Chủ nghĩa đế quốc truyền thông
Chủ nghĩa đế quốc truyền thông (media imperialism) là một lĩnh vực trong truyền thống nghiên cứu kinh tế chính trị học truyền thông quốc tế tập trung vào cách thức mà "tất cả các đế chế, dưới hình thức lãnh thổ hoặc phi lãnh thổ, đều dựa vào các công nghệ truyền thông và các ngành công nghiệp truyền thông đại chúng để mở rộng và củng cố ảnh hưởng kinh tế, địa chính trị và văn hóa của họ".[1] Nói chung, hầu hết các nghiên cứu về chủ nghĩa đế quốc truyền thông xem xét cách thức các mối quan hệ bất bình đẳng về quyền lực kinh tế, quân sự và văn hóa giữa một quốc gia đế quốc và những quốc gia tiếp nhận ảnh hưởng của nó có xu hướng được thể hiện và duy trì bởi các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là truyền thông phương Tây và các ngành công nghiệp văn hóa. Vào những năm 1970, nghiên cứu về chủ nghĩa đế quốc truyền thông chủ yếu quan tâm đến sự bành trướng của các tập đoàn tin tức và giải trí, mô hình kinh doanh và sản phẩm có trụ sở tại Hoa Kỳ vào các quốc gia hậu thuộc địa có liên quan đến các vấn đề về truyền thông và chủ quyền truyền thông, sự hình thành bản sắc quốc gia và nền dân chủ. Vào thế kỷ XXI, nghiên cứu về chủ nghĩa đế quốc truyền thông thăm dò toàn bộ phạm vi của truyền thông, chẵng hạn như, cách thức sự bành trướng và hợp pháp hóa về kinh tế, quân sự và văn hóa toàn cầu của một đế chế được hỗ trợ, hậu thuẫn từ "tin tức, viễn thông, phim ảnh và truyền hình, quảng cáo và quan hệ công chúng, âm nhạc, trò chơi tương tác, và các nền tảng internet cùng các trang mạng xã hội".[2]
Đại cương
Khái niệm về chủ nghĩa đế quốc truyền thông xuất hiện vào những năm 1970, mặc dù ngay cả trước đó đã có những phong trào bắt đầu chống lại ý tưởng về chủ nghĩa đế quốc truyền thông. Trong suốt 70 năm qua, nghiên cứu về chủ nghĩa đế quốc truyền thông đã được thực hiện do công của nhiều học giả nghiên cứu về truyền thông và phương tiện truyền thông quốc tế, ở cả Bắc bán cầu và Nam bán cầu.[3] Một số nhà nghiên cứu chủ chốt trong lĩnh vực này có thể kể đến là Oliver Boyd-Barrett,[2][4][5] Luis Beltrán và Elizabeth Fox,[6] Ariel Dorfman,[7] Thomas Guback,[8] Cees Hamelink,[9] Dal Yong Jin,[10][11] Armand Mattelart,[12][13] Robert McChesney,[14] Tom McPhail,[15] Toby Miller và Richard Maxwell,[16] Tanner Mirrlees,[1][2][17][18] David Morley,[19] Graham Murdock,[20] Kaarle Nordenstreng,[21] Herbert Schiller,[22][23][24][25] Dallas Smythe,[26] Colin Sparks,[27][28] Daya Thussu,[29][30] và Jeremy Tunstall.[31][32]
Năm 1961, Phong trào Không liên kết bắt đầu như một nhóm các quốc gia không liên kết chính thức với hoặc chống lại bất kỳ khối quyền lực lớn nào. Các quốc gia này thúc đẩy một "con đường trung đạo" (Middle course) về truyền thông cho các quốc gia ở thế giới đang phát triển và các quốc gia ở khối phương Tây và phương Đông, và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Sau đó, vào những năm 1970, các nhà lãnh đạo chính trị, các nhà sản xuất truyền thông và một số công dân ở các quốc gia hậu thuộc địa bắt đầu chỉ trích quyền sở hữu và sự kiểm soát mà các tập đoàn truyền thông phương Tây và Mỹ nắm giữ đối với phần lớn hệ thống truyền thông và phương tiện đại chúng toàn cầu. Vào năm 1970, có một sự chênh lệch lớn (khoảng 1:10) trong luồng tin tức giữa các nước đang phát triển và các nước ở phương Tây. Các quốc gia Không liên kết tin rằng có một sự độc quyền ở phương Tây đối với tin tức, thông tin và truyền thông. Đại diện của các nước hậu thuộc địa đã đề xuất một Trật tự Truyền thông và Thông tin Thế giới Mới (NWICO) tại UNESCO để tranh luận và đối trọng lại các quyền lực truyền thông và phương tiện đại chúng toàn cầu đang ngày càng mở rộng và lâu dài của các quốc gia đế quốc cũ và mới (chẵng hạn như tại Vương quốc Anh và Hoa Kỳ).
