Hồng Tú Toàn
| Hồng Tú Toàn 洪秀全 | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Ảnh vẽ Hồng Tú Toàn vào khoảng năm 1860 | |||||||||
| Thái bình Thiên vương | |||||||||
| Tại vị | 11 tháng 1 năm 1851 – 1 tháng 6 năm 1864 (13 năm, 142 ngày) | ||||||||
| Tiền nhiệm | Sáng lập | ||||||||
| Kế nhiệm | Hồng Thiên Quý Phúc | ||||||||
| Thông tin chung | |||||||||
| Sinh | 1 tháng 1 năm 1814 | ||||||||
| Mất | 1 tháng 6 năm 1864 (50 tuổi) Thiên Kinh, Thái Bình Thiên quốc | ||||||||
| Hậu duệ | Thái Bình Thiên vương Hồng Thiên Quý Phúc Minh vương Hồng Thiên Minh Quang vương Hồng Thiên Quang | ||||||||
| |||||||||
| Tước vị | Thái Bình Thiên vương | ||||||||
| Hoàng tộc | Gia tộc Hồng | ||||||||
| Thân phụ | Hồng Cảnh Dương 洪競揚 | ||||||||
| Thân mẫu | Vương thị 王氏 | ||||||||
Hồng Tú Toàn (chữ Hán: 洪秀全, bính âm: Hóng xiù quán), tự là Hỏa Tú (火秀), xuất thân từ một gia đình người Khách Gia là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc chống lại triều đình Mãn Thanh. Ông tự xưng là Thiên Vương, thành lập ra Thái Bình Thiên Quốc và từng chiếm lĩnh nhiều vùng đất rộng lớn ở Đông-nam Trung Quốc. Ông tự xưng là em trai của Chúa Giêsu.
Tiểu sử
Hồng Tú Toàn sinh năm 1814 (cũng có tài liệu ghi 1813) trong một gia đình trung nông có 3 trai 1 gái ở thôn Phúc Nguyên Thủy (福源水村), huyện Hoa (花縣) (ngày nay là quận Hoa Đô, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông), Quảng Đông, Trung Quốc. Cha ông là Hồng Cảnh Dương (洪競揚) và mẹ ông là Vương thị (王氏). Ông học hành thông minh nhưng đi thi nhiều lần không đỗ. Ông sau đó chuyển đến sống tại thôn Quan Lộc (官祿㘵村). Sau đó ông đã kết hôn với Lại Tích Anh (賴惜英).
Hồng Tú Toàn bắt đầu học tại Thư Phòng các (书房阁) lúc bảy tuổi. Sau sáu năm, ông đã có thể đọc thuộc Tứ thư, Ngũ kinh. Vào lúc 15 tuổi, cha mẹ của ông không còn đủ khả năng để cho ông tiếp tục, do đó, ông trở thành một thầy giáo cho trẻ em trong làng của mình và tiếp tục học một mình. Năm 22 tuổi, vào năm 1836, ông đi thi Tú tài tại trường thi Quảng Châu, nhưng bị trượt. Ông thi lại bốn lần, nhưng không lần nào thành công. Điều này một phần là do không có tiền hối lộ cho các quan.
Hồng Tú Toàn sau đó trở thành một thục sư (塾师) tại Thư phòng các và một số trường học ở Liên Hoa Đường (莲花塘) và vài làng khác.
