệ thống trại tập trung trong nước Đức mở rộng, các cụm trại được tổ chức thành Wachsturmbanne (tiểu đoàn) trực thuộc văn phòng Thanh tra Trại tập trung, cơ quan này báo cáo trực tiếp cho cơ quan tổng hành dinh SS và Heinrich Himmler. Khi SS-Totenkopfverbände được chính thức thành lập vào tháng ba năm 1936, lực lượng này được tổ chức thành sáu Wachtruppen đóng tại mỗi trại tập trung lớn của Đức. Tháng 4 năm 1936, Eicke được bổ nhiệm làm chỉ huy SS-Totenkopfverbände và quân số dưới quyền ông tăng từ 2.876 lên 3.222; Cơ quan Thanh tra Trại tập trung (CCI) cũng được cấp kinh phí chính thức thông qua cơ quan ngân sách của Đế chế, và Eicke được phép tuyển mộ lực lượng tương lai từ Đoàn Thanh niên Hitler tùy theo nhu cầu từng vùng.[19] Đến năm 1937, các Wachsturmbannetiếp tục được tổ chức lại thành ba SS-Totenkopfstandarten (trung đoàn) chính.
Đến năm 1936, Eicke đã bắt đầu xây dựng các đội hình mang tính "quân sự" từ nhân sự trại tập trung về sau trở thành Sư đoàn Totenkopf và các đơn vị khác của Waffen-SS. Trong giai đoạn đầu hình thành lực lượng phục vụ trại theo hướng quân sự, tuyến chỉ huy chính xác của nhóm này từng gây tranh cãi: vì Eicke, với tư cách Führer der Totenkopfverbände nắm quyền kiểm soát cá nhân đối với nhóm; nhưng đồng thời, do nhóm được coi là một đội hình SS vũ trang, thẩm quyền đối với các đơn vị vũ trang lại được SS-Verfügungstruppe (SS-VT), đòi hỏi — SS-VT vốn được lập từ năm 1934 như lực lượng chiến đấu cho Đảng Quốc xã. Tuy vậy, vào thời điểm này, Himmler và Eicke hình dung SS-VT vũ trang là một lực lượng phục vụ cho các hoạt động "cảnh sát và an ninh nội bộ". Về sau, đến năm 1938, người ta thấy rõ rằng quân SS-VT cũng sẽ được sử dụng cho các mục đích "tuyến đầu"[20]

Eicke, trong vai trò chỉ huy SS-TV, tiếp tục tổ chức lại hệ thống trại bằng cách giải thể các trại nhỏ. Đến tháng tám năm 1937, tại Đức chỉ còn Dachau, Sachsenhausen, Buchenwald and Ravensbrück. Năm 1938, sau sự kiện Anschluss,Eicke giám sát việc xây dựng các trại mới ở Áo, như Mauthausen. Việc tái tổ chức của Eicke và áp dụng lao động cưỡng bức đã biến các trại thành một trong những công cụ quyền lực nhất của SS, nhưng cũng khiến ông bị thù ghét bởi lãnh đạo Gestapo và Sicherheitsdienst (SD) là Reinhard Heydrich, người muốn giành quyền kiểm soát hệ thống trại tập trung. Himmler muốn duy trì sự phân tách quyền lực, nên Eicke vẫn giữ quyền chỉ huy SS-TV và vận hành các trại. Điều này giúp việc kiểm soát các trại không rơi vào tay Gestapo hay SD.[21]
Đến tháng tư 1938, SS-TV có bốn trung đoàn, mỗi trung đoàn gồm ba tiểu đoàn "xung kích", với ba đại đội bộ binh, một đại đội súng máy, và các đơn vị quân y, thông tin liên lạc và vận tải.[22] Ngày 17 tháng 8 năm 1938, theo yêu cầu của Himmler, Hitler ra sắc lệnh quy định SS-TV là lực lượng dự bị chính thức cho SS-VT;[23] điều này trong suốt chiến tranh dẫn đến việc nhân sự liên tục luân chuyển giữa Waffen-SS và hệ thống trại tập trung. Mục đích của Himmler đơn giản là mở rộng "quân đội riêng" của mình bằng cách dùng SS-TV (cũng như lực lượng cảnh sát mà ông kiểm soát) làm nguồn nhân lực. Himmler tiếp tục xin và đạt được một sắc lệnh khác, ban hành ngày 18 May 1939, cho phép mở rộng SS-TV lên 50.000 người, đồng thời chỉ thị lục quân phải cung cấp trang bị quân sự cho lực lượng này, điều mà trước đó lục quân đã phản đối.[17]
Tham khảo
- ↑ Sydnor 1990, tr. 34.