Được hỗ trợ từ báo cáo MacBride, "Nhiều Tiếng nói, Một Thế giới" (Many Voices, One World), các quốc gia như Ấn Độ, Indonesia và Ai Cập lập luận rằng các tập đoàn truyền thông lớn của phương Tây và Mỹ nên bị hạn chế quyền truy cập vào các hệ thống truyền thông và phương tiện đại chúng non trẻ của các quốc gia hậu thuộc địa. Họ lập luận rằng chủ quyền văn hóa và truyền thông quốc gia là một phần không thể thiếu đối với các dự án phát triển kinh tế, xã hội và chủ quyền quốc gia rộng lớn hơn của họ. Mục tiêu của NWICO là tạo ra các luồng tin tức cân bằng, các hệ thống truyền thông có chủ quyền và sự đa dạng văn hóa. Mỹ và Anh nhấn mạnh vào "sự lưu thông tự do" của thông tin và các mối quan hệ thị trường không bị hạn chế trong các quy trình truyền thông. Nhưng, một số nước phương Tây, Xã hội chủ nghĩa và Thế giới thứ ba đã diễn giải ý tưởng "lưu thông tự do" như một cách để Hoa Kỳ thống trị truyền thông. Do đó, họ thúc đẩy ý tưởng về một "luồng thông tin tự do và cân bằng". Kết quả của việc này là vào năm 1985, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đã rời khỏi UNESCO với lý do về sự kiểm duyệt và kiểm soát tự do báo chí. Cuối cùng NWICO sụp đổ và Mỹ đã gia nhập lại UNESCO vào năm 2002 dưới thời tổng thống Bush con.
Luận điểm
Chủ nghĩa đế quốc truyền thông và chủ nghĩa đế quốc văn hóa là những ý tưởng có liên quan với nhau, nhưng chúng mô tả những động lực khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc truyền thông tập trung vào cách các luồng truyền thông toàn cầu tạo ra sự mất cân bằng quyền lực, với một số ít các quốc gia thống trị kiểm soát các mạng lưới truyền thông lớn, các ngành công nghiệp truyền thông và sự lưu thông thông tin xuyên biên giới. Nó làm nổi bật các vấn đề như sự tập trung quyền sở hữu, hệ thống phân phối và ảnh hưởng của các tập đoàn truyền thông xuyên quốc gia. Mặt khác, chủ nghĩa đế quốc văn hóa là một khái niệm rộng hơn đề cập đến sự lây lan và bình thường hóa các giá trị, niềm tin và thực hành của một nền văn hóa theo những cách có thể làm lu mờ hoặc thay thế các nền văn hóa địa phương. Mặc dù truyền thông thường là một kênh chính thông qua đó ảnh hưởng này xảy ra, chủ nghĩa đế quốc văn hóa cũng liên quan đến các lĩnh vực như ngôn ngữ, giáo dục, hàng tiêu dùng và các thể chế chính trị hoặc kinh tế. Bằng cách này, chủ nghĩa đế quốc truyền thông có thể được hiểu là một cơ chế cụ thể trong quá trình rộng lớn hơn của chủ nghĩa đế quốc văn hóa.
Trong tác phẩm Mass Communication and American Empire (Truyền thông đại chúng và Đế quốc Mỹ), Herbert I. Schiller đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng và các ngành công nghiệp văn hóa đối với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, lập luận rằng "mỗi một sự phát triển điện tử mới đều mở rộng chu vi ảnh hưởng của Mỹ", và tuyên bố rằng "sức mạnh của Mỹ, được thể hiện về mặt công nghiệp, quân sự và văn hóa đã trở thành thế lực hùng mạnh nhất trên trái đất và truyền thông đã trở thành một yếu tố quyết định trong việc mở rộng sức mạnh thế giới của Hoa Kỳ". Trong cuốn sách năm 1976 của ông có tựa đề Communication and Cultural Domination (Truyền thông và Sự Thống trị Văn hóa), Schiller đã truyền tải định nghĩa đầu tiên về chủ nghĩa đế quốc văn hóa, mô tả nó là: Tổng hợp các quá trình mà qua đó một xã hội được đưa vào hệ thống thế giới hiện đại [lấy Hoa Kỳ làm trung tâm] và cách tầng lớp thống trị của nó bị thu hút, gây áp lực, ép buộc và đôi khi bị mua chuộc để định hình các thể chế xã hội sao cho tương ứng với, hoặc thậm chí thúc đẩy, các giá trị và cấu trúc của các trung tâm thống trị của hệ thống. Các phương tiện truyền thông đại chúng là ví dụ hàng đầu về các doanh nghiệp hoạt động được sử dụng trong quá trình thâm nhập.