Sự nghiệp
Năm 1837, sau khi thi trượt lần thứ hai, Hồng Tú Toàn bị bệnh nặng và mơ thấy một ông vua đưa mình một thanh kiếm, đi diệt trừ Nhà Thanh đang khinh rẻ nông dân. Hồng Tú Toàn kể rằng trong giấc mơ ông cũng thấy một người trẻ tuổi hơn, ông gọi bằng anh. Bảy năm sau, vào năm 1843, tình cờ đọc cuốn Lời lành răn đời của Hội Truyền bá đạo Thiên Chúa xuất bản ở Quảng Châu, ông nhận ra trong giấc mơ của mình ông gặp được Thượng đế, cùng với Chúa Giê-xu, người mà ông gọi bằng anh. Sẵn có tâm lý không bằng lòng với chế độ khoa cử và những quy định bất công của triều đình nhà Thanh, ông đã lấy chủ nghĩa bình đẳng của đạo Thiên Chúa làm gốc, sáng lập ra đạo "Bái Thượng đế" để tập hợp người dân chống lại chính quyền.
Năm 1844, Hồng Tú Toàn đi truyền đạo. Đến năm 1850, ông phát động cuộc khởi nghĩa tại vùng núi tỉnh Quảng Tây. Sau khi giành được một số thắng lợi, ông tuyến bố thành lập chính quyền mới gọi là Thái Bình Thiên Quốc, tự xưng là Thiên vương và phân phong cho các tướng lĩnh. Thế lực của quân Hồng Tú Toàn rất mạnh, chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm họ đã chiếm được hết hơn 16 phủ, 600 huyện, làm triều đình nhà Thanh rung chuyển. Tháng 3 năm 1853, quân nổi dậy chiếm được thành phố quan trọng phía nam của Mãn Thanh là Nam Kinh. Hồng Tú Toàn đã quyết định đổi tên thành phố thành Thiên Kinh và lấy đó làm thủ đô của Thái Bình Thiên Quốc.
Nhưng Thái Bình Thiên Quốc đã không xây dựng những căn cứ vững chắc trong những vùng mình chiếm đóng. Bộ phận lãnh đạo phạm vào nhiều sai lầm về chính trị và quân sự. Năm 1856, Hồng Tú Toàn thủ tiêu một số tướng tá có thế lực của Thái Bình Thiên Quốc (trong đó có Đông vương Dương Tú Thanh, một viên tướng tài giỏi, thành phần cố nông) không ăn cánh với mình, làm cho lực lượng khởi nghĩa giảm sút đi nhiều.
Các nước tư bản phương Tây là Anh, Pháp, Hoa Kỳ lợi dụng sự rối ren hiện nay tại Trung Quốc, trước hết dùng vũ lực buộc triều đình Mãn Thanh khuất phục, khiến cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ 2 (1857-1860) xảy ra, sau đó tích cực giúp đỡ triều đình Mãn Thanh và tầng lớp địa chủ quan liêu vũ trang tấn công Thái Bình Thiên Quốc. Năm 1864, Thiên Kinh bị quân đội nhà Thanh và đội vũ trang của địa chủ quan liêu bao vây chặt. Quân đội và tàu chiến của Anh, Pháp, Hoa Kỳ cũng tham gia tấn công. Quân Thái Bình Thiên Quốc cùng với dân chúng trong thành chiến đấu dũng cảm. Ngày 1 tháng 6 năm 1864, khi thành Thiên Kinh sắp thất thủ, Hồng Tú Toàn đã tự vẫn.
Tác phẩm văn chương
Bài thơ sau đây, bài thơ có tiêu đề là Thuật chí thi (述志詩), được viết vào năm 1837 bởi Hồng Tú Toàn, minh họa suy nghĩ tôn giáo của mình và mục đích mà sau này dẫn đến việc thành lập Thái Bình Thiên Quốc.
Nguyên văn chữ Hán | Dịch Hán Việt |
Gia quyến
Cha mẹ
- Thân phụ: Hồng Kính Dương (洪鏡揚), sau đổi tên thành Hồng Nhân Liên (洪仁蓮).
