Bước tới nội dung

Junkers Ju 87

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Ju 87)
Junkers Ju 87 Stuka
Ju 87D vào tháng 10 năm 1943
Thông tin chung
KiểuMáy bay ném bom bổ nhàomáy bay cường kích
Nguồn gốcĐức Quốc xã
Hãng sản xuấtJunkers
Thiết kế
Hermann Pohlmann
Khách hàng chínhLuftwaffe
  • Không quân Bulgaria
  • Không quân Hoàng gia Ý
  • Không quân Hoàng gia Romania
Số lượng sản xuất6,000[a]
Lịch sử
Được giới thiệu1936
Chuyến bay đầu tiên17 tháng 9 năm 1935
Ngừng hoạt động1945

Junkers Ju 87, thường được biết đến với tên gọi phổ biến "Stuka",[b] à một loại máy bay ném bom bổ nhàocường kích mặt đất của Đức. Do Hermann Pohlmann thiết kế, nó thực hiện chuyến bay đầu tiên vào năm 1935. Ju 87 lần đầu tham chiến vào năm 1937 trong biên chế Quân đoàn Condor của Luftwaffe trong Nội chiến Tây Ban Nha 1936–1939, và phục vụ phe Trục trong Thế chiến II từ đầu đến cuối (1939–1945).

Chiếc máy bay này rất dễ nhận ra nhờ cánh mòng biển ngược và bộ càng đáp cố định có ốp khí động. Ở mép trước của các chân càng đáp chính có ốp khí động, người ta gắn các còi hút gió, tên chính thức là "Lärmgerät" (thiết bị tạo tiếng ồn). Chúng đã trở thành một biểu tượng tuyên truyền của sức mạnh không quân Đức và các chiến thắng Blitzkrieg giai đoạn 1939–1942, đồng thời cũng cung cấp cho phi công Stuka tín hiệu âm thanh để cảm nhận tốc độ. Thiết kế của Stuka còn bao gồm một số cải tiến, trong đó có phanh bổ nhào tự động kéo máy bay ngóc lên đặt dưới cả hai cánh, nhằm bảo đảm máy bay có thể thoát khỏi cú bổ nhào tấn công ngay cả khi phi công bị ngất do lực g cao, hoặc bị khóa chặt sự chú ý vào mục tiêu.

Ju 87 hoạt động với hiệu quả đáng kể trong vai trò yểm trợ đường không tầm gần và chống hạm khi Thế chiến II bùng nổ. Nó dẫn đầu các đợt không kích trong cuộc xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939. Stuka tỏ ra có vai trò then chốt trong việc nhanh chóng chinh phục Na Uy,Hà Lan, BỉPháp vào năm 1940. Dù bền bỉ, chính xác và rất hiệu quả trước các mục tiêu mặt đất, Stuka—giống như nhiều loại máy bay ném bom bổ nhào khác cùng thời—lại dễ bị tổn thương trước máy bay tiêm kích. Trong Trận chiến nước Anh giai đoạn 1940–1941, khả năng cơ động kém, tốc độ thấp và hỏa lực phòng thủ hạn chế khiến nó cần có tiêm kích hộ tống mạnh mới có thể hoạt động hiệu quả.

Sau Trận chiến nước Anh, Luftwaffe triển khai các đơn vị Stuka trong chiến dịch Balkan, tại mặt trận châu Phi và Địa Trung Hải, cũng như trong giai đoạn đầu của cuộc chiến ở Mặt trận phía Đông, nơi nó được dùng cho nhiệm vụ yểm trợ mặt đất nói chung, như một loại máy bay chống tăng chuyên dụng hiệu quả, và cả trong vai trò chống hạm. Khi Luftwaffe mất ưu thế trên không, Stuka trở thành mục tiêu dễ dàng cho tiêm kích đối phương, nhưng nó vẫn tiếp tục được sản xuất cho đến năm 1944 vì không có loại thay thế nào tốt hơn. Đến năm 1945, các phiên bản cường kích mặt đất của Focke-Wulf Fw 190 phần lớn đã thay thế Ju 87, nhưng nó vẫn tiếp tục phục vụ cho đến khi chiến tranh kết thúc vào năm 1945.

Đức đã chế tạo khoảng 6.000 chiếc Ju 87 thuộc mọi phiên bản trong giai đoạn từ 1936 đến tháng 8 năm 1944.