Đối với sự thâm nhập ở quy mô đáng kể, bản thân các phương tiện truyền thông phải bị thâu tóm bởi quyền lực thống trị/thâm nhập. Điều này xảy ra chủ yếu thông qua việc thương mại hóa phát thanh truyền hình.Đối với Schiller, chủ nghĩa đế quốc văn hóa đề cập đến "các cơ quan cưỡng chế và thuyết phục của Đế quốc Mỹ, và khả năng của họ trong việc thúc đẩy và phổ quát hóa lối sống của Mỹ ở các quốc gia khác mà không có bất kỳ sự đền đáp nào về ảnh hưởng". Theo Schiller, chủ nghĩa đế quốc văn hóa đã "gây áp lực, ép buộc và mua chuộc" các xã hội để hội nhập với mô hình tư bản chủ nghĩa bành trướng của Hoa Kỳ nhưng cũng kết hợp chúng bằng sự thu hút và thuyết phục bằng cách giành được "sự đồng thuận chung, thậm chí là sự khẩn cầu của các nhà cai trị bản địa". Ở một số khía cạnh, định nghĩa ban đầu của Schiller về chủ nghĩa đế quốc văn hóa cũng tương tự như ý tưởng gần đây hơn của Joseph Nye về quyền lực mềm trong quan hệ quốc tế.[33] Bối cảnh lịch sử, sự lặp lại, tính phức tạp và chính trị của việc lý thuyết hóa nền tảng và thực chất của Schiller về chủ nghĩa đế quốc văn hóa trong các nghiên cứu truyền thông và phương tiện đại chúng quốc tế được thảo luận chi tiết bởi các nhà nghiên cứu kinh tế chính trị học của truyền thông Richard Maxwell,[34] Vincent Mosco,[35] Graham Murdock,[20] và Tanner Mirrlees.[36]
Năm 1977, Oliver Boyd-Barrett đã mô tả chủ nghĩa đế quốc truyền thông như là mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng và bất đối xứng giữa các quốc gia khác nhau và hệ thống truyền thông của họ. Boyd-Barrett định nghĩa chủ nghĩa đế quốc truyền thông là "một quá trình theo đó quyền sở hữu, cấu trúc, phân phối hoặc nội dung của phương tiện truyền thông ở bất kỳ một quốc gia nào bị lệ thuộc một cách riêng lẻ hoặc cùng nhau vào áp lực đáng kể từ các lợi ích truyền thông của bất kỳ quốc gia hoặc các quốc gia nào khác mà không có sự đền đáp tương xứng về ảnh hưởng của quốc gia bị tác động như vậy".[5] Boyd-Barrett nhấn mạnh cách các tập đoàn sở hữu phương tiện truyền thông đại chúng ở các quốc gia đế quốc như Hoa Kỳ (nhưng không chỉ riêng Hoa Kỳ) cũng đang thực thi quyền sở hữu đối với phương tiện truyền thông đại chúng ở các quốc gia nhỏ hơn trong khi định hình các "mô hình", tiêu chuẩn sản xuất và định dạng kinh doanh truyền thông của họ.[37] Từ cuối những năm 1970 đến những năm 2020, Boyd-Barrett đã là tác giả và biên tập viên của nhiều cuốn sách cùng các ấn phẩm về sự liên tục và thay đổi trong chủ nghĩa đế quốc truyền thông.[2][38][39]
Vào năm 1987, Tom McPhail đã định nghĩa chủ nghĩa đế quốc văn hóa là "chủ nghĩa thực dân điện tử",[40] hoặc, "mối quan hệ phụ thuộc được thiết lập bởi việc nhập khẩu phần cứng truyền thông, phần mềm do nước ngoài sản xuất, cùng với các kỹ sư, kỹ thuật viên và các giao thức thông tin liên quan, thiết lập nên một tập hợp các chuẩn mực, giá trị và kỳ vọng của nước ngoài, ở các mức độ khác nhau, có thể làm thay đổi các nền văn hóa và quá trình xã hội hóa trong nước".[41] Vào năm 1988, Paul Siu-Nam Lee đã quan sát thấy rằng "chủ nghĩa đế quốc truyền thông có thể được định nghĩa là quá trình mà quyền sở hữu và quyền kiểm soát phần cứng và phần mềm của các phương tiện truyền thông đại chúng cũng như các hình thức truyền thông lớn khác ở một quốc gia bị khuất phục một cách riêng lẻ hoặc cùng nhau dưới sự thống trị của một quốc gia khác với những tác động có hại đối với các giá trị, chuẩn mực và văn hóa bản địa".
Năm 1995, John Downing và Annabelle Sreberny-Mohammadi cho biết: "Chủ nghĩa đế quốc là việc một nước mạnh hơn chinh phục và kiểm soát một nước khác. Chủ nghĩa đế quốc văn hóa biểu thị các chiều kích của quá trình vượt ra ngoài sự bóc lột kinh tế hoặc lực lượng quân sự. Trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân, (tức là hình thức của chủ nghĩa đế quốc trong đó chính quyền của thuộc địa được điều hành trực tiếp bởi người nước ngoài), hệ thống giáo dục và truyền thông của nhiều quốc gia Thế giới thứ ba đã được thiết lập như những bản sao của những hệ thống ở Anh, Pháp hoặc Hoa Kỳ và mang theo các giá trị của họ. Quảng cáo phương Tây đã thâm nhập sâu hơn, cũng như các phong cách kiến trúc và thời trang. Một cách tinh vi nhưng mạnh mẽ, thông điệp thường được đưa vào rằng văn hóa phương Tây vượt trội hơn văn hóa của Thế giới thứ ba". Các nhà nghiên cứu về nghiên cứu truyền thông và phương tiện đại chúng quốc tế này đều đồng ý rằng chủ nghĩa đế quốc văn hóa được thực hiện bởi các quốc gia đế quốc thống trị hệ thống thế giới bằng và thông qua các phương tiện truyền thông và truyền thông đại chúng sẵn có và mới, và thường gây bất lợi cho các quốc gia ở đầu tiếp nhận của quá trình này.
