Bước tới nội dung

Grampus (lớp tàu ngầm)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm HMS Porpoise, một chiêc tiêu biểu của lớp Grampus
Khái quát lớp tàu
Tên gọilớp Grampus
Bên khai thác
Lớp trướcLớp River
Lớp saulớp T
Thời gian đóng tàu1931-1938
Thời gian hoạt động1933-1945
Dự tính9
Hoàn thành6
Hủy bỏ3
Bị mất5
Nghỉ hưu1
Đặc điểm khái quát
Kiểu tàutàu ngầm Diesel-điện
Trọng tải choán nước
Chiều dài293 ft (89,3 m)[1]
Sườn ngang25 ft 6 in (7,8 m)
Mớn nước16 ft 10 in (5,13 m)[1]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Độ sâu thử nghiệm300 foot (91 m)
Thủy thủ đoàn tối đa59[1]
Vũ khí

Lớp Grampus, đôi khi còn được gọi là lớp Porpoise theo tên chiếc nguyên mẫu HMS Porpoise, là một lớp tàu ngầm rải mìn được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo vào giữa thập niên 1930. Sau chiếc HMS Porpoise được đóng vào năm 1932, năm chiếc khác với thiết kế cải tiến được chế tạo từ năm 1936 đến năm 1938, tất cả đều được đặt tên theo các sinh vật biển. Lớp Grampus đã tham gia hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và chịu tổn thất nặng khi có đến năm chiếc bị đối phương đánh chìm hay chiếm được, và chỉ có một chiếc duy nhất sống sót qua cuộc xung đột trước khi bị tháo dỡ.

Lịch sử

Nhằm mục đích thử nghiệm khả năng rải mìn của tàu ngầm, vào năm 1927, Hải quân Anh đã cải biến chiếc tàu ngầm lớp M HMS M3 thành một tàu ngầm rải mìn. Vỏ ngoài được cấu trúc lại để mang hai đường ray hai bên lườn áp lực, có thể mang tổng cộng 100 quả thủy lôi tiếp xúc Type B, và được thả qua một cửa lớn phía đuôi tàu. Ưu điểm cũng như những hạn chế của chiếc M3 đã được áp dụng trong việc thiết kế chiếc HMS Porpoise, nguyên mẫu của lớp Grampus, được chế tạo vào năm 1932.[2]

Thiết kế

Hình dạng bên ngoài của lớp Grampus gần tương tự với lớp tàu ngầm tuần dương Parthian, nhưng hẹp hơn và có trọng lượng choán nước nặng hơn,[2] lên đến 1.810 tấn Anh (1.840 t) khi nổi và 2.157 tấn Anh (2.192 t) khi lặn, lườn tàu dài 293 ft (89 m), mạn tàu rộng 25 ft 6 in (7,77 m) và mớn nước sâu 16 ft 10 in (5,13 m).[1] Các con tàu được trang bị hai động cơ diesel công suất 3.300 bhp (2.500 kW), cùng hai động cơ điện công suất 1.650 mã lực (1.230 kW), cho phép đạt tốc độ tối đa 15,5 kn (28,7 km/h) khi nổi và 8,75 kn (16,21 km/h) khi đi ngầm dưới nước.[1] Chúng có khả năng lặn sâu đến 300 ft (91 m), và thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 59 sĩ quan và thủy thủ.[1]

Lớp Grampus được trang bị sáu ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) ở phía mũi tàu, và mang theo tổng cộng 12 ngư lôi. Trên boong tàu có một khẩu hải pháo QF 4 inch (101,6 mm) Mk XII cùng hai súng máy.[1] Có tổng cộng 50 quả thủy lôi được mang theo trên hai đường ray đặt bên ngoài lườn áp lực.[2]

Lịch sử hoạt động

Sau khi Hải quân Hoàng gia chế tạo ra kiểu thủy lôi có thể thả qua ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), không còn nhu cầu về một kiểu tàu ngầm chuyên rải mìn. Tuy nhiên, những chiếc lớp Grampus vẫn tỏ ra rất hữu ích trong vai trò vận tải, đặc biệt là trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi đã thực hiện nhiều chuyến vận chuyển hàng tiếp liệu đến Malta đang bị phe Trục phong tỏa.[2]

Trong chiến tranh, lớp Grampus chịu đựng một tỉ lệ tổn thất rất cao, khi có đến 5 trong tổng số số 6 chiếc của lớp bị đối phương đánh chìm hay chiếm được. Chỉ có HMS Rorqual sống sót qua cuộc xung đột, và được tháo dỡ sau chiến tranh.[1]

Những chiếc trong lớp

Tên (số hiệu)Xưởng đóng tàuĐặt lườnHạ thủyNhập biên chếSố phận
Porpoise (N14)Vickers, Barrow22 tháng 9, 193130 tháng 8, 193211 tháng 3, 1933Bị máy bay Nhật đánh chìm trong eo biển Malacca, 16 tháng 1, 1945
Grampus (N56)Xưởng tàu Chatham20 tháng 8, 193425 tháng 2, 193610 tháng 3, 1937Bị các tàu phóng lôi Ý CirceClio đánh chìm ngoài khơi Sicilia, 16 tháng 6, 1940
Narwhal (N45)Vickers, Barrow29 tháng 5, 193429 tháng 8, 193528 tháng 2, 1936Bị máy bay Đức đánh chìm ngoài khơi Na Uy, 30 tháng 7, 1940
HMS P411
HMS P412
HMS P413
Bị hủy bỏ
Rorqual (N74)Vickers, Barrow1 tháng 5, 193521 tháng 7, 193610 tháng 2, 1937Bị bán để tháo dỡ, 17 tháng 3, 1946.
Cachalot (N83)Scotts12 tháng 5, 19362 tháng 12, 193715 tháng 8, 1938Bị tàu phóng lôi Ý Generale Achille Papa đánh chìm ngoài khơi Cyrenaica, 30 tháng 7, 1941
Seal (N37)Xưởng tàu Chatham9 tháng 12, 193627 tháng 9, 193824 tháng 5, 1939Bị Đức chiếm tại Kattegat, 4 tháng 5, 1940;
hoạt động cùng Hải quân Đức như chiếc UB;
bị đánh đắm 3 tháng 5, 1945

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Helgason, Guðmundur. "Porpoise class – Technical information". U-boat Types - uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  2. 1 2 3 4 Hillbeck, W. "1930-1946: Grampus Class". RN Subs – In Association with the Barrow Submariners Association (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.

Thư mục

  • Brown, D.K. (2006). Nelson to Vanguard: Warship Development, 1923–1945. London: Naval Institute Press. ISBN 978-1591146025.
  • Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.

Liên kết ngoài