Oberst Hans-Ulrich Rudel trở thành phi công Stuka thành công nhất và là phi công Đức được trao thưởng nhiều nhất trong chiến tranh.

Lịch sử

Chiếc Junkers 87 Stuka (Sturtz [dive – bổ nhào] kampf [bomber – ném bom] flugzeug [máy bay]) là đứa con tinh thần của Ernst Udet. Khi ông trở thành Tổng Thanh tra của lực lượng Luftwaffe, nhờ uy tín lúc bấy giờ của ông bạn Hermann Göring, ông đã lên tiếng kêu gọi việc nghiên cứu và chế tạo loại máy bay "ném bom bổ nhào (dive-bomber)".

Ngày ấy, lý thuyết ném bom bổ nhào từng bị phê phán nặng nề. Ví dụ như Wolfram von Richthofen, giám đốc của Văn phòng Kỹ thuật của Bộ Hàng Không Đức Quốc xã đã kịch liệt phản đối với lý do rằng bất cứ máy bay nào bổ nhào xuống dưới tầm 2.000m sẽ dễ dàng bị bắn rơi bởi hỏa lực phòng không.

Phi đội máy bay ném bổ nhào đầu tiên của Đức sử dụng chiếc Heinkel He 50, một chiếc máy bay hai tầng cánh phần nào theo ý tưởng của Curtiss Warhawks nhưng thiết kế chủ yếu theo chuẩn của Nhật Bản. Sau đó những chiếc Henschel Hs 123 cũng cánh đôi đã thay thế He 50. Những chiếc Hs 123 tưởng như tạm thời này vậy mà cũng đã tham gia chiến trận gần như toàn bộ Chiến tranh thế giới thứ hai.

Cũng giống như chiếc Messerschmitt Bf 109, mẫu Stuka làm toàn bằng kim loại và dùng động cơ Rolls-Royce Kestrel vì lý do nhà máy sản xuất động cơ Junkers bị chậm trễ. Chiếc Stuka đã ra đời với khả năng đâm bổ ném bom ở góc 90⁰ thẳng đứng, với cửa sổ trong suốt dưới sàn buồng lái cho phép xem toàn cảnh của mục tiêu và cửa sổ bên trái của phi công được vẽ sọc đánh số 60⁰, 75⁰, 80⁰ nhằm tạo thuận tiện cho việc tinh chỉnh góc bổ nhào và nhẩm tính cho cú thả bom chính xác.

Sau tai nạn thảm khốc tháng 8 năm 1939 khi hầu hết những phi công mới vào nghề của Không đoàn Stuka (Stuka Geschwader) 76 dưới sự chỉ huy của đại úy Walther Siegel đâm đầu xuống đất trong đợt tập huấn tại Neuhammer (Đức) vì lý do tính toán sai góc của áng mây dùng làn chuẩn, chiếc Stuka được nâng cấp và gắn kèm nhiều bộ phận tự động rất sáng tạo như bộ đo góc bổ nhào tự động, bộ kéo cần lái tự động giúp máy bay vút ngược lên cao ngay cả khi phi công đang bị ngộp sau cú bổ nhào. Nó còn có kèm theo bộ còi hụ bằng gió chói tai khi bổ nhào nhằm làm kinh hoàng đối phương.

Tập tin:Briefmarke Luftwaffe.jpg
1943
1941

Chiếc Stuka trông rất cứng rắn, thậm chí trông hơi xấu xí với càng bánh dưới bụng máy bay được thiết kế gắn chết vào thân mà không thu vào được. Nó thực hiện cú bổ nhào ném bom rất chính xác và nói chung là rất hiệu quả trong những nhiệm vụ diệt xe tăng, tàu chiến hay đơn giản chỉ để … dọa đối phương bằng tiếng còi hụ. Nhưng những chiếc Stuka ban đầu lại khá chậm chạp, không thể vòng lượn gì mấy, vũ khí chỉ có 2 súng máy 7,92 mm và dễ dàng bị bắn hạ bởi máy bay chiến đấu của đối phương. Sau Trận không chiến tại nước Anh, Luftwaffe chợt nhận ra rằng phải dùng máy bay chiến đấu làm chủ bầu trời trước khi để Stuka vào cuộc tấn công mặt đất thì mới hiệu quả và sau đó Stuka tiếp tục được dùng ở châu Âu, nhưng chủ yếu phía Nam cuộc chiến nơi mà quân Đồng Minh có ít máy bay, cụ thể là những thiệt hại đáng kể mà nó mang đến trong trận chiến tại CreteMalta, mặc dù nó cũng bị bắn hạ bởi những máy bay chiến đấu đời mới của Liên Xô tại mặt trận Xô-Đức.