Vào năm 2016, Tanner Mirrlees đã định nghĩa lại chủ nghĩa đế quốc truyền thông trong một nghiên cứu lịch sử về cách thức Nhà nước an ninh quốc gia Hoa Kỳ hợp tác với các tập đoàn truyền thông có trụ sở tại Hoa Kỳ nhưng đang toàn cầu hóa để truyền bá hàng hóa văn hóa và truyền thông nhằm tổ chức sự đồng thuận xuyên quốc gia đối với chính sách đối ngoại của Mỹ.[42] Dựa trên nền tảng của các học giả về kinh tế chính trị học của truyền thông của Herbert I. Schiller, Mirrlees lập luận rằng mặc dù chính phủ Hoa Kỳ và các tập đoàn truyền thông theo đuổi những lợi ích khác nhau trên trường thế giới (chính phủ Hoa Kỳ vì an ninh quốc gia, và các tập đoàn truyền thông vì lợi nhuận), họ thường hợp tác để hỗ trợ việc đồng sản xuất và phân phối-trình chiếu toàn cầu đối với các loại hàng hóa văn hóa đại chúng và truyền thông ca ngợi Đế quốc. Mirrlees tập trung vào bốn khía cạnh của chủ nghĩa đế quốc truyền thông gồm:[1]
- Một liên minh mang tính cấu trúc và mối quan hệ cộng sinh giữa quốc gia-dân tộc Hoa Kỳ (theo đuổi các lợi ích địa chính trị của mình trong các vấn đề thế giới) và các ngành công nghiệp văn hóa và truyền thông có trụ sở tại Hoa Kỳ (theo đuổi các lợi ích kinh tế của họ trên thị trường thế giới);
- Sự hỗ trợ địa chính trị của quốc gia-dân tộc Hoa Kỳ đối với sự thống trị kinh tế xuyên quốc gia của các ngành công nghiệp văn hóa và truyền thông có trụ sở tại Hoa Kỳ;
- Sự hỗ trợ của các ngành công nghiệp văn hóa và truyền thông Hoa Kỳ đối với các chiến dịch tuyên truyền, "quyền lực mềm" và ngoại giao công chúng quốc tế của quốc gia-dân tộc Hoa Kỳ ở các quốc gia khác; và,
- Các sản phẩm văn hóa và truyền thông của Mỹ có các thông điệp và hình ảnh vô tình hay cố ý có chức năng tôn vinh và hợp pháp hóa Đế quốc Hoa Kỳ. Mặc dù nghiên cứu của Mirrlees tập trung vào tính đặc thù của chủ nghĩa đế quốc truyền thông Mỹ và vai trò của các ngành công nghiệp văn hóa và truyền thông đối với sức mạnh kinh tế, quân sự và văn hóa-ý thức hệ của Hoa Kỳ, bốn khía cạnh của chủ nghĩa đế quốc truyền thông mà nó xác định có thể được nhìn thấy rõ ràng trong các thực tiễn của các cường quốc đế quốc cũ và mới khác.
Vào năm 2015, Dal Yong Jin đã mở rộng khái niệm chủ nghĩa đế quốc truyền thông để bao hàm quyền lực toàn cầu ngày càng tăng của các tập đoàn nền tảng mạng xã hội và Internet có trụ sở tại Hoa Kỳ như Google, Apple, Facebook. Jin lập luận rằng một số ít các tập đoàn có trụ sở tại "các quốc gia phương Tây là những nhà điều hành và chủ sở hữu nền tảng kỹ thuật số thống trị thế giới và một số lượng lớn các quốc gia phi phương Tây là người dùng nền tảng kỹ thuật số".[43] Trong cuốn sách Digital Platforms, Imperialism and Political Culture (Các nền tảng kỹ thuật số, Chủ nghĩa đế quốc và Văn hóa Chính trị), Jin khái niệm hóa "chủ nghĩa đế quốc nền tảng" như là "một mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau mang tính bất đối xứng giữa phương Tây, chủ yếu là Hoa Kỳ, và nhiều quốc gia đang phát triển".[44] Mối quan hệ nền tảng bất đối xứng này giữa Hoa Kỳ và phần còn lại "được đặc trưng một phần bởi các trao đổi công nghệ không bình đẳng và do đó là dòng vốn" và phản ánh "sự thống trị về mặt công nghệ và biểu tượng của các nền tảng có trụ sở tại Hoa Kỳ vốn đã ảnh hưởng lớn đến phần lớn người dân và các quốc gia".
Phê bình
Những người chỉ trích lý thuyết chủ nghĩa đế quốc truyền thông đã xuất hiện từ đầu những năm 1980.[45] Thông thường, những người chỉ trích lý thuyết chủ nghĩa đế quốc truyền thông có xu hướng bác bỏ hoặc phủ nhận sự tồn tại của chủ nghĩa đế quốc truyền thông, hoặc ngược lại, đưa ra một sự siêu phê phán (meta-critique) đối với một hoặc nhiều tuyên bố và khẳng định được đưa ra bởi các học giả có liên quan đến lý thuyết chủ nghĩa đế quốc truyền thông. Theo tóm tắt của Tanner Mirrlees trong Global Entertainment Media: Between Cultural Imperialism and Cultural Globalization (Truyền thông Giải trí Toàn cầu: Giữa Chủ nghĩa Đế quốc Văn hóa và Toàn cầu hóa Văn hóa),[46] những người chỉ trích lý thuyết chủ nghĩa đế quốc truyền thông có xu hướng đưa ra một hoặc nhiều luận điểm sau đây khi bác bỏ lý thuyết chủ nghĩa đế quốc truyền thông hoặc chỉ trích nó để làm phức tạp thêm hoặc sửa đổi theo một cách nào đó, gồm:
- Hoa Kỳ không phải là một cường quốc đế quốc, do đó chủ nghĩa đế quốc truyền thông không tồn tại;
- Các quốc gia hậu thuộc địa như Trung Quốc và Ấn Độ là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn truyền thông lớn và đang quốc tế hóa; ý tưởng cho rằng các quốc gia hậu thuộc địa là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc truyền thông lấy Hoa Kỳ làm trung tâm là quá đơn giản và không phù hợp trong thế kỷ XXI
- Mối quan hệ thương mại văn hóa và truyền thông giữa Hoa Kỳ và các quốc gia khác có thể không cân bằng, nhưng có nhiều hơn một dòng chảy một chiều của các sản phẩm văn hóa và truyền thông từ Hoa Kỳ đến phần còn lại: trong khi Hoa Kỳ xuất khẩu rất nhiều phương tiện truyền thông ra thế giới, nước này cũng nhập khẩu các phương tiện truyền thông từ thế giới, cho thấy luồng lưu thông hai chiều hoặc đa chiều của hàng hóa truyền thông.