- Thân mẫu: Vương thị (王氏)
Thê thiếp
Sau khi Hồng Tú Toàn lập quốc, thê thiếp của ông gồm 88 người đều được gọi là Vương nương (王娘). Ông loại bỏ chế độ hậu phi sẵn có, thiết lập cho địa vị chính thê là Chinh Đông cung (正東宮), còn gọi Thiên thê (天妻), còn bình thê là Hựu Chinh Đông cung (又正東宮). Trên thực tế, ông tự xưng đã cưới người trên trời, tức Thiên thê, vì vậy người vợ "ở dưới trần" là Lại Liên Anh chỉ là bình thê mà thụ phong. Sau này, Hồng Tú Toàn ví mình là Mặt Trời, nữ nhân của mình là Mặt Trăng nên đã đổi Đông cung (東宮) thành Nguyệt cung (月宮). Về sau, tất cả những người còn sống đều bị xử tử năm 1864 bởi quân đội nhà Thanh.
- Nguyên phối Lại Liên Anh (賴蓮英, ? - 1864), người Hoa huyện, Quảng Đông, em gái tướng Lại Hán Anh (賴漢英), sinh một con trai và hai con gái. Được phong Hựu Chính Nguyệt cung (又正月宮), sau lại thăng Hữu Bát Trọng Thiên Tối Sơ Thiên Quân (又八重天最初天軍), từng có mâu thuẫn với sủng thiếp Dư thị nên bị Hồng Tú Toàn cấm túc trong cung. Can thiệp chính sự từ năm 1861, sau khi Nam Kinh thất thủ thì bị bắt và xử lăng trì ở Trấn Giang, có thuyết là bà trầm mình tự sát.
- Dư thị (余氏), phong Đệ tứ Hữu Nguyệt cung (副月宮第四), sau thăng Đệ nhất vị, tương truyền là người được Hồng Tú Toàn sủng ái bậc nhất, về sau tuẫn tiết.
- Trần thị (陈氏, 1840 - 1864), người Tô Châu, phong Đệ thập nhị Phó Nguyệt cung (第十二副月宮), sau thăng Đệ nhị vị, sinh nhị tử và tứ nữ. Là người có học thức, chuyên trách việc chép lại các "Thiên huấn" và quản lý các sổ sách chi tiêu trong hậu cung, về sau tử nạn trong loạn quân.
- Phùng thị (冯氏), em gái tướng Phùng Văn Sơn (馮雲山), sơ phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), sau phong Đệ lục vị Phó Nguyệt cung (第六位副月宮), sau thắt cổ tự sát.
- Thẩm thị (沈氏), người Hàng Châu, nhan sắc xinh đẹp, có tài văn chương, phong Đệ thất vị Phó Nguyệt cung (第七位副月宮).
- Ngô thị (吴氏), người Lưỡng Quảng, phong Đệ thập cửu Phó Nguyệt cung (第十九副月宮), sinh tam tử.
- Hàn thị (韓氏), vốn không rõ họ, phong Đệ nhị thập Phó Nguyệt cung (第二十副月宮), sinh ngũ nữ.
- Hoàng thị (黃氏), người Khách Gia, sinh tứ tử, phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự, xử lăng trì ở Trấn Giang.
- Mỗ thị, người Khách Gia, phong Đệ nhị thập nhất vị Hựu Phó Nguyệt cung (第二十一位又副月宮), tuẫn tiết.
- Mỗ thị, phong Đệ thập tam vị Hựu Phó Nguyệt cung (第三十三位右副月宮), chịu trách nhiệm bồi dưỡng các hoàng tử.
- Lư thị (盧氏), phong Đệ tam thập lục vị Hựu Phó Nguyệt cung (第三十六位右副月宮), tuẫn tiết.
- Mỗ thị, người Giang Tây, phong Đệ ngũ thập ngũ vị Hựu Phó Nguyệt cung (第五十五位右副月宮), tuẫn tiết.
- Tô thị (蘇氏), tên Tô Phượng Anh (蘇鳳英), phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự.
- Đỗ thị (杜氏), phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự, về sau không rõ tung tích.
- Trình thị (程氏), người An Huy, phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự, chết trong loạn quân.