Những chiếc Ju 87B-1 sử dụng đội bay 2 người (phi công, xạ thủ ngồi sau). Với động cơ Junkers Jumo 211Da, nó bay với tốc độ tối đa 385 km/h, cao độ tối đa 8.000m và bay trong khoảng cách 600 km. Chiếc Ju 87B-1 có 3 súng máy 7.92mm và 1 quả bom loại 500 kg hay 4 quả bom mỗi quả 50 kg.

Từ năm 1942, chiếc Ju 87G-1 ra đời và được dùng chủ yếu để diệt xe tăng. Nó sử dụng động cơ Junkers Jumo 211J (1.400 hp), bay với tốc độ 314 km/h, cao độ 8.000m nhưng khoảng cách bay khá giới hạn ở 320 km. Lý do cho việc giảm tốc độ và khoảng cách bay là do hệ thống vỏ bằng thép gắn kèm theo để bảo vệ phi công và xạ thủ ngồi sau khi bay thấp trong những nhiệm vụ diệt xe tăng. Nó được trang bị 2 đại bác 37mm và 1 súng máy 7.92mm dành cho xạ thủ ngồi sau.

Tổng cộng có khoảng 5.700 chiếc Stuka đã được sản xuất trước khi ngừng lại vào năm 1944.

Thông số kỹ thuật (Ju 87D-1)

Junkers Ju 87B-2

Dữ liệu lấy từ Warplanes of the Third Reich [4]

Đặc tính tổng quan

  • Kíp lái: 2
  • Chiều dài: 11,4999 m (37 ft 8,75 in)
  • Sải cánh: 13,805 m (45 ft 3,5 in)
  • Chiều cao: 3,8926 m (12 ft 9,25 in)
  • Diện tích cánh: 31,900 m2 (343,37 foot vuông)
  • Kết cấu dạng cánh: Göttingen 256[5]
  • Trọng lượng rỗng: 3.900 kg (8.598 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 6.600 kg (14.550 lb)[chuyển đổi: tùy chọn không hợp lệ]
  • Động cơ: 1 × Junkers Jumo 211J V-12 đặt ngược, làm mát bằng chất lỏng, 1.000 kW (1.400 hp) khi cất cánh
1.050 kW (1.410 hp) at 4.300 m (14.100 ft)
  • Cánh quạt: 3-lá Junkers tốc độ không đổi

Hiệu suất bay

  • Vận tốc cực đại: 410 km/h; 222 kn (255 mph) at 4.100 m (13.500 ft)
  • Vận tốc hành trình: 319 km/h; 172 kn (198 mph) at 5.100 m (16.700 ft)
  • Tầm bay: 1.535 km; 829 nmi (954 mi) at 5.100 m (16.730 ft) (maximum)
  • Trần bay: 7.315 m (24.000 ft)
  • Thời gian lên độ cao: 5.000 m (16.400 ft) trong 20 phút

Vũ khí trang bị

  • Súng: 2 × súng máy MG 17 cỡ 7,92 mm (0,31 in) bắn thẳng về phía trước; 1 × súng máy đôi MG 81 cỡ 7,92 mm (0,31 in) bố trí phía sau
  • Bom: 1 × 250 kg (550 lb) treo dưới thân máy bay và 4× 50 kg (110 lb) treo dưới cánh.

Xem thêm

Máy bay liên quan
Máy bay tương tự
Danh sách liên quan

Ghi chú

  1. Các con số vẫn còn gây tranh cãi. Griehl dẫn lại số liệu bổ sung từ danh sách của kỹ sư trưởng Pichon. Theo đó, có 5.930 chiếc được sản xuất. Griehl lưu ý rằng con số này có thể bao gồm toàn bộ số máy bay, kể cả những chiếc chưa hoàn thiện. Trong khi đó, hồ sơ của Junkers cho biết đã có 5.126 máy bay được bàn giao cho Luftwaffe.[1]
  2. /ˈstkə/; tiếng Đức: [ˈʃtuːkaː] ; từ Sturzkampfflugzeug, "máy bay ném bom bổ nhào"[2][3]

Tham khảo

Chú thích

Liên kết ngoài