- Người tiêu dùng trên khắp thế giới không bị ép buộc hay cưỡng bức phải xem, nghe và đọc các sản phẩm văn hóa và truyền thông của Hoa Kỳ; họ có thể lựa chọn và chọn những hàng hóa "nước ngoài" này thay vì các phương tiện truyền thông "trong nước" hoặc do quốc gia sản xuất và cung cấp
- Các văn bản của các sản phẩm văn hóa và truyền thông Hoa Kỳ không truyền đạt một hệ tư tưởng đế quốc Mỹ một chiều cho thế giới; chúng cung cấp vô số các câu chuyện kể cạnh tranh nhau về nước Mỹ, cả mặt tốt lẫn mặt xấu
- Bối cảnh tiếp nhận ở cấp địa phương và quốc gia đối với các sản phẩm văn hóa và truyền thông Hoa Kỳ rất phức tạp, vì người tiêu dùng đưa ra nhiều cách diễn giải khác nhau về truyền thông Hoa Kỳ và đôi khi điều chỉnh chúng cho phù hợp với môi trường văn hóa của địa phương và quốc gia của họ
- Giới tinh hoa chính trị và doanh nghiệp ở các quốc gia được cho là bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa đế quốc truyền thông của Hoa Kỳ có thể vũ khí hóa khái niệm này cho các mục đích chính trị: kiểm duyệt những ý tưởng không mong muốn hoặc có tính lật đổ để duy trì các chế độ tuyên truyền quốc gia, bảo vệ các tập đoàn truyền thông quốc gia non trẻ hoặc đã thành lập khỏi sự cạnh tranh quốc tế, và thúc đẩy sự phát triển của các thế độc quyền nhóm truyền thông quốc gia, đầu tiên là ở trong nước, sau đó là ở nước ngoài.
Các học giả về truyền thông toàn cầu lập luận rằng các ví dụ đương đại về nội dung truyền thông "chảy ngược" (contraflows) di chuyển từ Nam Toàn cầu sang Bắc Toàn cầu không nhất thiết thách thức sự thống trị mang tính cấu trúc gắn liền với chủ nghĩa đế quốc truyền thông. Mặc dù các mạng lưới như RT, Zee TV và các đài truyền hình khu vực khác thường được coi là những sự thay thế phản bá quyền đối với truyền thông phương Tây, nghiên cứu cho thấy rằng nhiều trong số các cơ quan truyền thông này vẫn phụ thuộc về mặt kinh tế và công nghệ vào các tập đoàn truyền thông xuyên quốc gia phương Tây. Các hoạt động của họ thường phụ thuộc vào chuyên môn quản lý, thị trường quảng cáo và cơ sở hạ tầng phân phối của phương Tây, và phạm vi tiếp cận toàn cầu của họ thường giới hạn trong các cộng đồng hải ngoại. Do đó, những luồng chảy ngược này có xu hướng hoạt động ít giống như những sự phản đối thực sự đối với sức mạnh truyền thông phương Tây mà giống như "các luồng bổ sung" tồn tại trong một hệ sinh thái lớn hơn của sự thống trị truyền thông do Hoa Kỳ và Châu Âu dẫn đầu. Các học giả lưu ý rằng trong khi toàn cầu hóa đã làm tăng khả năng hiển thị của các sản phẩm văn hóa phi phương Tây và tạo ra các không gian cho sự lai tạp, các tổ chức truyền thông phương Tây vẫn tiếp tục thiết lập chương trình nghị sự văn hóa quốc tế, củng cố các giả định cốt lõi của chủ nghĩa đế quốc truyền thông.
Hoa Kỳ
Hầu hết các nghiên cứu về chủ nghĩa đế quốc truyền thông có từ những năm 1970 đã tập trung vào tầm quan trọng của Hoa Kỳ và gọi nước này là quốc gia theo chủ nghĩa đế quốc truyền thông lớn nhất thế giới.[2] Ví dụ, các tập đoàn truyền thông có trụ sở tại Hoa Kỳ gây ảnh hưởng truyền thông ở các quốc gia khác, đặc biệt là những quốc gia thiếu các ngành công nghiệp truyền thông hùng mạnh.[1] Một yếu tố có ảnh hưởng văn hóa lớn ở các quốc gia khác là truyền hình.[47] Cụ thể liên quan đến tin tức và giải trí, truyền hình Mỹ có sự hiện diện mạnh mẽ trên trường quốc tế. Các mạng lưới tin tức của Mỹ như CNN thường có đội ngũ nhân viên quốc tế đông đảo, và sản xuất các chương trình khu vực chuyên biệt cho nhiều quốc gia.