- Phan thị (潘氏), người Bà Dương, phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự.
- Châu thị (周氏), phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự.
- Tào thị (曹氏), phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự.
- Trương thị (張氏), phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự.
- Lý thị (李氏), sau được đổi họ Hàn, phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự.
- Hai chị em Lại thị (賴氏), em gái trong họ của Lại Liên Anh, phong Hựu Phó Nguyệt cung (又副月宮), không rõ thứ tự.
Con cái
Con trai
- Trưởng tử Hồng Thiên Quý Phúc, mẹ là Lại Liên Anh. Kế vị từ cha, sau bị nhà Thanh xử lăng trì.
- Nhị tử Hồng Thiên Tằng (洪天曾, 1852 - 1853), mẹ là Trần thị, chết yểu.
- Tam tử Hồng Thiên Minh (洪天明, 14/11/1854 - 1860), mẹ là Ngô thị. Được phong Minh vương (明王), chết yểu.
- Tứ tử Hồng Thiên Quang (洪天光, 1854 - 1860?), mẹ là Hoàng thị. Được phong Quang vương (光王), không rõ hậu sự.
- Ngũ tử Hồng Thiên Hựu (洪天佑, ? - 1864), mẹ không rõ. Được phong Ấu Đông vương (幼东王), nhận Dương Tú Thanh là cha nuôi, sau được Hồng Tú Toàn gọi là "Thiên Hựu tử chất" (天佑子侄), sau bị giết tại cầu Nhai Thục.
Con gái
- Trưởng nữ Hồng Thiên Giảo (洪天姣, 1839 - ?), mẹ là Lại Liên Anh. Tôn xưng Thiên trưởng kim (天長金), lấy Chung Vạn Tín (钟万信).
- Nhị nữ, tôn xưng Thiên nhị kim (天二金), lấy Từ Lãng (徐朗).
- Tam nữ, mẹ là Phùng thị.
- Tứ nữ, tôn xưng Thiên tứ kim (天四金), mẹ là Trần thị, lấy Hoàng Đống Lương (黄栋梁).
- Ngũ nữ, mẹ là Hàn thị, lấy Hoàng Văn Đồng (黄文胜).
- Lục nữ không có ghi chép
- Thất nữ không có ghi chép
- Bát nữ, tôn xưng Thiên bát kim (天八金), không rõ hôn sự.
Nhận định
Geoffrey Parker, trong The Cambridge History of China, nhận xét về Thái Bình Thiên Quốc:
"Cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn không chỉ là một cuộc nổi dậy chống lại triều đình nhà Thanh mà còn là một sự thử nghiệm lớn về tôn giáo, chính trị và quân sự. Tuy nhiên, khởi nghĩa này đã thất bại, không chỉ vì sức mạnh quân sự của nhà Thanh mà còn do những bất đồng nội bộ và khả năng lãnh đạo yếu kém."
Trần Trọng Kim trong Lịch sử Việt Nam cũng có nhận xét về cuộc khởi nghĩa này khi bàn về tác động của nó trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam:
"Cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc tuy không thành công ở Trung Quốc, nhưng những ảnh hưởng của nó lại lớn lao đối với các phong trào cải cách và chống lại các triều đại phong kiến ở các quốc gia lân cận, trong đó có Việt Nam."
Nguồn tham khảo
- In Chinese:余杰:读潘旭澜著《太平杂说》 Lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2009 tại Wayback Machine
- Google translation
- Tiếng Trung:撕下历史的"面膜"——读潘旭澜教授《太平杂说》 Lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2009 tại Wayback Machine
- Google translation
- (tiếng Anh) Truyện tranh Hồng Tú Toàn
- (tiếng Trung) 洪秀全漫画
Tham khảo
Liên kết ngoài
- 紀念館 (The Memorial Museum)[liên kết hỏng] (in Chinese) with a picture of Hong's huge longan tree.