- 1 2 3 4 McNab 2009, tr. 137.
- ↑ "Totenkopfverbände". Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2025.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênUSCCPA - ↑ Friedländer 2007, tr. 346–347.
- ↑ McNab 2009, tr. 41, 134–144.
- ↑ Rhodes 2007.
- ↑ Niewyk & Nicosia 2012, tr. 24.
- ↑ Wachsmann 2015, tr. 38.
- ↑ Wachsmann 2015, tr. 38–45.
- ↑ McNab 2009, tr. 136.
- ↑ Wachsmann 2015, tr. 88.
- 1 2 Padfield 2001, tr. 129.
- ↑ Kershaw 2008, tr. 308–314.
- ↑ Evans 2005, tr. 31–35, 39.
- ↑ McNab 2009, tr. 136, 137.
- 1 2 Stein 1984, tr. 9, 20–33.
- ↑ Evans 2005, tr. 84.
- ↑ Koehl 2004, tr. 146.
- ↑ Wegner 1990, tr. 112–113.
- ↑ Wegner 1990, tr. 91, 92.
- ↑ Stein 1984, tr. 24.
- ↑ Stein 1984, tr. 33.
Tài liệu
- Berger, Ronald J. (2002). Fathoming the Holocaust: A Social Problems Approach (bằng tiếng Anh). Transaction Publishers. tr. 67. ISBN 978-0202366111.
- Evans, Richard J. (2005). The Third Reich in Power. New York: Penguin. ISBN 978-0-14-303790-3.
- Friedländer, Saul (2007). The Years of Extermination: Nazi Germany and the Jews, 1939–1945. HarperCollins. ISBN 978-0-06-019043-9.
- Friedman, Saul S. (1993). Holocaust Literature: A Handbook of Critical, Historical, and Literary Writings. Greenwood Press. ISBN 978-0313262210.
- Höss, Rudolf (1974). "Commandant of Auschwitz: the autobiography of Rudolf Hoess". Holocaust Literature: A Handbook of Critical, Historical, and Literary Writings. World War, 1939–1945. Pan Books Ltd. ISBN 978-0330241007.
- Kershaw, Ian (2008). Hitler: A Biography. New York: W. W. Norton & Company. ISBN 978-0-393-06757-6.
- Koehl, Robert (2004). The SS: A History 1919–45. Stroud: Tempus. ISBN 978-0-75242-559-7.
- McNab, Chris (2009). The SS: 1923–1945. Amber Books Ltd. ISBN 978-1-906626-49-5.
- Niewyk, Donald L.; Nicosia, Francis R. (2012). "USSR and the Einsatzgruppen". The Columbia Guide to the Holocaust. Columbia University Press. ISBN 978-0231528788.
- Padfield, Peter (2001) [1990]. Himmler: Reichsführer-SS. London: Cassel & Co. ISBN 0-304-35839-8.
- Rhodes, Richard (2007). "Himmler, Heydrich, and the Einsatzgruppen". Masters of Death: The SS-Einsatzgruppen and the Invention of the Holocaust. Knopf Doubleday Publishing Group. Notes. ISBN 978-0307426802.
- Semków, Piotr (tháng 9 năm 2006). "Kolebka (Cradle)" (PDF). IPN Bulletin No. 8–9 (67–68), 152 Pages. Warsaw: Institute of National Remembrance: 42–50 (44–51/152 in PDF). ISSN 1641-9561. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
- Stein, George H. (1984). The Waffen SS: Hitler's Elite Guard at War, 1939–1945. Ithaca, NY: Cornell University Press. ISBN 0-8014-9275-0.
- Sydnor, Charles (1990) [1977]. Soldiers of Destruction: The SS Death's Head Division, 1933–1945. Princeton, NJ: Princeton University Press. ISBN 0691008531.
- Tessin, Georg (1965). Die Landstreitkräfte 6-14. Verbände und Truppen der deutschen Wehrmacht und Waffen-SS im Zweiten Weltkrieg 1939-1945 (bằng tiếng German). Quyển 3 (ấn bản thứ 1). Frankfurt/Main: E.S. Mittler & Sohn.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - Wachsmann, Nikolaus (2015). KL: A History of the Nazi Concentration Camps. Macmillan. ISBN 978-1429943727.
- Weale, Adrian (2012). Army of Evil: A History of the SS. New York; Toronto: NAL Caliber (Penguin Group). ISBN 978-0-451-23791-0.
- Wegner, Bernd (1990). The Waffen-SS: Organization, Ideology and Function. Blackwell. ISBN 0-631-14073-5.