Những bộ phim do các hãng phim và nhà phân phối lớn của Hollywood sản xuất có sự hiện diện và mức độ phổ biến trên toàn thế giới, chẵng hạn, Hollywood là một nhà sản xuất phim lớn, thường có chất lượng cao và được phát hành trên toàn quốc tế.[48] Hollywood dựa vào bốn chiến lược tư bản chủ nghĩa "để thu hút và hội nhập các nhà sản xuất phim, các nhà triển lãm và khán giả ngoài Hoa Kỳ vào phạm vi của mình: quyền sở hữu, hợp tác sản xuất xuyên biên giới với các nhà cung cấp dịch vụ cấp dưới, các thỏa thuận cấp phép nội dung với các nhà triển lãm, và các bộ phim bom tấn được thiết kế để chu du toàn cầu".[49] Sự thống trị của Hollywood không phải là hoàn toàn, vì các quốc gia khác cũng có ngành công nghiệp điện ảnh của riêng họ: Ví dụ, "Bollywood" mô tả ngành công nghiệp điện ảnh tiếng Hindi của Ấn Độ, rất lớn và thịnh vượng.[48] Một hình thức truyền thông đại chúng khác được sử dụng cho chủ nghĩa đế quốc truyền thông là âm nhạc.[48] Phần lớn âm nhạc của Mỹ ngày nay, và cả trước đây, đều thấy mình phổ biến ở các quốc gia khác. Tuy nhiên, trong "Cuộc xâm lăng của nước Anh" vào những năm 1960, âm nhạc của Anh đã trở nên phổ biến ở Hoa Kỳ. Kể từ đó, đã không có một sự chuyển dịch lớn như vậy của chủ nghĩa đế quốc.
Nhìn chung, chủ nghĩa đế quốc truyền thông Mỹ có thể được xem như là một điều tích cực và cũng là một điều tiêu cực. Những quan điểm tiêu cực về nó bắt nguồn từ hàm ý tiêu cực của từ chủ nghĩa đế quốc.[4] Từ này gắn liền với chủ nghĩa đế quốc chính trị, trong đó một quốc gia lớn tạo ra một đế chế từ những quốc gia nhỏ hơn. Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc truyền thông có thể được coi là một điều tích cực khi nó được xem như một cách để tạo ra một câu chuyện kể mang tính đồng thuận (Consensus narrative). Một câu chuyện kể mang tính đồng thuận là kết quả của "những sản phẩm mang đến cho chúng ta những trải nghiệm được chia sẻ.[48] Bằng cách có những trải nghiệm tương tự nhau, nó mở ra cánh cổng cho việc giao tiếp và phát triển các mối quan hệ. Tuy nhiên, điều này cũng có thể trở thành một vấn đề khi sự trao đổi văn hóa không cân bằng hoặc không có đi có lại. Văn hóa Mỹ đang được truyền tải sang các quốc gia khác, nhưng các nền văn hóa khác có thể không được tiếp nhận trở lại.[50]
Thực dân số
Chủ nghĩa đế quốc kỹ thuật số (Digital imperialism), đôi khi được gọi là Chủ nghĩa thực dân kỹ thuật số (Digital colonialism), xảy ra khi các quốc gia hùng mạnh hoặc các công ty công nghệ lớn, chẳng hạn như ở Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc, kiểm soát một hệ thống kỹ thuật số quy mô lớn, chẳng hạn như các nền tảng mạng xã hội, cơ sở hạ tầng internet, dịch vụ đám mây, công cụ AI. Trong khi "chủ nghĩa đế quốc kỹ thuật số" nhấn mạnh ảnh hưởng và phạm vi tiếp cận toàn cầu của họ, thì thuật ngữ "chủ nghĩa thực dân kỹ thuật số" lại nhấn mạnh cách sự kiểm soát này có thể tạo ra sự phụ thuộc, trích xuất dữ liệu và hạn chế khả năng của một quốc gia nhỏ hơn trong việc phát triển hệ thống kỹ thuật số của riêng họ, tương tự như các mô hình lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Điều này thường buộc các nước nhỏ hơn chỉ có thể dựa vào các nền tảng và dịch vụ của nước ngoài thay vì tạo ra các nền tảng và dịch vụ của riêng họ, điều này tạo ra động lực quyền lực không đồng đều và làm giảm sự độc lập về kỹ thuật số của họ.[11] Các học giả có thể tranh luận xem thuật ngữ nào là chính xác nhất vì một số người thích "chủ nghĩa đế quốc kỹ thuật số" để nhấn mạnh sự ảnh hưởng về kinh tế và văn hóa, trong khi những người khác thích "chủ nghĩa thực dân kỹ thuật số" để tập trung vào sự kiểm soát mang tính cấu trúc hơn, sự giám sát và sự trích xuất các nguồn tài nguyên kỹ thuật số[1]. Nhìn chung, những động lực này có thể định hình nội dung văn hóa, bóp nghẹt tiếng nói địa phương và củng cố sự bất bình đẳng toàn cầu bằng cách cho phép một số tác nhân thống trị nắm quyền thiết lập các quy tắc của thế giới kỹ thuật số mới mẻ này.[44]
Xem thêm
- Chủ nghĩa đế quốc Mỹ
- Chủ nghĩa đế quốc văn hóa
- Chủ nghĩa thực dân số
- Chủ nghĩa đế quốc học thuật
- Quyền lực mềm
- Sự tập trung quyền sở hữu truyền thông
- Sự đồng thuận sản xuất (Manufacturing Consent)
- Đồng nhất hóa phát thanh (Radio homogenization)
- NWICO
- Gleichschaltung (Sự đồng bộ hóa)
Chú thích
- 1 2 3 4 5 Mirrlees, Tanner (ngày 14 tháng 5 năm 2019). "Mass Media and Imperialism". The Palgrave Encyclopedia of Imperialism and Anti-Imperialism. tr. 1–17. doi:10.1007/978-3-319-91206-6_122-1. ISBN 978-3-319-91206-6. S2CID 239083505. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2022.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua|website=(trợ giúp) - 1 2 3 4 5 Boyd-Barrett, Oliver; Mirrlees, Tanner (2020). Media Imperialism: Continuity and Change (ấn bản thứ 1). New York: Rowman & Littlefield. tr. 2. ISBN 978-1-5381-2155-9.
- ↑ Gómez García, Rodrigo; Birkinbine, Ben (ngày 27 tháng 6 năm 2018), "Cultural Imperialism Theories", Communication (bằng tiếng Anh), Oxford University Press, doi:10.1093/obo/9780199756841-0209, ISBN 978-0-19-975684-1, truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2022
- 1 2 Oliver, Boyd-Barrett (ngày 19 tháng 12 năm 2014). Media imperialism. London. ISBN 9781446268704. OCLC 899205069.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - 1 2 Boyd-Barrett, Oliver (1977). Media imperialism: Towards an international framework for the analysis of media systems. London: Edward Arnold. ISBN 978-0-7131-5939-4.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua|work=(trợ giúp) - ↑ Beltrán, Luis Ramiro (1980). Comunicación dominada : Estados Unidos en los medios de América Latina. Elizabeth Fox . México, D.F.: Instituto Latinoamericano de Estudios Transnacionales. ISBN 968-429-209-0. OCLC 7666987.
- ↑ Dorfman, Ariel (1975). How to read Donald Duck : imperialist ideology in the Disney comic. Armand Mattelart. New York: International General. ISBN 0-88477-003-6. OCLC 1948361.
- ↑ Guback, Thomas H. (1982). Transnational communication and cultural industries. Tapio Varis, José G. Cantor. Paris, France: UNESCO. ISBN 92-3-101882-5. OCLC 9429113.
- ↑ Hamelink, Cees J. (1983). Cultural autonomy in global communications : planning national information policy. New York: Longman. ISBN 0-582-28358-2. OCLC 8284005.
- ↑ Jin, Dal Yong (2007). "Reinterpretation of cultural imperialism: emerging domestic market vs continuing US dominance". Media, Culture & Society. Quyển 29 số 5. tr. 753–771. doi:10.1177/0163443707080535. S2CID 220923787.
- 1 2 Jin, Dal Yong (2015). Digital Platforms, Imperialism and Political Culture (ấn bản thứ 1). New York: Routledge. ISBN 978-1-138-09753-7.
- ↑ Mattelart, Armand. (1976). "Cultural imperialism in the multinationals' age". Instant Research on Peace and Violence. Quyển 6 số 4. tr. 160–174. JSTOR 40724813.
- ↑ Mattelart, Armand (1979). Multinational corporations and the control of culture: The ideological apparatuses of imperialism (ấn bản thứ 1). Brighton: Harvester.
- ↑ McChesney, Robert (2001). Global Media: The New Missionaries of Global Capitalism (ấn bản thứ 1). London: Bloomsbury. ISBN 978-0-8264-5819-3.
- ↑ McPhail, Thomas (2008). "eColonialism Theory: Hegemony and the Role of American Media". The Global Studies Journal. Quyển 1 số 2. tr. 45–54. doi:10.18848/1835-4432/CGP/v01i02/40822. ISSN 1835-4432.
- ↑ Global Hollywood 2. Toby Miller. London: BFI Publishing. 2005. ISBN 1-84457-039-8. OCLC 60319186.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) - ↑ Mirrlees, Tanner (2013). Global Entertainment Media: Between Cultural Imperialism and Cultural Globalization (ấn bản thứ 1). New York: Routledge. ISBN 9780415519823.
- ↑ Mirrlees, Tanner (2016). Hearts and Mines: The US Empire's Culture Industry (ấn bản thứ 1). Vancouver: University of British Columbia Press. ISBN 9780774830157.
- ↑ Media and cultural theory. James Curran, David Morley. London: Routledge. 2006. ISBN 978-0-203-50961-6. OCLC 191796922.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) - 1 2 Murdock, Graham (ngày 1 tháng 7 năm 2006). "Notes from the Number One Country". International Journal of Cultural Policy. Quyển 12 số 2. tr. 209–227. doi:10.1080/10286630600813727. ISSN 1028-6632. S2CID 142100032.
- ↑ Nordenstreng, Kaarle (1974). Television traffic--a one-way street? A survey and analysis of the international flow of television programme material. Tapio Varis. [Paris]: Unesco. ISBN 92-3-101135-9. OCLC 980651.
- ↑ Schiller, Herbert I. (1971). Mass communications and American empire. Boston [Mass.]: Beacon Books. ISBN 0-8070-6175-1. OCLC 152575045.
- ↑ Schiller, Herbert I. (1976). Communication and cultural domination. White Plains, N.Y.: International Arts and Sciences Press. ISBN 0-87332-079-4. OCLC 2615596.
- ↑ Schiller, Herbert I. (1992). Mass communications and American empire (ấn bản thứ 2). Boulder: Westview Press. ISBN 0-8133-1439-9. OCLC 25874095.
- ↑ Schiller, Herbert I. (2000). Living in the number one country : reflections from a critic of American empire (ấn bản thứ 1). New York: Seven Stories Press. ISBN 1-58322-028-3. OCLC 43311688.
- ↑ Smythe, Dallas Walker (1981). Dependency road : communications, capitalism, consciousness, and Canada. Norwood, N.J.: Ablex Pub. Corp. ISBN 0-89391-088-0. OCLC 8176628.
- ↑ Sparks, Colin (2007). Globalization, Development and the Mass Media. London. ISBN 978-1-4462-2889-0. OCLC 1062284137.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Sparks, Colin (2012). "Media and cultural imperialism reconsidered". Chinese Journal of Communication. Quyển 5 số 3. tr. 281–299. doi:10.1080/17544750.2012.701417. S2CID 144259442.
- ↑ Electronic empires : global media and local resistance. Daya Kishan Thussu. London: Arnold. 1998. ISBN 0-340-71895-1. OCLC 39116555.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) - ↑ Thussu, Daya Kishan (2019). International communication : continuity and change (ấn bản thứ 3). London. ISBN 978-1-78093-265-1. OCLC 1056202306.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Tunstall, Jeremy (1977). The media are American : Anglo-American media in the world. London: Constable. ISBN 0-09-460260-3. OCLC 3143511.
- ↑ Tunstall, Jeremy (2008). The media were American : U.S. mass media in decline. New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-518146-3. OCLC 77520509.
- ↑ Mirrlees, Tanner (2006). "American Soft Power or American Cultural Imperialism". The New Imperialists: Ideologists of Empire.
- ↑ Maxwell, Richard (2003). Herbert Schiller. Lanham, Md.: Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-1847-7. OCLC 52134906.
- ↑ Mosco, Vincent (ngày 21 tháng 6 năm 2010), "Schiller, Herbert I.", trong Donsbach, Wolfgang (biên tập), The International Encyclopedia of Communication (bằng tiếng Anh), Chichester, UK: John Wiley & Sons, Ltd, tr. wbiecs131, doi:10.1002/9781405186407.wbiecs131, ISBN 978-1-4051-8640-7, truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2022
- ↑ Mirrlees, Tanner (ngày 14 tháng 1 năm 2016). "U.S. Empire and Communications Today: Revisiting Herbert I. Schiller". The Political Economy of Communication (bằng tiếng Anh). Quyển 3 số 2. ISSN 2357-1705.
- ↑ Boyd-Barrett, Oliver (1977). "Media imperialism: towards an international framework for the analysis of media systems". Mass Communication and Society: 116–135.
- ↑ Boyd-Barrett, Oliver (2015). Media imperialism. London. ISBN 978-1-4462-6870-4. OCLC 899205069.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Communications media, globalization and empire. Oliver Boyd-Barrett. New Barnet, Herts, United Kingdom. 2016. ISBN 978-0-86196-914-2. OCLC 646848271.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết) Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ McPhail, Thomas L. (1987). Electronic colonialism : the future of international broadcasting and communication (ấn bản thứ 2). Newbury Park, Calif. ISBN 0-8039-2731-2. OCLC 13395900.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ McPhail, Thomas L. (2020). Global communication : theories, stakeholders and trends. Steven Phipps . Hoboken, NJ. ISBN 978-1-119-52225-6. OCLC 1105748693.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Mirrlees, Tanner (2016). Hearts and mines : the US empire's culture industry. Vancouver. ISBN 978-0-7748-3014-0. OCLC 907657359.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Jin, Dal Yong (2020). Facebook's Platform Imperialism: The Economics and Geopolitics of Social Media. New York: Rowman & Littlefield. tr. 187–198. ISBN 978-1538121559.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua|work=(trợ giúp) - 1 2 Jin, Dal Yong (2015). Digital platforms, imperialism and political culture. New York, NY. ISBN 978-1-317-50905-9. OCLC 905600017.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Tomlinson, John (2002). Cultural imperialism : a critical introduction. London: Continuum. ISBN 0-86187-746-2. OCLC 55717344.
- ↑ Mirrlees, Tanner (2013). Global entertainment media : between cultural imperialism and cultural globalization. New York: Routledge. ISBN 978-0-415-51981-6. OCLC 756593675.
- ↑ Osama, El-Sherif (ngày 20 tháng 8 năm 2001). "Media imperialism in the global era". Middle East News Online. ProQuest 203075150.
- 1 2 3 4 Campbell, Richard (ngày 13 tháng 11 năm 2015). Media essentials : a brief introduction. Martin, Christopher R.,, Fabos, Bettina,, Harmsen, Shawn. Boston. ISBN 9781457693762. OCLC 914290275.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Mirrlees, Tanner (2018). "Global Hollywood: An Entertainment Imperium, by Integration". Cineaction. Quyển 100 số 1.
- ↑ Badham, Van (ngày 17 tháng 4 năm 2025). "America used to fire the world's imagination – but now the cultural conversation is being silenced". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2025.
- Chủ nghĩa đế quốc
- Truyền thông
- Truyền thông phương Tây
- Vấn đề truyền thông đại chúng
- Truyền thông học